1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

hoi chung tieu chay o lon potx

55 1,4K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 373,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm nắm được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn theo mẹ để làm cở sở cho việc phòng trị bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “ Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn

Trang 1

Ngày nay, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thịt, đặc biệt là thịt lợn chất lượng cao ngày một tăng Bên cạnh đó, cùng với các chính sách quan tâm của nhà nước đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi trang trại phát triển.

Điều này đã thúc đẩy người chăn nuôi lợn trên cả nước nói chung và khu vực ngoại thành Hà Nội nói riêng mạnh dạn đầu tư cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ của Khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi Nhờ đó mà các sản phẩm thịt lợn không ngừng được tăng lên cả về số lượng và chất lượng

Tuy nhiên, cũng như tại các địa phương khác trong cả nước, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chăn nuôi lợn trang trại ở khu vực ngoại thành

Hà Nội còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Trong đó phải

kể đến hội chứng tiêu chảy ở lợn con gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi

Nhằm nắm được tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con giai đoạn theo

mẹ để làm cở sở cho việc phòng trị bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “ Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trại Thành Long -

Cư Yên - Lương Sơn - Hoà Bình So sánh hiệu quả của một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ”.

Trang 3

Phần IITỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN

2.1.1 Khái niệm tiêu chảy

Tiêu chảy là triệu chứng lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hóa Hiện tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất, độ tuổi mắc bệnh, tuỳ theo yếu tố nào được xem là yếu tố chính và nó được gọi với những tên khác nhau: Bệnh phân trắng lợn con, hội chứng khó tiêu, tiêu chảy sau cai sữa, hội chứng rối loạn tiêu hóa,… Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở nhiều bệnh ký sinh trùng, bệnh do virut, bệnh do vi khuẩn,…

2.1.2 Nguyên nhân

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản:

2.1.2.1 Ảnh hưởng của môi trường

Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ môi trường không thích hợp đặc biệt là thời tiết lạnh Do ảnh hưởng của thời tiết lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm xuống làm cho mạch máu ngoại vi co lại dồn máu vào cơ quan phủ tạng Khi đó, mạch máu thành ruột bị xung huyết làm trở ngại đến tiêu hóa, thức ăn bị đình trệ tạo điều kiện cho các vi sinh vật sinh sôi phát triển, đặc biệt là quá trình lên men tạo ra các sản phẩm độc, các chất độc này kích thích vào hệ thống thần kinh ruột gây hưng phấn làm cho ruột co bóp mạnh và nhiều lần, đẩy thức ăn ra ngoài Đồng thời do hiện tượng xung huyết làm cho tính thấm thành mạch tăng lên, đẩy thức ăn ra ngoài gây tiêu chảy

Ngoài ra, nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu quá nóng, quá lạnh, mưa gió, độ ẩm cao, kết hợp với điều kiện vệ sinh chuồng trại không hợp lý, không

Trang 4

thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông,… đều là các tác nhân Stress bất lợi dẫn tới viêm dạ dày - ruột, dẫn đến tiêu chảy

Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, 1997 cho biết: Khi gia súc tiếp súc với điều kiện ẩm ướt, bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm khả năng phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ bị các vi khuẩn cường độc gây bệnh, đặc biệt với lợn sơ sinh và lợn sau cai sữa ít ngày vì các phản ứng thích nghi bảo vệ của lợn con lúc này là chưa hoàn thiện Vì vậy việc đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất cần thiết

2.1.2.2 Nguyên nhân về thức ăn - nước uống

Thức ăn là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể tồn tại và phát triển Nhưng trong nhiều ca ỉa chảy, nguyên nhân là do sự sai sót trong kỹ thuật chăn nuôi… Theo nhận xét về nguyên nhân gây viêm ruột ỉa chảy ở vật nuôi nước ta, Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997, đều cho rằng: Thức ăn kém phẩm chất (bẩn, mốc…), khẩu phần ăn không thích hợp, nuôi dưỡng không đúng, thức

ăn quá lỏng, quá lạnh,… là nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột ỉa chảy

Chúng ta đều biết nước là yếu tố quan trọng trong cơ thể gia súc nhất là gia súc non Nếu mất nước 10% ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sinh

lý, mất 20% gia súc non sẽ chết Lợn con thiếu nước uống, uống nước bẩn ở nền chuồng, hố rãnh dễ bị nhiễm khuẩn, gây viêm ruột ỉa chảy (Đào Trọng Đạt, 1996)

2.1.2.3 Nguyên nhân do vi khuẩn

Hầu hết các tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy của lợn đều kết luận: Trong bất kỳ trường hợp nào cũng có vai trò tác động của vi khuẩn

Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, (1997), cho biết: Có những tác nhân đầu tiên gây viêm ruột như virus, vi khuẩn, thức ăn,… Gây rối loạn hấp thu và nhu động ruột Hậu quả không tránh khỏi là viêm ruột, các vi khuẩn đường ruột tiếp tục tác động làm cho bệnh nặng thêm

Trang 5

Theo Vũ Văn Ngữ và cộng sự, (1997): Do một nguyên nhân nào đó, trạng thái cân bằng các khu hệ vi sinh vật trong đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loại nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn Sự thay đổi hoặc biến động này có thể xảy ra ở các nhóm vi khuẩn hoặc họ vi khuẩn đường ruột cũng như nhóm vi khuẩn vãng lai, có thể biến đổi cả về số lượng lẫn chất lượng (bội nhiễm và tăng độc lực) Thường là các vi khuẩn gây bệnh thừa cơ tăng sinh và tăng độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh được bị giảm đi Loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh ở đường tiêu hóa đặc biệt là gây tiêu chảy.

