1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VỐN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN (Phần I) pptx

13 229 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 301,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về vốn xã hội Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc

Trang 1

VỐN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN (Phần I)

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích

Trong bài này chúng tôi sẽ tóm lược các điểm chính của vốn xã hội như được trình bày theo một số nhà nghiên cứu trên thế giới Sau đó đề cập đến sự nghiên cứu của ông Fukuyama và liên hệ một số điểm chính yếu của ông với thực tế của nước ta để tìm xem vốn xã hội của chúng

ta cao hay thấp Thực tế được chọn lựa là sáu vấn đề nằm trong cơ cấu tổ chức

xã hội và công việc xây dựng con người ở ta

I Khái niệm về vốn xã hội

Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống

Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961, Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993 Coleman mô

tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở

Trang 2

thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action) Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và

họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng

Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4)

sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước

Trang 3

ta Bạn, tôi và vài người quen rủ nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bước 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì

từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3) Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế

Lý giải từng bước, ta thấy dễ chịu khi làm ăn với ai mà mình tin, không mất công, chẳng mất giờ, vốn là của cải có sẵn (tài nguyên) và không nên phí phạm Khi mình tin người khác họ cũng sẽ tin mình và như thế niềm tin tạo nên một nghĩa vụ Nếu đứng trong vị trí của từng cá nhân một, ta có sự tin cẩn nhau; lúc nhìn cả hai người một lần thì đó là niềm tin hay sự tin tưởng Có hai loại tin tưởng: một là tin vào những người mà mình biết rõ; hai là tin vào những người mình chưa biết rõ nhưng vì họ đứng trong một cơ cấu, một tổ chức mà mình tin tưởng nên mình cũng tin họ luôn Xây dựng niềm tin thì mất nhiều thời gian và công sức nhưng để mất nó thì rất dễ Một xã hội đầy rẫy sự bất tín thì khó có sự hợp tác (Baland and Platteau, 1998)

Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng niềm tin Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc

(specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang nhau,

và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại hay bù đắp tương xứng Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các bên

Quy tắc (rules) là những sự bó buộc mà mỗi người phải theo khi làm một việc gì đó Quy tắc chính thức là luật pháp do nhà cầm quyền ban hành Luật lệ luôn đi kèm với sự trừng phạt tinh thần hay vật chất Quy tắc không chính thức là những điều mà các cá nhân áp dụng để đóng khuôn hành vi hàng ngày của họ

Trang 4

Từ sự kiện Thái Bình

Nhân bàn về “vốn xã hội”, xin nhắc lại sự kiện Thái Bình năm 1997 Tìm hiểu nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ xung đột xã hội ở nông thôn tại một nơi vốn

là lá cờ đầu của hầu hết các lĩnh vực xây dựng và phát triển nông thôn của cả nước, một sự kiện khá điển hình, giúp làm sáng tỏ vấn đề “vốn xã hội” Trước hết, xin gợi lại một vấn đề cứ tưởng như xưa cũ rồi: "Làng của Việt Nam tự quản lý lấy chính nó Nhà nước không nên can thiệp vào công việc của làng, trừ phi làng không thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng thuế thân, thuế đất, đi phu, đi lính”1

Tác giả của “La commune anammite”, P.Ory, đã từng lưu ý những nhà cai trị thực dân như vậy Thế nhưng chúng ta thì lại quên Các tổ chức tộc họ, phe giáp, phường hội… với những vai trò khác nhau phải lựa chọn cách ứng xử trước áp lực của lệ làng, của hương ước có khả năng dung hòa các quan hệ xã hội khác nhau, tạo nên đời sống tương đối ổn định của cái làng Việt Nam trong tính tự quản vốn có của nó Những cái đó đã mất đi cùng với sự ra đời của một cách tổ chức xã hội mới sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, đặc biệt là sau 1954 ở Miền Bắc

Trang 5

Cơ cấu xã hội ở nông thôn được hình thành trong quá trình hợp tác hóa đã đơn giản hóa đến mức tối đa, chỉ còn lại một bên là những nông dân với các hộ gia đình xã viên, bên kia là Ban Chủ nhiệm HTX, Đảng ủy, Ủy ban và các đoàn thể,

Tổ quốc đều đã được “nhà nước hóa” Các hình thức tự quản vốn có hầu như bị xóa sạch

