BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI --- ðOÀN ðỨC HOÀNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG QUẢ GIỐN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
ðOÀN ðỨC HOÀNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT
LƯỢNG QUẢ GIỐNG NHÃN HƯƠNG CHI
TRỒNG TẠI GIA LÂM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè ñồng nghiệp và gia ñình
Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS ðoàn Văn Lư người ñã tận tình hướng dẫn và ñóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Rau - Hoa - Quả Khoa Nông học và Viện ñào tạo sau ðại học - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện ñề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các ñồng nghiệp, bạn bè và người thân
ñã luôn ñộng viên và tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Trang 4
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam 5
2.3 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.4 Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển và yêu cầu
2.5 Những nghiên cứu nhằm thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát
triển, ra hoa, ñậu quả và tăng năng suất nhãn 21
4.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa kết hợp phun KClO3 ñến sinh
Trang 54.1.1 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa kết hợp phun KClO3 ñến khả năng
4.1.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa kết hợp phun KClO3 ñến khả năng
sinh trưởng phát triển, chất lượng các ñợt lộc của nhãn Hương Chi 42
4.1.3 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa kết hợp phun KClO3 ñến kích thước
và diện tích lá kép lông chim nhãn Hương Chi 45
4.1.4 Ảnh hưởng biện pháp cắt tỉa ñến sinh trưởng phát triển của nhãn
4.1.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý KClO3 ở các CT cắt tỉa ñến khả năng
4.2 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp với phun KClO3 ñến sinh
trưởng phát triển và năng suất, chất lượng quả nhãn Hương Chi 49
4.2.1 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
thời gian và khả năng ra hoa của nhãn Hương Chi 49
4.2.2 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KCLO3 ñến
4.2.3 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
4.2.4 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
4.2.5 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
4.2.6 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất nhãn Hương Chi 57
4.2.7 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
4.2.8 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp việc phun KClO3 ñến
Trang 64.2.9 Hiệu quả kinh tế của biện pháp kỹ thuật khoanh cành kết hợp việc
4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến sinh
trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng nhãn Hương Chi 63
4.3.1 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến sự phát sinh
4.3.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến kích thước
4.3.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến khả năng
4.3.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến một số chỉ
tiêu về thành phần cơ giới quả nhãn Hương Chi 70
4.3.5 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến năng suất
4.3.6 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến chất lượng
4.3.7 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm sử dụng các mức
phân bón ñạm và kaliclorua khác nhau nhãn Hương Chi 76
4.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, năng
4.4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến kích thước chùm hoa nhãn Hương
4.4.3 Ảnh hưởng phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
Trang 74.4.4 Ảnh hưởng của phân bón lá ựến các chỉ tiêu ựánh giá chất lượng quả
4.5 đánh giá thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) phòng trừ bệnh sương
4.5.1 Ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật ựến khả năng phát sinh,
4.5.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV ựến khả năng ựậu quả của nhãn Hương
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới 6
2.2 Diện tích, sản lượng nhãn của một số ñịa phương một số năm
2.3 Diện tích và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước qua
4.1 Ảnh hưởng công thức cắt tỉa ñến ñợt lộc ở nhãn Hương Chi 41
4.2 Ảnh hưởng biện pháp cắt tỉa ñến các chỉ tiêu sinh trưởng của lộc
4.3 Ảnh hưởng biện háp cắt tỉa ñến kích thước và hệ số diện tích của
4.4 Một số ñặc ñiểm về sinh trưởng, phát triển của giống nhãn
Hương Chi sau cắt tỉa tạo tán kết hợp phun KClO3 474.5 Ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý KClO3 ở các CT cắt tỉa ñến khả
4.6 Ảnh hưởng khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến khả năng ra
4.7 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
các chỉ tiêu về kích thước chùm hoa của nhãn Hương Chi 51
4.8 Ảnh hưởng của khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến các chỉ
4.9 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
4.10 ðộng thái tăng trưởng quả từ sau khi tắt hoa của nhãn Hương Chi
Trang 104.11 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của nhãn Hương Chi 58
4.12 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
4.13 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
4.14 Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật khoanh
cành các thời ñiểm khác nhau kết hợp phun KClO3 nhãn Hương Chi 62
4.15 Ảnh hưởng của bón phân ñến chỉ tiêu về lộc nhãn Hương Chi 64
4.16 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến kích
4.17 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến khả
4.18 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến một số
chỉ tiêu về thành phần cơ giới quả nhãn Hương Chi 71
4.19 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến năng
4.20 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến chất
4.21 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm sử dụng các mức
4.22 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến kích thước chùm hoa nhãn
4.23 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ ñậu quả và khả năng giữ
4.24 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến thành phần cơ giới quả nhãn
Trang 114.25 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến ñộng thái tăng trưởng của quả
4.26 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến các yếu tố cấu thành năng suất
4.27 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến chất lượng quả nhãn Hương Chi 85