Các tác giả còn cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút vi khuẩn gây thối là nguyên nhân gây bệnh đường ruột Vi khuẩn gây thối hoạt động, phân giải các chất trong đường ruột, sinh CO2, H2S, NH3, CH4, Indol, Scatol,… Làm biểu mô niêm mạc đường tiêu hóa tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

Trịnh Văn Thịnh, (1985), cũng thông báo tác nhân chủ yếu gây bệnh của

lợn con là E.coli, nhiều loại Salmonella (Salmonella cholerae suis, Salmonella

typhisuis) và đóng vai trò phụ là Proteus, trực trùng sinh mủ và song cầu khuẩn,

liên cầu khuẩn

Để xác định vai trò của E.coli và Salmonella trong phân lợn mắc hội

chứng tiêu chảy, Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân và cộng sự (1996), đã tiến hành nghiên cứu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và kết luận như sau:

- Tiêu chảy ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi, có vi khuẩn E.coli mang kháng

nguyên K88 cao hơn nhiều lần so với lợn mắc hội chứng tiêu chảy ở các lứa tuổi khác

- Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao ở lợn tiêu chảy thuộc lứa tuổi 22 - 60 ngày tuổi.

Theo tác giả thì môi trường sữa trong ruột của lợn con 1 - 21 ngày tuổi ít

thích hợp với Salmonella hoặc do lợn con ít nhiều được truyền kháng thể qua

Trang 6

nhau thai và sữa đầu, vì vậy chỉ những con quá yếu mới nhiễm mà vai trò gây

tiêu chảy ở lợn con chủ yếu là do E.coli.

Đào Trọng Đạt và cộng sự, (1996), khi nghiên cứu bệnh lợn con phân

trắng cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, E.coli thường xuyên cư trú

trong đường ruột của lợn, thừa cơ sinh sản rất nhanh và gây lên sự mất cân bằng

hệ vi khuẩn đường ruột

Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, (1997), khi xét nghiệm hàng trăm mẫu phân lợn khỏe và lợn bị viêm ruột ỉa chảy đã nhận thấy trong phân lợn

thường xuyên có các loại vi khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella, Streptococcus,

Klebsiella, Bacillus subtilis Khi lợn bị tiêu chảy E.coli và Salmonella tăng lên

một cách bội nhiễm, biến động nhiễm của Klebsiella, Streptococcus,

Staphylococcus không rõ, trong khi đó Bacillus subtilis trong phân giảm.

Từ nhiều nghiên cứu cho thấy vi khuẩn E.coli và Cl.Perfringens là những

tác nhân quan trọng gây bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ đặc biệt là lợn con ở

lứa tuổi dưới 1 tuần tuổi Các chủng vi khuẩn E.coli và Cl.Perfringens phân lập

được từ lợn bệnh đều mang đầy đủ các đặc tính nuôi cấy, sinh hóa đặc trưng của

Escherichia và Clostridium.

Nguyễn Bá Hiên, (2001): Ở gia súc non khi mắc hội chứng tiêu chảy thì

số lượng các loại vi khuẩn như Salmonella, E.coli và Cl.Perfringens tăng lên từ

2 - 10 lần so với bình thường Mặt khác, tỷ lệ các chủng mang yếu tố gây bệnh

và sản sinh độc tố cũng tăng cao

Đoàn Thị Kim Dung, (2004), qua theo dõi 6.876 lợn con theo mẹ tại 5 cơ

sở chăn nuôi ở một số tỉnh thành miền Bắc Việt Nam cho thấy:

- Tỷ lệ lợn tiêu chảy bình quân là 28,36% (dao động từ 33,08% đến 24,37%) Trong đó tỷ lệ lợn chết bình quân là 4,45%

- Khi lợn bị tiêu chảy (1 - 21 ngày tuổi và 22 - 60 ngày tuổi) thấy số loại

vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí tăng lên so với lợn không tiêu chảy Trong

Trang 7

đó tổng số E.coli, Salmonella và Streptococcus tăng lên, còn Staphylococcus,

Bacillus subtilis thì gảm đi.