Không một lực lượng xã hội nào được tồn tại có tính tự trị, tự quản tương đối độc lập ngoài những đoàn thể tổ chức đã “nhà nước hóa” hay là những “cánh tay nối dài” của tổ chức Đảng cơ sở Người ta đã không hiểu được rằng, khi phá

vỡ tính tự trị của làng xã thì cũng đồng thời xóa mất tính trung hòa do sự chế ước

và dung hợp của những quan hệ cộng đồng tạo nên Bài học Thái Bình thường được phân tích là bài học về sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, bộ máy Nhà nước và

hệ thống chính trị ở nông thôn, nhưng còn một bài học nữa ít được phân tích, đó là bài học về tổ chức xã hội Ở đây là tổ chức quyền lực và “xã hội dân sự” tại nông thôn Không thấy rõ điều này sẽ là sự thất thoát lớn nguồn vốn xã hội có bề dày truyền thống của cộng đồng nông thôn Và có lẽ cũng không chỉ nông thôn

Đại hội X đặt vấn đề “Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân” Đó chính là nguyên lý của sự tạo dựng “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” Nguyên lý đó nói rõ rằng “ quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi” Nhân dân trao quyền lực của mình cho Nhà nước, để Nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý sự vận hành của xã hội Làm sao để quyền của dân đã được trao ấy, các cơ quan, tổ chức được trao quyền không được lạm quyền, không được tiếm quyền nhằm biến chúng thành đặc quyền để chỉ thủ lợi riêng cho cá nhân hoặc phe nhóm, đi ngược lại lợi ích của dân

Ngoài quyền lực được trao cho Nhà nước, dân vẫn phải có quyền lực của mình, một biểu hiện của quyền lực đó là sự tự quản trong mọi hoạt động xã hội về

Trang 6

chính trị, về kinh tế, về văn hóa giáo dục, về truyền thông đại chúng, thể dục thể thao mà không nhất thiết phải có bàn tay của Nhà nước nhúng vào Đó là các

"lĩnh vực tư” mà dân tự quản lấy bên cạnh “lĩnh vực công” do Nhà nước đảm nhiệm Cả hai lĩnh vực này song hành với nhau, và cả hai đều đòi hỏi phải xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân Không tạo dựng và hoàn thiện các

tổ chức tự quản, các hoạt động của “xã hội dân sự” sẽ làm thất thoát một nguồn

Để làm rõ thêm ý này xin đưa thêm một thông tin Gần đây, tổ chức “Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân” (CIVICUS) đã đưa ra một định nghĩa về “xã hội dân sự" như sau: XHDS là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”2 Đây cũng là một gợi ý mới để tìm hiểu về “vốn xã hội” Theo đánh giá của CIVICUS thì 74%

số công dân là thành viên tối thiểu 1 tổ chức, 62% là thành viên của từ 2 tổ chức,

và tính bình quân mỗi công dân tham gia 2,3 tổ chức Trong đó, nhóm hội viên lớn nhất thuộc về các tổ chức quần chúng, đoàn thể phụ nữ, tổ chức phúc lợi xã hội, các tổ chức cộng đồng địa phương, các tổ chức thể thao, vui chơi, giải trí, các tổ chức giáo dục, nghệ thuật, âm nhạc và các hội nghề nghiệp Sự đánh giá này đúng đến đâu chắc còn cần phải trao đổi kỹ Tuy nhiên, những thông tin nói trên đưa ra

từ một cuộc khảo sát có bài bản cũng là một gợi ý tốt để nghĩ về cách phát huy nguồn vốn xã hội sắp tới gắn liền với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự

Tương Lai

Hành vi mẫu mực (norms), trái lại, là một việc làm theo một cung cách nào

đó phù hợp với sự mong mỏi, sự ưa thích Về mặt ngữ nghĩa, "norm" là hành vi mẫu mực hay các tiêu chuẩn được xã hội, hoặc các nhóm chấp nhận (tự nguyện hay không) và dựa trên đó, xã hội đánh giá một người hay một việc Khi dịch từ

Trang 7

“norm” sang tiếng Việt là "chuẩn mực" thì nó chỉ còn có nghĩa là một cái gì được chọn để làm căn cứ đối chiếu Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để làm lợi ích của tập thể được đặt cao hơn lợi ích cá nhân Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng sẽ làm như thế