4.28 Ảnh hưởng của một số thuốc BVTV ñến khả năng phát sinh, phát
4.29 Ảnh hưởng của thuốc BVTV ñến ra hoa, khả năng ñậu quả nhãn
Trang 12DANH MỤC HÌNH
4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
4.2 Ảnh hưởng biện pháp khoanh cành kết hợp phun KClO3 ñến
4.3a Ảnh hưởng của các mức phân bón ñạm ñến khả năng giữ quả
4.3b Ảnh hưởng của các mức phân bón kaliclorua ñến khả năng giữ
4.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón (ñạm, kaliclorua) ñến năng
4.5 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến tỷ lệ ñậu quả và khả năng giữ
4.6 Ảnh hưởng của phân bón lá ñến năng suất nhãn Hương Chi 84
4.7 Ảnh hưởng của thuốc BVTV ñến năng suất nhãn Hương Chi 90
Trang 131 MỞ đẦU
1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Cây nhãn (Dimocapus longan Lour.) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) là
cây ăn quả thân gỗ, ựược trồng ở nước ta cũng như các nước trong khu vực Cây nhãn là cây có giá trị kinh tế cao ựã và ựang ựược phát triển ở hầu hết các tỉnh từ bắc vào nam Cây nhãn góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh
tế nông nghiệp nông thôn, ựặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi Quả nhãn ựược xếp vào loại quả ngon và có nhiều thành phần dinh dưỡng như protein, chất béo, chất khoáng và các vitamin So với các loại quả khác thì hàm lượng các chất khoáng như phốt pho, kali và vitamin C rất cao Theo phân tắch 100g cùi nhãn hàm lượng vitamin C: 84.0 mg, kali: 266.0 mg, phốt pho: 21.0 mg, magiê: 10.0 mg, sắt: 10.0 mg, canxi: 1.0 mg, protein: 1.3 g và chất béo 0.1 g [28] [33], [44]
Ngoài việc sử dụng ựể ăn tươi, chế biến ựồ hộp, sấy khô làm long, nhãn còn là một vị thuốc quý, ựược sử dụng trong các bài thuốc ựông y cổ truyền như nhãn sấy khô làm thuốc bổ, thuốc an thần ựiều trị chứng suy nhược thần kinh, sút kém trắ nhớ, mất ngủ, hay hoảng hốt Hạt nhãn, vỏ quả nhãn ựều dùng làm thuốc trong ựông y Cây nhãn còn là cây xanh, cây bóng mát, cung cấp cấp nguồn mật quan trọng có chất lượng cao cho nghề nuôi ong phát triển [28], [33], [53], [44]
Cây nhãn cùng họ với cây vải và cây chôm chôm, là cây ăn quả nhiệt ựới và á nhiệt ựới có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc Do vậy cây nhãn ựược trồng nhiều ở Trung Quốc, đài Loan, Thái Lan và Việt Nam Năm
2001, Trung Quốc có diện tắch 444.400 ha, sản lượng 495.800 tấn Thái Lan, diện tắch 57.261 ha, sản lượng 186.800 tấn Việt Nam năm 2002 diện tắch 144.321 ha, sản lượng 647.583 tấn và đài Loan diện tắch 12.258 ha, sản
Trang 14lượng 110.925 tấn với năng suất trung bình 9353 kg/ha, bình quân cây 31 kg/cây Ngoài ra cây nhãn còn trồng ở một số nước như Philipin, Malaysia,
Ấn ðộ, Braxin, Israel, Australia, Trinidat, Mỹ… nhưng diện tích và sản lượng không ñáng kể [46], [54], [50]
Một trong những giống nhãn cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao là giống nhãn Hương Chi Giống nhãn này có nguồn gốc từ tỉnh Hưng Yên với
ưu ñiểm nổi bật là thời gian chín của quả chính vụ (vào khoảng cuối tháng 7 ñầu tháng 8 dương lịch hàng năm), phẩm chất quả tốt, khối lượng quả lớn ðây là giống ñang ñược Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận
và ñang khuyến khích nhân rộng
Cây nhãn cũng như hầu hết các cây trồng khác ñều cần cung cấp ñủ các yếu tố dinh dưỡng ñể sinh trưởng và phát triển
ðể ñảm bảo dinh dưỡng cho cây thì các biện pháp kỹ thuật sau thu hoạch ñược coi là những biện pháp kỹ thuật tác ñộng ñầu tiên trong chu kỳ(vòng) sinh trưởng của cây năm sau Tuy nhiên, vấn ñề ñặt ra với người trồng nhãn là trồng cơ cấu giống, cắt tỉa sau thu hoạch, dùng các chất ñiều tiết sinh trưởng, phát triển, cho nhãn ra hoa, ñậu quả không bị cách năm, bón với lượng bao nhiêu thì ñủ ñồng thời với các loại phân bón qua lá cung cấp chủ yếu các yếu tố vi lượng, thuốc trừ bệnh thì phun loại nào cho tốt, loại nào có thể tăng ñậu quả, hạn chế tối ña hiện tượng rụng quả ðể giúp người trồng nhãn giải quyết các khúc mắc trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng quả giống nhãn Hương Chi trồng tại Gia Lâm Hà Nội”
1.2 Mục ñích, yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
Từ kết quả nghiên cứu nhằm ñề xuất sử dụng một số biện pháp kỹ thuật như: phân bón, cắt tỉa sau thu hoạch thích hợp góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh cây nhãn vùng ðồng Bằng Sông Hồng
Trang 151.2.2 Yêu cầu
- Xác ñịnh ñược biện pháp cắt tỉa, thời ñiểm khoanh cành sau thu hoạch kết hợp với hóa chất KCLO3 ñể nhãn ra hoa, ñậu quả, tăng năng suất, chất lượng giống nhãn Hương Chi
- Xác ñịnh lượng phân bón (phân hữu cơ, ñạm, lân, kali), phân bón lá
và thuốc bảo vệ thực vật thích hợp ñể cây nhãn sinh trưởng khoẻ, ra hoa ñậu quả cho năng suất chất lượng cao
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- ðề tài có ý nghĩa trong việc xác ñịnh một số yếu tố tác ñộng sau thu hoạch ảnh hưởng ñến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây nhãn, quả nhãn Dựa trên cơ sở này xác ñịnh một số biện pháp kỹ thuật ñể ñiều chỉnh sự sinh trưởng phát triển của cây nhãn, quả nhãn theo hướng có lợi nhất cho người trồng nhãn
- Kết quả của ñề tài sẽ là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo,
bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu cây ăn quả nói chung và cây nhãn giống Hương Chi nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ góp phần bổ sung vào việc xây dựng hoàn thiện quy trình thâm canh cây nhãn ở miền Bắc nước ta nói chung và cây nhãn giống Hương Chi nói riêng
Trang 162 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc phân bố của cây nhãn
Theo nhiều nhà khoa học thì nhãn có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, ựời Hán Vũ đế cách ựây hơn 2000 năm, ựã có sách ghi chép về nhãn [23,1] Một số ý kiến cho rằng nguồn nhãn có từ Ấn độ, nơi trồng nhiều nhãn thuộc vùng tây Ghats có ựộ cao 1000m [48]
Nhãn ựược trồng ở nhiều nước trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan,
Ấn độ, Malaisia, Philippin, Việt Nam Ầ Cho ựến cuồi thế kỷ 19 nhãn mới ựược ựưa trồng ở châu Mỹ, Châu Phi, Châu đại Dương ở các vùng Nhiệt ựới và Á nhiệt ựới
Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều nhãn nhất trên thế giới, diện tắch nhãn của Trung Quốc ựến năm 1995 ước tắnh khoảng hơn 8 vạn ha, các ựịa phương trồng nhãn nhiều và tập trung là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng đông,
Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Hải Nam Trong ựó Phúc Kiến là nơi trồng nhãn nhiều và lâu ựời nhất, chiếm khoảng gần 50% diện tắch của cả nước Ở ựây còn tồn tại nhiều cây nhãn cổ thụ trên 100 năm tuổi, ựặc biệt có một số cây trên