2.1.2.4 Nguyên nhân do virus

Ngoài sự có mặt của các vi khuẩn người ta cũng chứng minh được virus cũng là một tác nhân gây tiêu chảy

Các nghiên cứa về nguyên nhân hội chứng tiêu chảy ở lợn con trên thế giới đã

chỉ ra 2 nhóm virus chủ yếu (thuộc họ Corona viridae và Rota viridae) gây bệnh tiêu chảy ở lợn đặc biệt là lợn con Trong nhóm Corona viridae có 2 đại diện chính gây bệnh tiêu chảy ở lợn là Transmissble – Gastro – Enteritis virus (TGEV) và Poreine –

Epidemic – Diarrhea virus (PEDV) ngoài ra còn có Porcine – Hemagglutinatinl – Encephalomyelitis virus và Porcine – Respiratory – Corona virus, những virus này ít

khi gây bệnh ở đường tiêu hóa của lợn Còn trong nhóm Rotaviridae có Rotavirus

(RV) gây bệnh tiêu chảy ở lợn

Khi bị nhiễm, virus sinh sản theo đường tuần hoàn, virus phá hủy thành mạch máu, gây viêm tụ máu, xuất huyết làm cho niêm mạc bị tụ máu dầy lên, thấm huyết tương và hình thành màng giả từ dịch rỉ, huyết tương hỗn hợp với những mảng biểu mô, khi bong tróc ra để lại những vết lõm không đều Viêm loét rải rác trong đường tiêu hóa: Miệng, dạ dày, ruột, trực tràng Vết loét sâu, rộng nếu có các vi khuẩn kết hợp tác động Đặc biệt virus làm trỗi dậy những vi khuẩn kết hợp làm cho bệnh trở lên nặng và phức tạp hơn

2.1.2.5 Nguyên nhân do ký sinh trùng

Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn cũng như một số gia súc khác Tác hại do chúng gây ra không chỉ cướp chất dinh dưỡng của vật chủ mà còn tác động lên vật chủ thông qua nội, ngoại độc tố do chúng tiết ra, làm giảm sức đề kháng, gây trúng độc, tạo điều kiện cho những bệnh khác phát sinh Ngoài ra ký sinh trùng còn gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, gây viêm ruột ỉa chảy

Trang 8

2.1.2.6 Một số nguyên nhân khác

Gia súc ăn phải thức ăn có tác dụng kích thích, các loại thuốc tẩy ký sinh trùng, dị vật hay các axit, kiềm,… Đây cũng là nguyên nhân gây bệnh vì khi đó niêm mạc dạ dày, ruột bị kích thích làm trở ngại nghiêm trọng tới cơ năng vận động và tiết dịch gây rối loạn tiêu hóa

2.2 MỘT SỐ BỆNH CÓ TRIỆU CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN

2.2.1 Bệnh tiêu chảy do E.coli

Bệnh do vi khuẩn E.coli có sẵn trong đường ruột của lợn gây ra do mất

cân bằng giữa hệ vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại trong đường tiêu hóa, do các yếu tố Stress Bệnh có thể xảy ra ngay sau những ngày đầu mới sinh, tỷ lệ mắc

từ 20 – 100%, tỷ lệ chết từ 10 – 20%

* Nguyên nhân:

- Lợn con không được bú nhiều sữa đầu, chất lượng sữa mẹ không tốt Chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ chưa phù hợp nhất là giai đoạn trước khi đẻ Do cho lợn mẹ ăn nhiều thức ăn tinh, dinh dưỡng cao, sau đẻ vài ngày lượng sữa tiết

ra nhiều, lợn con không bú hết, sữa bị tồn đọng lại trong bầu vú làm chất lượng sữa bị ảnh hưởng khi lợn con bú phải gây ra hiện tượng khó tiêu, lợn con ỉa phân màu trắng

- Do chuồng trại ẩm ướt thiếu ánh sáng mặt trời, vệ sinh kém, lạnh về mùa đông, nóng về mùa hè,… Làm giảm sức đề kháng của lợn, tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển

- Thiếu vitamin, thiếu sắt cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Sau đẻ 7 ngày tốc độ phát triển của lợn rất nhanh đòi hỏi lượng vitamin và sắt rất lớn, nhưng bản thân trong sữa mẹ không cung cấp đủ cho lợn con

- Do cấu trúc đường tiêu hóa của lợn con chưa ổn định

- Do phương pháp tập ăn, phương pháp cai sữa không đúng, thức ăn kém chất lượng, không phù hợp với tuổi lợn

Trang 9

* Triệu chứng:

- Lợn con bị tiêu chảy phân nhiều nước, có bọt, màu trắng hoặc vàng, mùi hôi tanh khó chịu

- Lợn có thể nôn, bụng thóp lại mắt lõm sâu, da tím tái

- Lợn bị mất nước, lông xù, bỏ bú, suy kiệt trầm trọng, có thể chết

- Nhóm E.coli phù đầu thường gặp trên heo con sau cai sữa 1 – 3 tuần

(thường gặp ở 42 – 45 ngày sau khi sinh) và những con lớn trội trong đàn là những con nhiễm đầu tiên Sưng phù ở mí mắt, hầu, họng

* Bệnh tích:

- Xác chết gầy, bụng hóp Chất chứa trong đường ruột lỏng, có màu vàng

- Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng, ruột non bị viêm cata kèm theo xuất huyết, mạch máu màng treo ruột sưng mềm, đỏ tấy do sung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng, phủ một lớp nhày, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Gan bị thoái hóa, màu đất sét, sưng, túi mật căng Lách không sưng, bóc lớp vỏ thấy xuất huyết lách mềm, tim to, cơ tim mềm

2.2.2 Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis)

Salmonellosis là bệnh truyền nhiễm trên lợn gây ra bởi trực khuẩn gram

âm thuộc giống Salmonella dưới 2 dạng: Salmonella cholerae suis chủng

Kunzendoz gây bệnh ở thể cấp tính và Salmonella typhy suis chủng Vondagen

gây bệnh ở thể mạn tính Bệnh thường xảy ra ở lợn sau cai sữa đến 4 tháng tuổi, lợn lớn ít mắc bệnh

* Triệu chứng:

- Thể cấp tính: Xảy ra ở đầu ổ dịch với triệu chứng nhiễm trùng huyết

Lợn sốt cao 41 – 420C, lợn bỏ ăn Da mất màu hoặc có màu trắng xám, run rảy

và viêm kết mạc mắt Phân lúc bị táo bón, lúc lỏng màu đất sét hoặc vàng, đôi khi lẫn máu mùi thối khắm Các vùng da mỏng bị tím do xuất huyết, bại huyết Lợn thường bị chết sau 2 – 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 90%

Trang 10

- Thể á cấp tính: Thường xảy ra trên đàn ở cuối ổ dịch, những triệu chứng đầu

tiên giống bệnh dịch tả Rối loạn đường tiêu hóa: Tiêu chảy liên tục, thỉnh thoảng xen kẽ táo bón, phân có màu vàng hoặc màu đất sét, lẫn bọt khí mùi thối khắm, giai đoạn sau lợn gầy sút nhanh

- Thể mạn tính: Ở thể này thân nhiệt ít tăng cao, không quá 40,50C, lợn gầy nhanh khi bị nặng phổi bị tổn thương trầm trọng Những con khỏi bệnh trở thành những con mang trùng

* Bệnh tích:

Trong thể á cấp tính và mạn tính có biến đổi bệnh tích rất đặc biệt: Lách mềm nhũn đôi khi hoàn toàn bình thường Bệnh kéo dài, bệnh tích tập chung chủ yếu ở ruột già và từng phần ruột non Niêm mạc ruột bị hoại tử, có màng giả, thành ruột dày lên, từng đoạn ruột dồn lại thành nếp gấp Hạch màng treo ruột sưng, màu trắng, xám, mềm trên bề mặt nhìn rõ từng vùng hoại tử, ở gan có nhiều vùng hoại tử màu vàng xám Phổi xuất huyết, khi lợn chết hậu môn lồi ra

2.2.3 Bệnh viêm ruột hoại thư do Clostridium perfringens

Clostridium perfringens typC là vi khuẩn yếm khí hình que lớn, Gram(+) nó

sinh sôi và sản sinh độc tố trong đó độc tố β – độc tố là quan trọng nhất

Clostridium perfringens typC xâm nhập vào hồi tràng và kết tràng trong vòng 12

– 24h sau khi sinh, rồi sinh sôi, tiết β - độc tố phá huỷ tế bào niêm mạc ruột, hệ thống lông nhung ruột

* Triệu chứng: Bệnh có thể xảy ra ở thể cấp tính, á cấp tính và thể mạn tính:

- Thể cấp tính: Thường gặp ở lợn 2 – 3 ngày tuổi.

- Thể á cấp tính: Gặp ở lợn 5 – 7 ngày tuổi.

- Thể mạn tính: Ở lợn lớn hơn, khoảng 2 – 4 tuần tuổi, ỉa chảy ra máu

thường kéo dài đến 1 tuần

Lợn sinh ra bình thường nhưng sau 12 – 24h có thể nhiễm bệnh và xuất hiện những triệu chứng lâm sàng: Ỉa chảy dữ dội, phân lẫn máu hay nước màu đỏ

Trang 11

nâu như rượu vang Nửa thân sau bết phân lẫn máu, lợn bệnh yếu đi nhanh chóng, qụy và chết Thân nhiệt dưới mức bình thường khoảng 350C.

Bệnh xảy ra quanh năm, tất cả các giống lợn, lứa tuổi đều bị mắc bệnh.Bệnh thường bị bội nhiễm với các bệnh phó thương hàn, tụ huyết trùng hoặc PRRS (bệnh tai xanh) gây tỷ lệ chết cao có thể tới 100%

* Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh từ 4 – 8 ngày, xuất hiện ở các thể sau:

- Thể quá cấp tính: Bệnh phát ra nhanh chóng, lợn khỏe mạnh tự nhiên bỏ

ăn, ủ rũ, sốt cao 40 – 420C Lợn giãy giụa một lát rồi lăn ra chết Bệnh tiến triển trong 1 – 2 ngày, tỷ lệ chết tới 100%