Những điều trên cũng còn được gọi là luật chơi hay là luân lý nội tại của một

hệ thống xã hội (Coleman, 1990), ximăng của xã hội (Elster, 1989) hay những giá trị căn bản tạo nên lòng tin (Collins và Chippendale, 1991) Chúng phản ánh mức

độ của một cá nhân bằng lòng hòa giải với người khác hay kiểm soát hành vi của mình Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể

Cuối cùng là sự liên kết, mạng lưới hay nhóm Đó là thành tố quan trọng của vốn xã hội Có nhiều loại liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, đám ma ) Chúng có thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình

Làng nghề Phong Khê

Trang 8

Làng nghề làm giấy Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có số người sống bằng nghề làm giấy không thấm tháp gì so với tổng biên chế của nhà máy giấy Bãi Bằng, tổng vốn kinh doanh của họ cũng ít hơn rất nhiều lần Nhưng thật khó mà tin rằng làng nghề này lại làm ra một khối lượng giấy hàng hóa các loại có giá trị tương đương với giá trị đầu ra của nhà máy giấy Bãi Bằng! Các mối quan hệ truyền thống của làng – bao gồm cả quan hệ họ tộc hoặc không phải họ tộc, đã tạo ra một sự phân công lao động và chuyên môn hóa rất đáng để cho môn kinh tế - chính trị học hiện đại tìm hiểu Các mối quan hệ này đã thay thế một cách kỳ diệu nhiều khâu không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh

Chọn xưởng làm giấy in lớn nhất của làng này để tới tham quan, người ta thấy nó có công suất bằng khoảng 1/3 công suất nhà mấy giấy Bãi Bằng Ngoài cái xưởng làm giấy hoạt động suốt ngày đêm, một cái sân tạm có mái che, người ta không thấy kho bãi, văn phòng, bộ máy hành chính - vì ông chủ làm giám đốc và kinh doanh, bà chủ làm quản trị và kế toán Khi sản phẩm xuất xưởng, ông chủ chỉ

Trang 9

cần “a-lô” cho đường dây phân phối do những người trong làng đảm nhiệm Khi cần nguyên liệu hoặc những đầu vào khác – dù là từ cảng Sài Gòn hay cảng Hải Phòng tới - lại cũng “a-lô” theo kế hoạch đã định sẵn Khi cần vay nóng để làm việc gì đó – có khi tới dăm ba tỷ đồng – ông chủ cũng “a-lô” cho một ai đó trong làng, ngoài việc ký sổ nợ ra không có chuyện thế chấp Cả làng có khoảng 100 xe tải của nhiều hộ khác nhau chuyên làm nghề vận tải cho bất kỳ ai - đường ngắn đường dài tùy yêu cầu của khách hàng Ông chủ nói vui với khách tham quan:

“Ngày xưa muốn “ới” nhau một tiếng cho một việc gì đó thì phải đến tận nhà nhau, bây giờ nhờ cái mobile chỉ cần ngồi nhà “a-lô” là xong! Lại còn thêm cái máy vi tính mắc vào internet nữa chứ! ” Các nhà làm nghề giấy khác trong làng cũng hoạt động theo phương thức đại thể như vậy Mối quan hệ giữa những người trong một mạng lưới hoạt động chung và chữ “tín” của làng đã cho phép làm cái việc ngày xưa gọi là “ới” nhau, ngày nay gọi là “a-lô” hay mail cho nhau

Cái tên gọi khoa học của những gì làm nên cái việc “ới” nhau, “a-lô” hay mail cho nhau như thế là vốn xã hội

Làng nghề nào trong cả nước ta cũng có một vốn xã hội như thế - với các cung bậc và trình độ khác nhau, tùy trình độ phát triển mỗi nơi

Nguyễn Trung

Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital) Loại trước tạo nên các nhóm như Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi chính phủ hay các hội từ thiện Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự Xã hội này là một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể

Trang 10

góp tay với chính quyền chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể

Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã hội và tạo

ra sự gắn bó trong đó Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998)

II Vốn xã hội và sự phát triển kinh tế

Trong quyển "Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity" xuất bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn

xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau Vốn con người có thể làm tăng vốn

xã hội Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái,

và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ

Ngày đăng: 13/08/2014, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w