380 năm tuổi Ở Quảng Tây, nhãn ựược trồng nhiều hai bên ựường từ Phúc Châu ựến Hạ Môn có chiều dài hơn 300 km, có nơi mở rộng ựến 30 Ờ 40km Ở Quảng đông, nhãn ựược trồng nhiều tập trung ở vùng Châu Giang [22]
Ở Thái Lan, giống nhãn ựược nhập từ Trung Quốc và ựược trồng với diện tắch tương ựối lớn với khoảng 31.855 ha [33] nhãn ựược trồng chủ yếu ở các tỉnh phắa Bắc, đông Bắc và vùng ựồng bằng miền Trung, nổi tiếng nhất là
ở các vùng như: Chiềng Mai, Lam Phun, Prae Nhãn Thái Lan chủ yếu ựược tiêu thụ trong nước, ngoài ra còn xuất khẩu sang thị trường Malaisia, Philippin, Xingapo, Hồng Kông và các nước Tây Âu [29,44]
Trang 17Ở Việt Nam, nhãn ựược trồng từ bao giờ chưa ựược nghiên cứu, xác ựịnh mặc dù cây nhãn ựã có mặt rộng rãi ở khắp mọi miền trên ựất nước Leenhouto ( trắch theo Vũ Công Hậu, 1996 ) [12] cho rằng, Kilimantan (Indonesia ) cũng là một trong cái nôi của cây nhãn Tác giả cuốn sách này
ựã gặp cây nhãn dại ở vùng ven biển gần Cà Ná cách Phan Rang khoảng
30 km về phắa Nam Vũ Công Hậu (1996) [12], cũng cho rằng miền Bắc của nước ta có thể là một trong những vùng quê hương của cây nhãn Cây nhãn ựược trồng lâu nhất ở chùa Phố Hiến thuộc xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên (Cách ựây khoảng 300năm) [12],[32]
Hiện nay nhãn ựược trồng nhiều ở các tỉnh ựồng bằng Bắc Bộ: Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang Nhãn còn ựược trồng ở vùng ựất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô, sông Mã, sông tiền, sông Hậu và các tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, Vĩnh PhúcẦ.và lẻ tẻ ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên
Trong những năm gần ựây do nhu cầu quả tươi tại chỗ, cây nhãn ựược phát triển mạnh ở các tỉnh phắa nam: cao Lãnh (đồng Tháp), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), cù lao An Bình, đồng Phú (Vĩnh Long)Ầđặc biệt là các tỉnh Vĩnh Long, Bến TreẦdiện tắch trồng nhãn tăng rất nhanh.[33]
2.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên thế giới
Trên thế giới, Trung Quốc là nước có diện tắch và sản lượng lớn nhất.năm
1995 ước tắnh khoảng hơn 8 vạn ha Vùng trồng nhãn chủ lực là các tỉnh Phúc Kiến, Quảng đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, và cũng là thị trường tiêu thụ nhãn lớn nhất thế giới Năm 2001, diện tắch trồng nhãn ở Trung Quốc ựạt khoảng 444.400
ha, sản lượng ựạt khoảng 495.800 tấn [33]
Tại đài Loan, năm 1998, diện tắch trồng nhãn chỉ ựạt khoảng 11,808
ha, sản lượng khoảng 53,385 tấn Năm 2002, diện tắch trồng tăng không
Trang 18ñáng kể 12,258 ha nhưng sản lượng tăng gấp ñôi 110,925 tấn Cây nhãn chiếm 5% tổng diện tích trồng cây ăn quả của cả nước ñứng sau cam quýt và xoài Sản lượng quả tươi phần lớn ñược tiêu thụ nội ñịa còn long nhãn xuất khẩu ñi Mỹ và Singapore với số lượng ít [46,42,44,50]
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng nhãn của một số nước trên thế giới
STT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
từ Thái Lan là Hồng Kông, Canada, Indonexia, Singapo, Anh, Pháp [42,44]
Ở Mỹ, nhãn ñược trồng tập trung ở phía nam Florida với các giống nhãn ñược ñưa từ Trung Quốc sang từ những năm 1940 Sản phẩm nhãn của Mỹ
Trang 19chủ yếu ựược bán ở thị trường ựịa phương [45]
Ở Australia, năm 1995 cây nhãn ựược trồng ước lượng khoảng 200 ha, năng suất khoảng 1000 tấn quả tươi, cho ựến năm 2000 ựã có khoảng 72.000 cây ựã ựược trồng mới Các giống trồng phổ biến ựược nhập từ Trung Quốc, đài Loan, Thái Lan như: Biew Khiew, Chompoo, Haew, Dang, Kay Sweeney, và Fuhko2[47]
Ở các nước: Campuchia, Lào, Mianma, Inựonexia, Malayxia, Ấn độ, Nam Phi nhãn ựược trồng với diện tắch nhỏ vì họ ưu tiên cho cây vải Giống nhãn trồng ở các nước này chủ yếu ựược nhập từ Thái Lan, Israel [44]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam
Ở nước ta, cây nhãn là một trong những loại cây ăn quả chủ ựạo và ựược nhiều ựịa phương quan tâm Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2005, cả nước có trên 60 tỉnh trồng nhãn với diện tắch cả nước ựạt 120.300 ha và sản lượng ựạt 628.800 tấn Trong ựó, miền Bắc chiếm 46.700 ha, sản lượng ựạt 135.500 tấn (chiếm 38,8% về diện tắch và 21,5% về sản lượng), miền Nam là 73.700 ha với sản lượng ựạt 439.300 tấn (chiếm 62,2% về diện tắch và 78,5%
về sản lượng) So với năm 2000, diện tắch tăng là 50.457 ha và sản lượng tăng 375.490 tấn Trong những năm gần ựây, diện tắch và sản lượng cảu nhãn có
xu hướng tăng so với những năm 1996, 1997 (ựạt 6.200 ha và sản lượng ựạt 275.900 tấn) Năm 2007, diện tắch nhãn cả nước là 97,9 nghìn ha sản lượng ựạt
578 nghìn tấn riêng các tỉnh phắa Bắc là 44 nghìn ha (45% so với cả nước) nhưng sản lượng chỉ bằng 28,8% (166,5 nghìn tấn) do năng suất thấp: trong các năm từ 2004 Ờ 2007, năng suất nhãn bình quân tại các tỉnh phắa Bắc ựạt 3,5 Ờ 5,1 tấn/ha, thấp hơn bình quân chung cả nước (6,5 Ờ 7,0 tấn/ha)[29]
Một số tỉnh có diện tắch và sản lượng nhãn lớn trong vùng như: Sơn La diện tắch 13.500 ha (30,7%), sản lượng 39.400 tấn (23,7%); Hưng Yên diện tắch 2.800 ha, sản lượng ựạt 40.300 tấn; Hà Tây, Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên Ầ[2]
Trang 20Bảng 2.2 Diện tích, sản lượng nhãn của một số ñịa phương một số năm trước ñây
tích(ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích(ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích(ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 21Diện tắch trồng nhãn tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
và đông Nam Bộ Tắnh ựến năm 2005 diện tắch trồng nhãn của vùng đồng bằng sông Cửu Long ựạt (47.700 ha), sản lượng ựạt khoảng 413.000 tấn Trong ựó, 3 tỉnh có diện tắch lớn nhất là Vĩnh Long ( 10.700 ha), sản lượng ựạt 112.400 tấn; Tiền Giang (9.800 ha), sản lượng ựạt 104.300 tấn tại vùng đông Nam Bộ diện tắch trồng nhãn ựạt (24.800 ha), tập trung ở các tỉnh: bình Phước (7.600 ha), Tây Ninh (3.600 ha), đồng Nai (4.900 ha)[29]
Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2005, cả nước có trên 60 tỉnh trồng nhãn Diện tắch trồng nhãn giữa hai miền Nam Bắc chênh lệch nhau khá
rõ Năm 2004, tổng diện tắch trồng nhãn của cả nước là 121.096 ha, sản lượng khoảng 606.433 tấn Trong ựó, Miền Nam ựạt khoảng 76.914 ha và sản lượng khoảng 488.205 tấn, miền Bắc là 44.902 ha và sản lượng 118.228 tấn.[29]