- Thể cấp tính: Lợn bỏ ăn, ủ rũ nằm chồng đống lên nhau hoặc chui xuống

rơm, nơi tối yên tĩnh, sốt cao 410C trong 4 – 5 ngày Các vùng da mỏng như da bẹn, chóp tai, sườn,… xuất huyết chấm đỏ như đầu đinh ghim, mũi kim, đầu tăm, có khi dầy như mảng cơm cháy, mắt có rử Phân lúc đầu táo bón sau đó ỉa chảy nặng, có khi ra cả máu tươi, phân lỏng thối khắm

Lợn ho, thở khó, đuôi cụp, lưng cong, ngồi như chó ngồi và ngáp Có con

co giật hoặc bại liệt, đi loạng choạng, nái chửa sắp đẻ bị xảy thai

- Thể mạn tính: Lợn gầy, lúc táo bón, lúc ỉa chảy, uống nhiều nước Lợn

ho, thở khó, trên da lưng, sườn có vết đỏ có khi loét ra từng mảng Bệnh kéo dài vài tuần, lợn chết do kiệt sức, những con khỏi bệnh có miễn dịch nhưng là nguồn mang trùng

Trang 12

* Bệnh tích: Thể quá cấp không có bệnh tích đặc trưng.

- Trên da xuất hiện những vết xuất hưyết nhỏ màu đỏ, có khi những đám xuất huyết tập chung dày lên thành đám như mảng cơm cháy

- Hạch: Tất cả các hạch đều sưng, tụ huyết, xuất huyết

- Lách: Không sưng hoặc ít sưng, có hiện tượng nhồi huyết hoặc xuất huyết hình răng cưa ở rìa lách

- Thận: Trên bề mặt thận xuất huyết như đầu đinh ghim đầu mũi kim, đầu tăm, bên trong thận, bể thận ứ máu hoặc có cục máu đông Bàng quang xuất huyết

- Ruột: Niêm mạc dạ dày ruột viêm xuất huyết phủ bựa nhày Van hồi manh tràng (chỗ tiếp giáp ruột non và ruột già) có những nốt loét hình cúc áo, có hình vòng tròn đồng tâm

- Phổi: Tụ huyết, xuất huyết, nhiều vùng gan hóa hoại tử

2.2.5 Bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm (T.G.E)

T.G.E là bệnh truyền nhiễm mạnh do virut Corona ARN gây ra ở lợn con

với những triệu chứng lâm sàng chính: Ỉa chảy giữ dội, mất nước trầm trọng, thường kèm theo nôn mửa và tỷ lệ chết cao ở lợn sơ sinh

Virut xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp và tiêu hóa, nhân lên ở phổi, các hạch lympho, chủ yếu là các tế bào đường tiêu hóa đặc biệt ở tá tràng, hồi tràng Ở đây virut gây tổn thương và huỷ hoại tế bào niêm mạc Gây hạ đường huyết, ỉa chảy dữ dội mất nước, chất điện giải Làm cho con vật giảm sức đề kháng mở đường cho một số vi khuẩn gây bội nhiễm

* Triệu chứng:

Lợn con ở các lứa tuổi ỉa chảy nặng nề có khi kéo dài vài ngày Phân toàn nước và có màu vàng xanh nhạt, đôi khi có mùi hôi và lẫn những cục sữa chưa tiêu Lợn con dưới 3 tuần tuổi nôn mửa, lợn bệnh mất nước nghiêm trọng, chết

do trụy tim, mất nước, chất điện giải

Trang 13

Thời gian nung bệnh ngắn, chỉ 1 – 2 ngày, tỷ lệ chết phụ thuộc vào tuổi lợn bệnh Lợn con thường tỷ lệ chết cao hơn, lợn lớn thường hồi phục, khỏi bệnh sau 7 – 10 ngày Khả năng lây lan trong đàn rất nhanh.

* Bệnh tích:

Lợn gầy sút do mất nước, dạ dày chứa các cục sữa chưa tiêu, ruột non chứa đầy dịch màu vàng lẫn bọt và thành ruột mỏng Viêm dạ dày và ruột rất rõ, nhất là ở ruột non 10cm đầu của tá tràng bị thoái hóa từng mảng Hạch lympho màng ruột sưng

2.2.6 Bệnh tiêu chảy do Rotavirut

Bệnh do Rotavirut là một virut chứa ARN sợi kép gây ra Rotavirut thường

thấy nhóm A, nhóm B, nhóm C và nhóm F Bệnh có triệu chứng lâm sàng là: Ỉa chảy dữ dội ở lợn con và tỷ lệ chết khác nhau, ỉa chảy nhẹ hơn đối với lợn sau cai

sữa Virut có liên hệ đặc biệt với tế bào màng ruột non Khi nhiễm Rotavirut nó sẽ

phá huỷ màng ruột non, lông nhung bị ngắn lại các chất dinh dưỡng không được hấp thu hoàn toàn ở lợn đang bú sữa mẹ, phần lớn sữa không được tiêu hóa bị ứ lại

ở ruột lên men gây tiêu chảy, mất nước, mất chất điện giải

* Triệu chứng:

Thời gian nung bệnh từ 18 – 24h, sau đó con vật mệt mỏi, lười đi lại Có khi thấy nôn, một vài giờ sau thấy đi ỉa dữ dội ở lợn con bú sữa, ở lợn lớn thì phân nhiều nước, màu vàng, đen xám Lợn bệnh có thể nằm bẹp 24 – 72h sau đó

có thể ăn lại được Các triệu chứng có khi kéo dài, tỷ lệ chết tới 30%

Trang 14

2.3.1 Vệ sinh phòng bệnh

Trong chăn nuôi khâu vệ sinh phòng bệnh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh phòng bệnh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh

Nhiều tác giả nhấn mạnh về chế độ đảm bảo ăn uống tốt cho lợn con, tập lợn con vận động, chống nóng, chống ẩm và chống lạnh cho lợn con (Đào Trọng Đạt, 1966) Phạm Gia Ninh từ năm 1980 đã dùng lò sưởi để chống lạnh cho lợn con giai đoạn bú sữa, kết quả đã làm giảm tỷ lệ lợn con phân trắng

Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, việc đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi,

vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy

2.3.2 phòng bệnh bằng vacxin

Việc tiêm phòng vacxin là biện pháp có hiệu quả cao trong phòng các bệnh truyền nhiễm gây tiêu chảy cho lợn, tạo miễn dịch chủ động cho gia súc Để phòng hội chứng tiêu chảy cho lợn con đạt hiệu quả cao thì nên kết hợp dùng vacxin cho cả lợn con và lợn mẹ

Năm 1989 Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú đã tiến hành nghiên cứu vacxin hỗn hợp Salco, được chế tạo từ các chủng vi khuẩn Salmonella, E.coli và Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn

2.4 ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY

Hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra Muốn điều trị có kết quả tốt, trong từng trường hợp cụ thể, phải tìm được nguyên nhân chính và mỗi nguyên nhân bệnh có một cách điều trị khác nhau

Sau khi loại bỏ căn nguyên chính Điều trị theo nguyên tắc chung: Thải trừ chất chứa trong dạ dày và ruột, bảo vệ niêm mạc đường tiêu hoá, ức chế sự lên men, đề phòng sự trúng độc và tăng cường thể lực cho con vật, lập lại sự cân

Trang 15

bằng nước và điện giải, lập sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột (Nguyễn

Cho tới nay việc thanh toán hoàn toàn hội chứng tiêu chảy ở một cơ sở chăn nuôi là một việc khó, cần kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp Ngoài việc đảm bảo chăm sóc nuôi dưỡng, cần chú ý gia súc ở giai đoạn non vì chúng dễ mẫn cảm với mầm bệnh Đối với gia súc lớn, đặc biệt là gia súc sinh sản cần theo dõi thường xuyên phát hiện những con bị bệnh, điều trị kịp thời vì chính con mẹ mang bệnh sẽ là nguồn lây bệnh cho lợn con

Cuối cùng, cần phải kết hợp điều trị với các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng và

vệ sinh thú y thật tốt mới có thể ngăn chặn và khống chế được bệnh

2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY

Hội chứng tiêu chảy ở lợn gây thiệt hại rất lớn và đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm, nghiên cứu

2.5.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên (2001), nguyên nhân vi khuẩn gây tiêu chảy chính ở gia súc là E.coli, Salmonella và Clostridium

Theo Sử An Ninh và cộng sự (1981), nguồn phát sinh bệnh phân trắng lợn con có liên quan chặt chẽ tới phản ứng thích nghi của cơ thể đối với các yếu tố stress, biểu hiện qua sự biến động về hàm lượng một số thành phần trong máu như: đường huyết, cholesterol, sắt, kali, natri

Nguyễn Vĩnh Phước, (1978) đã phân lập được E.coli và nhận định vi khuẩn

Trang 16

có vai trò nhất định trong bệnh phân trắng lợn con.

Để xác định vai trò của vi khuẩn E.coli và Salmonella trong phân lợn mắc hội chứng tiêu chảy, Tạ Thị Vịnh và Đặng Khánh Vân (1996) đã tiến hành nghiên cứu ở các tỉnh phía bắc Việt Nam và kết luận sau:

- Vi khuẩn E.coli và Salmonella đều thấy trong phân lợn bệnh cao hơn lợn bình thưòng

- Tiêu chảy ở lợn 1- 21 ngày tuổi, có thấy vi khuẩn E.coli mang kháng nguyên K88

cao hơn nhiều lần so với lợn mắc hội chứng tiêu chảy ở lứa tuổi khác

- Tống Vũ Thắng, Đậu Ngọc Hào, (2008), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa ô nhiễm Nấm mốc, E.coli, Salmonella, Clostridium perfringens trong thức ăn hỗn hợp và tỷ lệ lợn bị tiêu chảy trong mùa khô, mùa mưa tại 6 cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản ở Thành Phố Hồ Chí Minh

- Phạm Thế Sợn, Lê Văn Tạo, Cù Hữu Phú, Phạm Khắc Hiếu, (2008), đã nghiên cứu đặc tính của vi khuẩn E.coli, Samonella ssp, Clostridium perfringens gây bệnh lợn con tiêu chảy

- Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao ở lợn tiêu chảy thuộc lứa tuổi 22- 60 ngày

- Tạ Thị Vịnh (1996), nghiên cứu những biến đổi bệnh lý ở đường ruột trong bệnh phân trắng lợn con

- Nguyễn Thị Khanh, (1994), nghiên cứu chế phẩm Biolactyl trong khống chế hội chứng tiêu chảy lợn con

- Phạm Thế Sơn, Phạm Khắc Hiếu, (2008), nghiên cứu chế phẩm EM – TK21

để phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn từ 1 đén 90 ngày tuổi

Trang 17

2.5.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Tiêu chảy ở lợn xuất hiện khắp thế giới, một số tác giả đã nghiên cứu và công bố kết quả bệnh xuất hiện ở mọi phương thức chăn nuôi truyền thống hay chăn nuôi công nghiệp thậm chí trong cả điều kiện chăn nuôi sạch cũng không loại trừ được bệnh

- Theo A.G.Bactin cho rằng nguyên nhân chủ yếu do vệ sinh chuồng trại kém, chăm sóc quản lý kém, thức ăn chủ yếu thiếu chất dinh dưỡng (Đỗ Đức Diện, 1999)

- Theo A-Vkovashiki cho rằng ở giai đoạn chưa trưởng thành, dạ dày lợn con chưa có axít HCl tự do nên tác dụng diệt khuẩn của dạ dày chưa cao và khả năng tiêu hoá của dạ dày, ruột ở mức độ thấp Đây là một nguyên nhân hết sức quan trọng để quyết định sự hình thành bệnh

- Jsenve cho là phần cốt lõi của nguyên nhân gây bệnh là do stress lạnh, ẩm Những tác nhân gây stress rất quan trọng, chúng tác động vào cơ thể động vật gây ra

cơ chế bệnh lý, nghĩa là làm mất thăng bằng cơ thể, làm giảm khả năng thích ứng của

cơ thể với điều kiện ngoại cảnh mà tạo điều kiện cho bệnh phát sinh

- Tại trung tâm nghiên cứu Thú y ở Anh, Wales (1961) và Sojk- Sueeney (1963) nghiên cứu được 532 chủng E.coli phân lập được và các serotype thường gặp là:

Glawis Chning E Bacher.H (1992), lại xác định Clostridium perfringens Type

Trang 18

A và Typ C là một trong những nguyên nhân gây ỉa chảy và đã gây thiệt hại kinh tế lớn cho nguời chăn nuôi lợn.

Stevens, 1963 (trích theo Tạ Thị Vịnh, 1995) đã nghiên cứu phòng bệnh viêm ruột

ỉa chảy do E.coli và ông đưa ra 3 biện pháp chính:

+ Làm giảm số lượng E.coli

+ Tăng sức đề kháng của lợn con bằng cách cho lợn con bú sữa đầu và bổ sung sắt vào thức ăn cho lợn mẹ

+ Thực hiện các phương pháp chăm sóc quản lý nuôi dưỡng lợn mẹ trong thời

kỳ có chửa và lợn con trong thời kỳ 3 tuần tuổi đầu

Trang 19

Phần III ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Hội chứng tiêu chảy ở đàn lợn con từ sơ sinh đến cai sữa nuôi tại trại lợn Thành Long – Cư Yên – Lương Sơn – Hòa Bình

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:

- Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ nuôi tại trại Thành Long – Cư Yên Lương Sơn – Hoà Bình

- So sánh hiệu quả của một số phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ

- Tình hình chăn nuôi lợn của trại Thành Long – Cư Yên – Lương Sơn – Hoà Bình

Trang 20

* AMINOVITAL – HIGH inj

Là sản phẩn của công ty thuốc thú y Komipharm International

Trong 100 ml dung dịch chứa:

Calcium chloride 2mg L – Phenylalanine 0,35 mg

L – histidine HCL 0,02mg Monosodium Glutamate 0,08 mg

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.4.1 Phương pháp điều tra dựa vào số liệu được cung cấp tại phòng kỹ thuật của trại và qua quan sát trực tiếp

3.4.2 Phương pháp xác định bệnh dựa vào dịch tễ học, triệu chứng lâm

sàng và bệnh tích khi mổ khám gia súc chết

3.4.3 Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh

Để xác định các chỉ tiêu lâm sàng của bệnh, chúng tôi tiến hành theo dõi trên những lợn ở các lứa tuổi đã mắc bệnh Theo dõi tỉ mỉ và đếm chính xác những con có biểu hiện lâm sàng đặc trưng trên tổng số con theo dõi

3.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy theo độ tuổi của lợn con

Để xác định nội dung này, chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con đồng đều nhau, có cùng thời điểm sinh, cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi trong 3 giai đoạn: 1, 2 và 3 tuần tuổi