đối với Việt Nam, trồng nhãn trước hết ựáp ứng nhu cầu qủa tươi trong nước Một số sản phẩm nhãn sấy khô ựược bán sang Trung Quốc bằng con ựường tiểu ngạch Vì vậy, vào các thời kỳ thu hoạch sản phẩm thường bị ứ ựọng, ựặc biệt là những năm ựược mùa Theo Sở Nông Nghiệp & phát triển Nông thôn tỉnh Hưng Yên các sản phẩm nhãn của Hưng Yên ựược tiêu thụ qua 3 con ựường chắnh:
ựồ hộp, ép nước Mặt khác, cần tìm ựược thị trường tiêu thụ mới và ổn ựịnh,
có như vậy mới kắch thắch ựược sản xuất phát triển [6, 27]
Diện tắch trồng nhãn của cả nước năm 2007, là 102.900 ha, sản lượng ựạt 653.300 tấn Diện tắch trồng nhãn của miền Bắc là 44.900 ha, sản lượng ựạt 170.700 tấn Trong ựó, Sơn La có diện tắch trồng nhãn khoảng 12.900 ha, sản
Trang 22lượng ựạt 37.700 tấn; Hưng Yên có diện tắch trồng khoảng 2.800 ha, sản lượng ựạt 36.600 tấn; Hà Nội có diện tắch trồng nhãn là 2.000 ha (bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ), sản lượng ựạt 2.700 tấn Năm 2008, diện tắch trồng nhãn của
cả nước ựạt 95.600ha, sản lượng ựạt 642.500 tấn Trong ựó, miền Bắc có diện tắch trồng nhãn ựạt 43.000 ha, sản lượng ựạt 176.800 tấn Diện tắch trồng nhãn của Hà Tây là 1.666 ha, trong ựó diện tắch nhãn muộn gần 50 ha (riêng xã đại Thành ựạt trên 20 ha) Huyện Khoái Châu hiện có hơn 200 ha nhãn, trong ựó nhãn chắn sớm chiếm khoảng 15% và nằm rải rác ở một số xã như: Hàm Tử, đông Kết, Bình Minh với tổng sản lượng ựạt từ 2 - 3 tấn/năm
Theo chủ một số trang trại trồng nhãn chắn muộn ở xã đại Thành, huyện Quốc Oai và xã An Thượng, huyện Hoài đức; Năm nay, nhãn muộn ở ngoại thành Hà Nội không ựược mùa do thời tiết, diễn biến thất thường, không ựúng với quy luật ngay từ ựầu năm nên sản lượng chỉ bằng khoảng 50% ựến 70% so với mùa nhãn muộn năm ngoái Tuy không ựược mùa về sản lượng nhưng chất lượng quả vẫn ựạt tiêu chuẩn về hình dáng, ựộ ngọt, ựộ giòn, nên quả nhãn muộn năm nay bán rất chạy và ựược giá Nhờ chất lượng quả thơm ngọt, cùi dày, giòn, màu sắc vỏ sáng ựẹp và cho thu hoạch muộn nên ựã trở thành một loại cây ựặc sản và mang lại giá trị kinh tế rất cao cho người dân (theo thông tin
trang Web:(http: // www.rauhoaquavietnam.vn/default.aspx? -[41a]
Theo Ông Nguyễn Văn Trắ - Giám ựốc Trung Tâm Khuyến nông Hà Tây cho biết hiện trong tổng số hơn 8.645 ha cây ăn quả ở Hà Tây, thì cây nhãn có diện tắch lớn nhất với 1.666 ha Vụ nhãn năm nay, xã đại Thành thu trên 50 tấn quả Do chất lượng thơm, ngon, quả to, lại thu hoạch muộn nên ựược tiêu thụ với giá thành cao đáp ứng yêu cầu sản xuất, Trung tâm Khuyến nông Hà Tây ựã sản xuất trên 9.000 cây giống nhãn chắn muộn cung cấp cho các hộ nông dân trong tỉnh và một số tỉnh phắa Bắc Hiện nay, diện tắch nhãn ựã trồng sinh trưởng
và phát triển tốt, ắt sâu bệnh Trung tâm tiếp tục sản xuất trên 10.000 cây giống nhãn muộn phục vụ nhu cầu mở rộng diện tắch giống nhãn này (Theo thông tin trang Web: (http: //WWWvst.vista.gov.vn/ dien /marticle_view -) [41b]
Trang 23Bảng 2.3 Diện tích và sản lượng nhãn của một số vùng trong cả nước qua các năm gần ñây
Vùng trồng
Diện tích (1000 ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Diện tích (1000 ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Diện tích (1000 ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Diện tích (1000 ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 24Nguồn: Số liệu thống kê Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản Việt Nam năm 2009[29]
Trang 25Ở miền Nam, nhãn ựược trồng tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đông Nam Bộ Năm 2007, diện tắch trồng nhãn của
cả vùng đồng bằng sông Cửu Long ựạt 41.500 ha, sản lượng ựạt khoảng 406.700 tấn Trong ựó, diện tắch trồng nhãn của Vĩnh Long là 9.900 ha, sản lượng ựạt khoảng 101.200 tấn; Tiền Giang có diện tắch trồng nhãn là 8.700
ha, sản lượng ựạt khoảng 107.200 tấn [29]
Hiện nay, bằng việc lựa chọn giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật ựể ựiều khiển thời gian ra hoa, ựậu quả ựã làm tăng năng suất, giảm rủi ro, kéo dài thời gian thu hoạch nhãn ựã ựem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân
2.3 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến trên thế giới
Hiện nay, cây nhãn ựược trồng ở rất nhiều nước trên thế giới với bộ giống phong phú và ựa dạng
Trung Quốc có khoảng 400 giống khác nhau và có 40 giống ựược trồng với mục ựắch thương mại trong ựó 14% là giống chắn sớm, 68% là giống chắnh
vụ, 18% là giống chắn muộn Thời gian thu hoạch của nhãn kéo dài từ cuối tháng 7 ựến cuối tháng 9 Các giống nổi tiếng như đại Ô Viên, Thạch Hiệp Trữ Lương, Ô Long Linh, đông Bắch, Quảng Nhân, Băng đường Nhục [29] Ngoài ra, Jin Song Huang và cộng sự ở Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Phúc Kiến 2000 cũng ựã theo dõi và ựánh giá một số dòng nhãn hạt lép trên
30 năm Các dòng nhãn có triển vọng là: Minjiao N02, Minjiao N03, N04, N05 Trong ựó dòng Minjiao N04 là dòng có triển vọng nhất là dòng có triển vọng nhất, vì có tỷ lệ hạt lép cao, quả to, chất lượng tốt và năng suất cao.[43,51,52]
đài Loan có hơn 40 giống nhãn và ựược phân chia thành 3 nhóm giống: chắn sớm, chắnh vụ và chắn muộn Những giống chủ yếu gồm: Giống nhãn trên vỏ có phấn, giống nhãn vỏ ựỏ, giống nhãn vỏ xanh, giống nhãn tháng 10
Trang 26Một số giống nhãn ñược dân Thái Lan thích trồng nhất: giống nhãn E Daw, Champoo, Haew, Biew-Kiew Các giống nhãn của Thái Lan cho thu hoạch vào tháng 6 ñến tháng 8.[33]
-Ở Mỹ các loại cây ăn quả thuộc họ bồ hòn ñược sản xuất chủ yếu ở Florida, hawaii, Puerto Rico and California Florida có khoảng 405 ha nhãn với các giống Blackball, Kona, Homestead N01, N02, Dagelmen, Choompook, Sweenay[44] Ở khu vực Hawaii có cả vải và nhãn khoảng 123
ha với các giống nhãn chủ yếu là Kohala, Biew, Chompoo, Egami, R3, R9, Florida có các giống: Fukho N02, Wai, Carambo, [47]
2.3.2 Các giống nhãn ñược trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam
Nhãn là cây chụi hạn, chịu ngập úng, trồng ñược trên ñất chua, ñất nghèo dinh dưỡng vùng gò ñồi và vùng ñồng bằng ñất thấp So với một số cây
ăn quả khác nhãn là cây dễ trồng, tuổi thọ lại dài, năng suất cao, thu nhập khá nên ñược nhiều ñịa phương quan tâm, một mặt mở rộng diện tích, mặt khác chú ý thâm canh[33]
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong ñó là việc sử dụng phương thức nhân giống bằng hạt, dưới tác ñộng của các yếu tố ngoạic cảnh, sự biến
dị ñã tạo nên quần thể các giống nhãn rất ña dạng về kiểu hình Kết quả ñiều tra về các giống nhãn ở hai miền ñất nước cho thấy: Giống nhãn ở miền Bắc khác xa so với giống nhãn ở miền Nam Giống nhãn ở miền Bắc thuộc loài phụ Dimocarpus Sub Sp.longan, giống nhãn ở miền Nam thuộc loài phụ Dimocarpus Sub Sp.longan var Obtutus [12] Có thể xếp các giống nhãn dựa vào một số ñặc ñiểm:
* Dựa vào ñặc ñiểm hình thái thực vật và phẩm chất quả có thể xếp các giống nhãn miền Bắc theo hai nhóm chủ yếu sau
- Nhóm nhãn cùi: Bao gồm các giống
Giống nhãn lồng: Quả nhãn lồng thường to hơn các giống khác Trọng lượng trung bình quả ñạt 11 – 12g/quả Tỷ lệ cùi/quả ñạt trung bình 62.7%
Trang 27Quả chín ăn giòn, ngọt ñậm
Giống nhãn bàm bàm: Quả to bằng quả nhãn lồng, trọng lượng trung bình ñạt 11 -13g/ quả Trôn quả hơi vẹo, vỏ quả gồ ghề, cùi dày, khô ít nước,
ăn có vị ngọt nhạt
Giống nhãn ñường phèn: Quả nhỏ hơn nhãn lồng Trọng lượng trung bình 7 -12g/quả Tỷ lệ cùi/quả 60% Cùi quả ăn thơm có vị sắc, chín muộn hơn nhãn cùi 10 -15 ngày
Giống nhãn cùi: Trọng lượng quả 7-11g/quả Trung bình ñạt 8,5g/quả
ðộ ngọt, thơm kém nhãn lồng Tỷ lệ cùi/ quả 58%
Giống nhãn cùi ñiếc: Trọng lượng trung bình quả 8,6g/quả trọng lượng trung bình của hạt 0,6g/quả Tỷ lệ cùi/quả ñạt 74,7% ðộ ngọt và hương thơm của quả ở mức trung gian giữa nhãn ñường phèn và nhãn cùi
Nhãn Hương Chi: Quả to trung bình 13 - 14g/quả, cùi giòn, sắc nước, hạt nhỏ, vỏ mỏng mã quả ñẹp, chùm quả có dạng chùm sung, sai quả
- Nhóm nhãn nước:
Giống nhãn nước: Quả bé, trọng lượng trung bình 6,15g/quả, hạt to, cùi mỏng và trong Tỷ lệ cùi/quả dạt 31% Hàm lượng ñường tổng số trong quả thấp (11,7%), trong khi ñó các giống thuộc nhóm nhãn cùi lớn hơn 16,3%
Giống nhãn thóc: Trọng lượng quả trung bình ñạt 5,3g/quả Tỷ lệ quả/cùi rất thấp chỉ ñạt 27,4% trọng lượng hạt/quả chiếm 55% [33]
• Dựa vào thời gian thu hoạch có thể chia nhãn thành 3 nhóm sau:
- Nhóm chín sớm: có thời gian thu hoạch từ 15/7 – 05/8
- Nhóm chính vụ: Có thời gian thu hoạch từ 05 -25/8
- Nhóm chín muộn: Có thời gian thu hoạch từ 25/8 – 15/9
Từ năm 1993 ñến nay, Viện Nghiên cứu Rau Quả phối hợp với các tổ chức và người làm vườn ñịa phương ñã tiến hành ñiều tra tuyển chọn giống, kết hợp với hội thi cây nhãn ñược tổ chức tại Sơn La và Hà Tây, ñã chọn ra ñược rất nhiều cây nhãn ñầu dòng có năng suất cao; ổn ñịnh; phẩm
Trang 28chất tốt tại Hưng Yên sau hơn 4 năm tuyển chọn ựược 14 giống nhãn thuộc 3 nhóm: nhóm chắn sớm, chắnh vụ, nhãn chắn muộn, có năng suất cao chất lượng tốt ựã ựược Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận cây ựầu dòng đây cũng là nguồn vật liệu khởi ựầu quý giá cho công tác chọn tạo giống trong tương lai [16,37,38,41,39] Năm 2005, ba giống nhãn PH-M99-1.1, PH-M99-1.2 và giống nhãn HTM-1 ựã ựược bộ nông nghiệp và PTNT công nhận giống tạm thời
Giống nhãn HTM Ờ 1 là giống có năng suất cao, ổn ựịnh và chất lượng rất tốt tương ựương như các giống nổi tiếng của Thái Lan, Trung Quốc và chắn muộn hơn một số dòng nhãn chắn muộn ựược tuyển chọn từ Hưng Yên, thời vụ thu hoạch của giống có thể kéo dài ựến 20/9 vẫn không ảnh hưởng tới chất lượng [11]
2.3.3 Các giống nhãn ựược trồng phổ biến ở các tỉnh Miền Nam Việt Nam
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng đông Nam Bộ, các giống nhãn ựược trồng phổ biến là: Nhãn Long, nhãn Tiêu Huế, nhãn Xuồng Cơm Vàng, nhãn tiêu Lá Bầu, nhãn Da Bò, nhãn Vĩnh Châu Các giống nhãn này
có nguồn gốc nhiệt ựới, có thể cho 2 vụ quả trong năm [39,42] Bộ giống nhãn
ở miền Nam tuy phong phú hơn ở miền Bắc nhưng cây thường bé hơn, quả ra sớm và nhiều vụ quả hơn
Giống nhãn Xuồng Cơm Vàng, nhãn Tiêu Da Bò và Tiêu Lá Bầu có nguồn gốc ở Bà Rịa Vũng Tàu và huyện chợ Lách - Bến Tre ựã ựược Viện cây ăn quả miền Nam tuyển chọn là hai giống có năng suất cao và chất lượng tốt Hai giống nhãn này ựược Bộ NN & PTNT công nhận và ựã ựược ựưa ra trồng phổ biến trong sản xuất [35,36]
Giống nhãn Tiêu da bò: Quả khi chắn có màu da bò sẫm hơn Trọng lượng quả trung bình 10g/quả Quả có cùi dày, hạt nhỏ, ráo nước Phần ăn ựược khoảng 60% trọng lượng quả Vỏ hạt không nứt độ ngọt vừa phải, ắt thơm, chủ yếu dùng ựể ăn tươi
Trang 29Giống nhãn Cơm vàng: Quả trên chùm to ñều, trọng lượng quả 16 - 25g, phần ăn ñược 60 – 70%, ñộ Brix 21 - 24 %, cùi dày, màu vàng ít nước nhưng ngọt thịt quả rất ráo giòn, ngọt, khá thơm, dùng ñể ăn tươi là chính
Giống nhãn Tiêu lá bầu: Trọng lượng quả trung bình 9 – 14g, vỏ quả khi còn non màu xanh, chín màu vàng da bò, thịt quả dày trung bình 5 – 6
mm, phần ăn ñược 60 -70%, vị rất ngọt ñộ Brix 23 – 26% Quả có cùi dày nhiều nước, ngọt thơm Chùm quả ñều, quả dùng ñể ăn tươi là chủ yếu
Giống nhãn Long: Trọng lượng trung bình 15g Vỏ quả màu vàng sáng hoặc màu vàng ngà, có ñường nứt ở vỏ Cùi quả mềm, mỏng, tỷ lệ cùi khoảng 50%, nhiều nước ăn ngọt và thơm, ít dùng ñể ăn tươi mà ñể sấy khô là chính
Giống nhãn giống Da bò: Quả chín có màu vàng da bò hoặc vàng sáng hay hồng Cùi dày dai, tỷ lệ cùi 65%, ít thơm Trọng lượng trung bình 16g hạt tương ñối to không nứt vỏ hạt Thích nghi với ñất xấu, ñất có ảnh hưởng mặn.[33]
2.4 Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển và yêu cầu
ngoại cảnh của cây nhãn
2.4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng, phát triển của cây nhãn
+ Thân, cành nhãn:
Mầm ngọn hay mầm nách của nhãn ñều có thể phát triển thành cành, việc hình thành thân cành của nhãn có những ñặc ñiểm khác với những cây ăn quả khác là khi cây ñã ngừng sinh trưởng, mầm ở ñỉnh ngọn ñược các lá kép non bao bọc, ñến khi gặp ñiều kiện thuận lợi thì các mầm ở ñỉnh lại kéo dài thêm Cành càng thành thục thì lớp vỏ càng cứng và thô, có màu nâu sẫm và trên vỏ có những ñường vân nứt [33]
Thông thường, nhãn có 4 ñợt lộc (cành) chính trong năm là: lộc xuân, lộc
hè, lộc thu, lộc ñông trong ñó cành thu là cành cho quả năm sau [13] Những năm vào ñầu mùa ñông có thời tiết ấm áp và ñủ ẩm thì lộc ñông rất dễ hình
Trang 30thành và phát triển Do cành ñông có thời gian mọc ngắn và trong thời gian mọc có nhiều yếu tố bất lợi nên cành thường yếu, khó có khả năng hình thành cành cho quả ở vụ xuân năm sau Dựa vào mùa vụ phát sinh các cành lộc, nắm ñược quy luật sinh trưởng của từng loại cành ñể ñiều khiển một cách hợp
lý trong quá trình chăm sóc cây là rất cần thiết [7]
+ Lá nhãn
Lá nhãn thuộc lá kép lông chim, lá ñơn mọc ñối xứng hay so le, thông thường nhãn có từ 3-5 ñôi lá, có giống từ 1-2 ñôi Lá nhãn hình lưỡi mác, mặt
lá xanh ñậm, lưng lá xanh nhạt, cuống lá ngắn, gân chính nổi rõ, lá non màu
ñỏ, tím hoặc nâu tùy thuộc vào giống và thay ñổi theo thời tiết Có thể căn cứ vào cấu tạo, hình thái của lá ñể phân biệt ñược các giống [3]
+ Hoa nhãn
Vào ñầu mùa xuân, chồi hoa nhú ra từ chồi ngọn cành, phân hoá thêm một bước rồi phát sinh chùm hoa Nhãn ra hoa và kết quả trong cùng một năm Quá trình phân hoá mầm hoa nhãn diễn ra trong thời gian từ ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3, ñây là thời kỳ phát triển chùm hoa [7]
Thời gian ra hoa của nhãn tuỳ thuộc vào vùng trồng, tuổi cây, giống, hình thức nhân giống và ñiều kiện ngoại cảnh, nhưng thông thường là vào khoảng ñầu tháng 2 ñến cuối tháng 3
Hoa nhãn xếp thành từng chùm mọc ở ngọn và nách lá Chùm hoa có 10 – 20 nhánh chính, mỗi nhánh chính lại có nhiều nhánh nhỏ, trên mỗi nhánh nhỏ thường có 3 hoa và thông thường trên mỗi chùm hoa có từ 2.000 ñến 3.000 hoa [31,33 ] Căn cứ vào hình thái chùm quả chia ra làm 3 dạng: “chùm sung”, “ chùm bị”, “ chùm dâu da”
- Chùm sung: dạng chùm quả gần giống với chùm quả sung, cuống chùm quả từ trục chính ñến quả thường ngắn và ñều
Trang 31- Chùm bị: Là dạng trung gian giữa chùm sung và chùm dâu da, cuống của các nhánh chùm quả không ñều nhau Chùm quả có dạng hình chóp hay hình cái bị
- Chùm dâu da: Cuống chùm quả từ trục chính ra thường dài có khi ñạt tới 50cm tạo cho chùm quả có ñộ uốn cong mền mại, quả trên chùm phân bố thoáng.[33]
Nhãn có các loại hoa: Hoa ñực, hoa cái là chủ yếu, ngoài ra còn có hoa lưỡng tính và hoa dị hình Trên cây, hoa ñực chiếm số lượng nhiều nhất, chiếm ñến 80%, nở nhiều lần và thời gian nở dài
+ Quá trình hình thành và phát triển quả
Kết quả ñiều tra nghiên cứu cho thấy, số nụ hoa có thể nở hoa ñạt 60 – 90%, số còn lại rụng Số hoa cái không ñậu ñược quả có tới trên 60%, chỉ còn khoảng 10 – 20% là ñậu thành quả Tỷ lệ ñậu quả là khá cao so với một số cây ăn quả khác như cam, chanh thường chỉ ñạt 1,9 – 3,0%, các loại quýt 3,5 – 4,7% thì nhãn là cây ăn quả có khả năng ñạt ñược sản lượng cao
Trên cây nhãn hoa ñực và hoa cái nở nhiều ñợt, nhưng hoa cái thường
nở tập trung vào một ñợt, thời gian lại ngắn nên trên một chùm quả ñộ lớn của quả tương ñối ñồng ñều Sau khi thụ tinh xong, quả bắt ñầu phát triển, tháng ñầu tiên tăng về chiều cao của quả nhanh hơn tăng về ñường kính Tiếp ñó là hạt phát triển, khoảng giữa tháng 6 cùi quả dần dần hình thành và phát triển nhanh từ cuối tháng 6 ñến ñầu tháng 7 Quả nhãn phát triển nhanh từ ñầu tháng 7 trở ñi Vì vậy, ở thời kỳ này việc cung cấp ñầy ñủ nước và dinh dưỡng hết sức quan trọng
Thời gian chín của nhãn phụ thuộc vào giống, ñịa ñiểm trồng, ñiều kiện khí hậu các tỉnh miền Bắc nhãn chín vào giữa tháng 7 ñến hết tháng 8 cá biệt
có giống nhãn chín muộn sang ñầu tháng 9[33]
Trang 322.4.2 Yêu cầu ñiều kiện ngoại cảnh của cây nhãn
Cũng như các cây trồng khác, một số yếu tố môi trường, ngoại cảnh chủ yếu có tác ñộng ñến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng của nhãn là: nhiệt ñộ, nước, ánh sáng, yếu tố ñất ñai và ảnh hưởng của gió, bão
+ Ảnh hưởng của nhiệt ñộ
Theo Phạm Văn Côn (2005), Trần Thế Tục (1998) [4,32] thì nhiệt ñộ có
ảnh hưởng rõ rệt ñến quá trình sinh trưởng, phát triển, ra hoa, ñậu quả và năng suất cây nhãn Những vùng có nhiệt ñộ bình quân năm từ 200C trở lên là thích hợp với cây nhãn và là vùng trồng nhãn có hiệu quả kinh tế Nhiệt ñộ tối thấp không ñược dưới 10C Theo Menzel và Simpson (1994), cây nhãn phải có một mùa ñông ngắn với nhiệt ñộ thấp từ 15 – 220C trong 8 – 10 tuần ñể kích thích
sự phân hóa mầm hoa Khi nhãn ra nụ, gặp năm có nhiệt ñộ cao, lá ở chùm hoa phát triển sẽ ảnh hưởng ñến sự ra hoa và ñậu quả của nhãn Khi hoa nhãn nở, yêu cầu nhiệt ñộ cao hơn từ 18 – 270C Nếu gặp nhiệt ñộ thấp, việc thụ tinh không thuận lợi dẫn ñến năng suất thấp Vào thời ñiểm thu hoạch quả, nhiệt ñộ không khí có tác dụng cải thiện chất lượng quả Tuy nhiên, nhiệt ñộ lớn hơn
400C gây rụng quả, nếu nhiệt ñộ nhỏ hơn 00C có thể làm cho nhãn bị chết, hoặc bị tổn thương rất nặng [5,12,33]
+ Ảnh hưởng của nước
Trong quá trình sinh trưởng phát triển cây nhãn rất cần nước, lượng mưa hàng năm cần thiết 1300 - 1600 mm Lúc cây ra hoa gặp thời tiết ấm, tạnh ráo có lợi cho thụ phấn thụ tinh, ñậu quả tốt và năng suất cao Nhãn thường cho năng suất cao nhất khi lượng mưa ñạt 1200 – 1400 mm và phân bố chủ yếu vào tháng
3 – 6 hàng năm Nhãn là cây ưa nước, nhưng ñồng thời là cây chịu hạn nhờ bộ
rễ, do vậy nhãn trồng ở vùng ñồi nếu chăm sóc tốt vẫn ñạt ñược năng suất cao Nhãn còn là cây chịu úng, nếu ngập nước 3 - 5 ngày vẫn chịu ñược, nhưng nếu
ñể ngập lâu, rễ bị thối, cây yếu dần và chết [6,12,30]
Trang 33+ Ảnh hưởng của ánh sáng
Nhãn cần ñầy ñủ ánh sáng và thoáng nhưng so với vải, nhãn thích râm hơn Nhãn không chịu ñược những nơi quá khô và ánh sáng gay gắt, nhất là thời kì cây con cần thiết phải làm mái che ñể hạn chế ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp lên cây nhãn Trong tạp chí Pacific garden, ông Barnhant ñã viết
“chúng tôi nghĩ rằng phải bảo vệ nhãn vì nó không chịu ñược ánh sáng gay gắt và khí hậu khô vào mùa hè của chúng ta, và cũng không chịu ñược giá rét của mùa ñông" [51]
+ Ảnh hưởng của ñất
Cây nhãn không kén chọn ñất lắm, người Trung Quốc cho rằng trồng cây nhãn trên ñất ñỏ nghèo dinh dưỡng, khô hạn và chua cũng sinh trưởng ñược ðất ñỏ sườn ñồi có tầng canh tác dầy, thoát nước nhanh, thoáng khí, ánh sáng dồi dào Nếu cải tạo ñất bón nhiều phân hữu cơ thì cây nhãn sinh trưởng rất tốt và cho thu hoạch cao Nhưng trồng nhãn ở sườn ñồi cần chú ý giữ ñất, giữ nước, chọn sườn phía ñông – nam, phía nam hoặc phía tây – nam
ñể làm vườn trồng nhãn là thích hợp, tránh ñược gió rét gây hại [28]
2.5 Những nghiên cứu nhằm thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát triển,
ra hoa, ñậu quả và tăng năng suất nhãn
Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng ñến năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế của cây nhãn trong ñó yếu tố kỹ thuật có vai trò cực kì quan trọng, tiếp ñến là các yếu tố về khí hậu, sinh thái Hiện nay, những nghiên cứu
về các biện pháp kỹ thuật, ứng dụng một số loại phân bón qua lá, chất ñiều tiết sinh trưởng ñể thúc ñẩy quá trình sinh trưởng, phát triển, tăng khả năng
ra hoa, ñậu quả của nhãn nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất và mang lại hiệu quả cao cho người trồng nhãn là những yêu cầu hết sức cần thiết
Hạn chế lớn của sản xuất nhãn hiện nay là năng suất thấp, sản lượng không ổn ñịnh, năm ñược mùa, năm mất mùa Một trong những nguyên nhân
Trang 34chắnh là nhãn ra hoa không ựều, năm có, năm không do nhãn là cây có hiện tượng ra quả cách năm ựiển hình, muốn nâng cao và ổn ựịnh năng suất nhãn, vấn ựề ựầu tiên là làm thế nào ựể nhãn ra hoa ựược và ra hoa ựồng ựều Vấn
ựề này ựã ựược các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo Vũ Mạnh Hải,
đỗ đình Ca và cộng sự khi xây dựng mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn tại vùng ựồng bằng sông Hồng ựã kết luận: các mô hình thâm canh một số giống nhãn chắn muộn với 4 nhóm yếu tố tác ựộng: xử lý ra hoa, kỹ thuật cắt tỉa, sử dụng chế phẩm phân bón lá và thuốc BVTV phòng trừ sâu bệnh hại ựã thể hiện ựược ưu thế vượt trội về khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế mang lại cho người trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng[40]
2.5.1 Nghiên cứu các hoá chất ựiều tiết quá trình ra hoa tạo quả ở nhãn
Theo nghiên cứu của Hoàng Cầm và cộng sự (2000-2003) ựiều khiển nhãn ra hoa tại Hưng Yên với các biện pháp như, khoanh, thắt thân cành, phun hoá chất qua lá và tưới gốc cho thấy: Phun KNO3 qua lá, tưới KNO3 qua gốc
có khả năng cho nhãn ra hoa ở mức ựộ cao, nồng ựộ xử lý từ 0,3-0,6 % ở thời gian xử lý trong các tháng có nhiệt ựộ trung bình (15-18 0 C) khoảng tháng 9 ựến tháng 12 Cũng theo nghiên cứu của Viện Rau quả khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng KClO3 ựến khả năng ra hoa ựậu quả của nhãn trên các cành có ựộ tuổi khác nhau cho thấy liều lượng thắch hợp nhất là 90g/cây và cành ở ựộ tuổi 50-60 ngày cho hiệu quả cao nhất [38]
Ở các tỉnh Miền Nam ựã sử dụng rộng rãi KClO3 xử lý cho nhãn tiêu da
bò ra trái vụ: Sau khi thu hoạch quả chăm bón cho cây chu ựáo, cây rẽ ra ựợt lộc, cành khoẻ Khi lá trên cành chuyển màu xanh ựậm tiến hành xử lý KCLO3 sau xử lý phải tưới ựẫm nước vào gốc liên tục trong 7 ngày [20]
Theo kinh nghiệm của ông Năm Y [20] cần kết hợp các biện pháp kỹ thuật với một số loại phân bón cũng như hoá chất ựể làm cho nhãn ra hoa
Trang 35ñồng loạt và năng cao ñược năng suất nhãn, hoá chất quan trọng nhất là KCLO3 ( Clorat kali) Bằng cách tỉa cành bấm ngọn kết hợp với phân bón lá, phân hoá học sau khi thu hoạch 10 ngày nhãn sẽ ra ñược hai ñợt lộc dài, to và khoẻ Khi lá chuyển sang màu ñậm tiến hành xử lý KClO3 bằng cách hoà ra nước rồi tưới xung quanh tán cây Sau khi xử lý phải tưới nước ñẫm gốc liên tục 7 ngày và sau 25 – 35 ngày cây sẽ nhú mầm hoa ñồng loạt tuỳ theo ñiều kiện thời tiết
Theo Wong, nồng ñộ xử lý KClO3 tuỳ thuộc vào các yếu tố: tán cây ñất ñai, nguồn nước, tình trạng của cây, giống nhãn [44]
Khi nghiên cứu áp dụng một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao và
ổn ñịnh năng suất nhãn Nguyễn Thị Bích Hồng [17] ñã kết luận:
- Về xử lý ra hoa ñối với những cây ra quả cách năm khoanh vỏ trước lập xuân 45 ngày có tác dụng tốt ñến hầu hết các chỉ tiêu như số hoa/chùm, tỷ
lệ hoa cái, số quả, năng suất Xử lý NaClO3 có tác dụng kích thích nhãn ra hoa trong ñiều kiện không thuận lợi và liều lượng 100g - 120g/cây (cây 6 năm tuổi) cho kết quả tốt nhất
- Xử lý KClO3 có tác dụng kích thích khả năng phân hoá hoa và có quan
hệ mật thiết ñến tuổi cành xử lý, trong ñó liều lượng thích hợp là 90g/cây (cây
5 năm tuổi) và các cành ở ñộ tuổi 50-60 ngày tuổi có hiệu quả cao nhất [20]
ñã nghiên cứu xử lý nhãn ra hoa bằng 3 cách:
- Cách 1: Khấc cành (thích hợp cho nhãn tơ) ñể nhãn ra hoa chắc chắn hơn trước khi khấc cành 1 tuần phun 2 lần TOBASUN, chiều rộng vết khấc 6
- 12 mm và khi khấc xong bôi ngay thuốc Rhidomil ñể sát trùng Khoảng
25-35 ngày sau nhãn sẽ ra hoa ñồng loạt
- Cách 2: Tưới hoặc rải KClO3 ở gốc (thích hợp cho nhãn từ 3-5 tuổi) lượng thuốc KClO3 cần dùng là 100-120 g/cây có ñường kính tán 2,5 m Có
Trang 36thể rải hoặc hoà KClO3 vào 10 lắt nước, tưới quanh hình chiếu tán cây, sau khi xử lý trong vòng 1 tuần cứ 2 ngày tưới nước 1 lần cho thuốc thấm ựều vào ựất và sau 25 - 35 ngày nhãn sẽ ra hoa
- Cách 3: Khấc cành kết hợp với rải KClO3 (thắch hợp cho nhãn lớn tuổi): Khi lộc có màu xanh ựọt chuối thì khấc cành nhẹ, vết khấc rộng 4 mm, 5 ngày sau rải hoặc tưới KClO3 với hàm lượng là 40g/cây có ựường kắnh 2,5m Với cách này cây sẽ ra hoa triệt ựể hơn mặc dù cành hoa có ngắn hơn cách 2 và ựây là cách rất thắch hợp cho những cây tốt ựặc biệt trong vườn
Nguyễn thị Thanh (2000)[25] phun Ethrel nồng ựộ 1000ppm, GA3, IAA phối hợp với Ethrel, GA3 phối hợp với Ethrel làm tăng tỷ lệ ra hoa cái
và tăng tỷ ựậu quả, do vậy làm tăng năng suất rõ rệt Sử dụng thuốc trừ bệnh Rhidonim MZ và Oxyclorua ựồng trong thời kỳ ra hoa cũng làm tăng tỷ lệ ựậu quả, do vậy cũng ựã cải thiện năng suất vải và phun Oxyclorua ựồng cho hiệu quả cao hơn Trên cây nhãn các công trình nghiên cứu về tác ựộng của chất ựiều tiết sinh trưởng cũng ựược thúc ựẩy và ựã có nhiều kết quả
Ở Thài Lan, hiện nay nhãn ựược bán quanh năm, do người sản xuất ựã nắm ựược và tác ựộng một số biện pháp kỹ thuật sản xuất trái vụ Tuy nhiên việc sử dụng giống, và các hoá chất ra hoa trái vụ ựể thúc ựẩy nhãn ra hoa tái
vụ ựã ựược nhiều người quan tâm [43,49]
để có quả trái vụ vào Tết Nguyên đán ựầu tháng 8 âm lịch, ở Miền Nam dùng Ethphon 0,1 % phun ướt ựều cho lá nhãn Lá này sẽ xanh ựậm hay xanh nhạt hay lá hơi co lại một chút Khoảng 30 ngày xử lý hoa hình thành [39]
Theo Viện nghiên cứu Rau quả, cần khống chế lộc ựông bằng cách hạn chế nước, chất dinh dưỡng hoặc phun chất ựiều hoà sinh trưởng Khống chế lộc ựông bằng cách phun B9 nồng ựộ 1000ppm hoặc Ethrel nồng ựộ 400- 800 ppm phun ở bộ phận lá non, phun 1-2 lần cách nhau 7-10 ngày Ngoài ra có
Trang 37thể dùng tay vặt bỏ khi lộc ñông dài 5-10cm hoặc làm ñứt rễ khi lộc dài 3cm trong khu vực hình chiếu của tán, cuốc sâu từ 20-30cm
Cùng với nghiên cứu các biện pháp ñiều tiết quá trình ra hoa thì quá trình duy trì khả năng ñậu quả, phát triển quả cũng ñược nghiên cứu
ðể chống rụng quả trong thời kỳ quả non, xử lý bằng việc phun α-NAA 0,025 % (250ppm), kích phát tố Thiên Nông khi quả bằng hạt ñậu xanh.[24]
2.5.2 Nghiên cứu biện pháp bón phân nhằm thúc ñẩy quá trình ra hoa và
tạo quả của nhãn
Ngoài phương pháp bón phân vào ñất, người ta có thể bón phân trực tiếp qua lá non, lộc non ñều có sức hấp thụ phân bón mạnh và nhanh Ở Trung Quốc, các loại phân bón qua lá thường dùng là urê, kali, dihydrogen, phosphate, supe lân, cloruakali cách 10 – 15 ngày phun 1 lần ðặc biệt là lộc thu phát ra chồi muộn hoặc thế sinh trưởng của cây hơi kém, phun 0,3% urê, 0,3 – 0,4% kali hydrogen phôt phát thuận lợi cho lộc thu chuyển xanh nhanh
và thành thục, nâng cao chất lượng lộc thu Lộc thu sau khi thành thục phun kali hydrogen phôt phat có thể nâng cao hàm lượng kali trong lá, thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, nâng cao tỷ lệ phát sinh chùm hoa [28]
Ở Việt Nam, các loại phân bón qua lá cũng ñã ñược sử dụng với các loại phân như Komix, Superzin – K, Thiên nông, Bayfolan, Orgamin…và có hiệu quả khá rõ rệt giảm tỷ lệ rụng quả, tăng khối lượng quả, tăng năng suất, tăng
ñộ sáng vỏ quả [4,41]
Theo các tác giả Trần Minh Trí, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Minh Châu khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá cho biết: phân Thiên nông ñã hạn chế ñược sự rụng trái non, phân Komix, Superzin – K làm tăng khối lượng trái [15,38]
Sử dụng Ure 0,2%, KH2PO4 0,2 – 0,3% hay axit Boric, Sunlfat kẽm khi hoa
nở có tác dụng làm tăng khả năng thụ phấn thụ tinh, tăng tỷ lệ ñậu quả [32]
Trang 38Các nguyên tố vi lượng ñược sử dụng làm phân bón cho hiệu quả rõ rệt Nguyên tố vi lượng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và kích thích hoạt ñộng của các hệ thống men giúp cho các quá trình sinh lý, sinh hóa
và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây Nguyên tố vi lượng xét về mặt
số lượng cây không cần nhiều nhưng mỗi nguyên tố ñều có vai trò xác ñịnh và không thể thay thế trong ñời sống cây trồng [10]
Hoàng Minh Tấn và cộng sự, 1993 [24] Boric có ảnh hưởng ñến hầu hết tất cả các quá trình trao ñổi chất của cây Bo có ảnh hưởng ñến sự hút các nguyên tố khác vào trong cây, ảnh hưởng tích cực ñến sự nảy mầm của hạt phấn và sự phát triển của ống phấn như: giảm bớt khả năng oxy hóa một số chất hữu cơ ñể giữ năng lượng, thúc ñẩy quả trình hình thành ống phấn, rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng kích thước, khối lượng quả, tăng tính chống chịu Cây thiếu Bo sinh trưởng của rễ ngừng lại, sau ñó xuất hiện vết vàng ở ñiểm sinh trưởng tận cùng, thiếu Bo nghiêm trọng ñiểm sinh trưởng sẽ bị chết
Nghiên cứu cải tiến phương pháp bón phân bằng cách phun phân lên lá
ñể cho lá trực tiếp hấp thu chất dinh dưỡng qua các lỗ khí khổng ñã ñược thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Tác dụng của phân bón qua lá là cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng ña lượng và vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây trồng, ñặc biệt là vào các thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cây cần tập trung chất dinh dưỡng ñể tạo hoa, quả và nuôi hạt Dùng phân bón lá tốn rất ít về số lượng mà hiệu quả lại cao, năng lượng trong quá trình vận chuyển lại ñược tiết kiệm ñến mức tối ña, nhờ vậy có thể dùng trên ñất xấu, ñất mặn, ñất nghèo dinh dưỡng, có khả năng giữ nước, giữ phân kém Phun phân bón lá trong thời gian bị hạn giúp cho cây tăng khả năng chống chịu, duy trì ñược các quá trình hoạt ñộng sinh lý của cây trong những mức ñộ nhất ñịnh [8,9,10]
Trang 39Một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ñã cho thấy: trong quá trình ra hoa, ñậu quả, phun phân bón lá có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng quả và tăng năng suất trên cây Các loại phân thiên nông ñã hạn chế ñược sự rụng trái non, phân Komix, Supe pzing K ñã làm tăng khối lượng quả
và màu sắc vỏ quả của những cây ñược xử lý sáng ñẹp hơn [15]
Vũ Văn Liết, Cao Anh Long, Nguyễn Quang Thạch [19] ñã xử lý Spray - N
- Grow (SNG) và bón Bill’s perfect fertilize (BPF) cho cây nhãn nhận thấy: SNG + BPS có tác dụng làm tăng kích thước quả rõ rệt nhưng khối lượng quả tăng không rõ vì cùi có hàm lượng nước thấp hơn ñối chứng, tỷ lệ cùi tăng, tỷ lệ hạt giảm, vỏ quả sáng bóng và năng suất quả tăng trung bình 10,69%
Theo Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Thị Bích Hồng thì hai nhóm yếu tố là các loại phân bón lá và chế phẩm sinh học ñều có tác ñộng ñến việc chống rụng quả non, tăng khối lượng quả và làm tăng năng suất của giống nhãn chín muộn HC4 Trong ñó, kích phát tố Thiên nông và Cimbat thể hiện ưu thế vượt trội hơn cả [40]
2.5.3 Một số nghiên cứu về biện pháp cắt tỉa, khoanh vỏ nhằm thúc ñẩy
quá trình ra hoa và tạo quả
Ngoài việc xử lý bằng hoá chất thì việc sử dụng biện pháp cơ giới nhằm ñiều chỉnh chất ñiều hoà sinh trưởng nội sinh cũng ñã ñược nghiên cứu khoanh vỏ là biện pháp làm tăng khả năng ñậu quả của nhãn [24]
Qua những kết quả nghiên cứu ñó cho thấy:
Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây nhãn yêu cầu khá chặt chẽ về ñiều kiện thời tiết khi hậu, nhất là các yếu tố nhiệt ñộ, lượng mưa ðây là những yếu tố cơ bản quyết ñịnh khả năng phân hoá mầm hoa, phát triển hoa, phát triển quả
Trang 40Ngoài một số tự nhiên như giống, ñiều kiện thời tiết khí hậu, ñặc biệt là mùa ñông ñủ lạnh và khô ñể ngừng sinh trưởng, chuyển giai ñoạn, thì một số ñiều kiện do con người tác ñộng ñúng lúc và hợp lý cũng có thể giúp cho cây vượt qua ñiều kiện bất thuận sẽ thuận lợi cho quá trình ra hoa ñậu quả cũng như phát triển quả
Nguyễn Thị Thanh (2000) [25] khi nghiên cứu về các biện pháp tăng
tỷ lệ ñậu quả của một số giống vải ở Phú Hộ ñã ñưa ra nhận xét: ðối với những cây vải có ñặc tính sinh trưởng mạnh, biện pháp khoanh vỏ có ý nghĩa
rõ rệt trong việc làm giảm sự phát lộc ñông, xúc tiến sự phân hoá mầm hoa tốt
và phương pháp khoanh xoắn ốc có hiệu quả cao nhất
Theo phạm Văn Côn (2005), sử dụng các biện pháp kỹ thuật ñiều khiển ra hoa bằng các biện pháp tác ñộng cơ giới như khoanh vỏ thân, buộc vòng trên thân cây hoặc buộc dây thép, dây nilon có ñường kính 2,5 – 3,0 mm thắt chặt vòng quanh thân hoặc cành khung sau 1 – 1,5 tháng nhằm hạn chế rụng qủa và tăng khả năng ñậu quả, có thể dùng một biện pháp hoặc áp dụng các biện pháp ñể nâng cao tỷ lệ ñậu quả [4], [41]
Các biện pháp kỹ thuật tác ñộng ñến cây nhãn ở miền Nam mang lại hiệu quả hơn Miền Bắc do ñặc ñiểm thời tiết khí hậu cũng như ñặc ñiểm của các giống nhãn Ở Miền Bắc khả năng phân hoá mầm hoa của cây vải và nhãn phụ thuộc nhiều vào nhiệt ñộ của các tháng 11, 12 và tháng 1 Khi nhiệt ñộ trong các tháng này xuống thấp và kéo dài thì sự phân hoá mầm hoa của cây mới thuận lợi Cây nhãn tuy không yêu cầu khắt khe về nhiệt ñộ thấp như cây vải, song vẫn cần một thời gian có nhiệt ñộ thấp và khô hạn vừa phải nhằm hạn chế lộc ñông, tăng cường khả năng quang hợp, tích luỹ chất khô và tăng nồng ñộ dịch bào Do vậy, khi không có tác những biện pháp kỹ thuật ñặc biệt, do những biến ñộng thất thường của thời tiết hàng năm thì việc vải, nhãn
ra hoa cách năm là rất có thể xảy ra và thậm chí là nhiều năm liên tục