3.4.5 Phương pháp xác định tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ

3.4.6 Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị

Trang 21

Để thử nghiệm một số thuốc điều trị chúng tôi tiến hành phân 3 lô để

điều trị, những lô này đồng đều nhau Việc chọn thuốc để điều trị cho các lô

Tỷ lệ tử vong (%) =

Tổng số con chếtTổng số con mắc x 100

- Thời gian điều trị khỏi trung bình = N

n x

n i i i

Chi phí (VNĐ)

Tổng chi phí/1kgP/liệu trình (VNĐ)

Trang 22

Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:

+ Số con khỏi, tỷ lệ khỏi

+ Số con chết, tỷ lệ chết

+ Thời gian điều trị khỏi trung bình

+ Chi phí điều trị trung bình/con/liệu trình

+ Ảnh hưởng của mỗi phác đồ đến khả năng tăng trọng của lợn con

Trong quá trình điều trị, chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc điều trị cũng như nguyên tắc sử dụng kháng sinh và có biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng, hỗ trợ điều trị kịp thời

Trang 23

Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP

Trại lợn giống ngoại của công ty TNHH Thành Long, nằm trên địa bàn xã

Cư Yên-Lương Sơn- Hoà Bình Trại xây dựng năm 2002 với tổng diện tích 22.000m2 Trong đó diện tích sử dụng chăn nuôi khoảng 7000m2, diện tích vườn cây và khu xử lý nước thải khoảng 6000m2, còn lại là khu hành chính và khu nhà

ở của công nhân

Chủ trại là bà: Nguyễn thị kim Anh

Kỹ thuật chính là BSTY: Trần văn Tuấn

Trại gồm có 11 công nhân, 2 quản lý và 1 nhân viên bảo vệ. Trại được quản lý, giám sát chặt chẽ của chủ trại và kỹ thuật

Khu vực chăn nuôi được xây dựng bao gồm các khu chuồng: Khu chuồng mang thai với 4 dãy chuồng, mỗi dãy 60 lồng, đầu mỗi dãy là các ô chuồng nuôi lợn đực giống Khu chuồng đẻ giáp ranh với khu chuồng mang thai, chung 1 tường vách, gồm 72 lồng đẻ, 20 lồng chờ đẻ Tiếp đó đến khu chuồng cai sữa cách chuồng đẻ 1 vườn cây rộng 20m, gồm 2 dãy với 18 ô chuồng, mỗi ô chuồng rộng 30m2

Các khu chuồng được xây dựng theo hướng Đông – Nam, chuồng được xây dựng là chuồng kín, phía đầu chuồng là hệ thống dàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt hút gió, mái được căng phủ 1 lớp bạt, cách nền chuồng 2,2m, hai bên tường có hệ thống cửa sổ, chiều rộng 1,5m, chiều cao cách mặt nền chuồng 1,2m Ngoài các cửa chuồng có các hố vôi sát trùng ủng trước khi vào chuồng

Chuồng nái chửa và chờ phối, nái đẻ, lợn cai sữa, các ô chuồng được làm bằng khung thép, sàn chuồng được lắp ghép bằng các tấm sàn bê tông, tấm sàn nhựa có lỗ, cách nền chuồng một khoảng nhất định (khoảng 35 cm) Chuồng

Trang 24

nuôi lợn thịt tường được xây bằng gạch, nền láng xi măng Nền chuồng, rãnh thoát nước đều có độ dốc thích hợp, dễ vệ sinh.

Hệ thống máng ăn, máng uống được thiết kế rất phù hợp bao gồm: Máng ăn tự động bằng Inox hay xây rãnh, nước uống được dẫn từ hệ thống lọc nước tới từng ô chuồng bằng đường ống dẫn, ở đó có lắp các van uống

tự động

Hệ thống xử lý nước thải được xây dựng ở cuối các dãy chuồng, hầm Bioga, đảm bảo yếu tố vệ sinh môi trường

4.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CỦA TRẠI

4.2.1 Cơ cấu đàn lợn của trại

Về cơ cấu đàn của trại lợn giống ngoại Thành Long bao gồm lợn nái sinh sản, lợn đực giống và lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa, lợn thịt thương phẩm Cụ thể cơ cấu đàn của trại được thể hiện qua bảng 4.1:

Qua bảng 4.1 cho thấy rằng cơ cấu đàn lợn của trại gồm các giống lợn ngoại có năng xuất cao trên thị trường hiện nay Tổng đàn lợn sinh sản gồm 320 nái sinh sản với 2 giống lợn ngoại chủ yếu là Landrace và Yorkshire, có 8 đực giống thuộc 3 giống Duroc, Pietrain, Landrace dùng để khai thác tinh dịch cung cấp cho trại

Hiện nay, trung bình một nái sinh sản của trại sản xuất được 2,4 lứa/năm

Tỷ lệ sơ sinh trung bình 11,2 con/nái, tỷ lệ sống sót đến 24 giờ đạt 10,7 con/ nái,

tỷ lệ lợn con cai sữa đạt 98%

Trang 25

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống ngoại Thành Long.

(Nguồn: phòng kỹ thuật)Đàn lợn con sinh ra là con lai mang 2 máu (1 máu của con bố và 1 máu của con mẹ) Riêng đối với đàn lợn hậu bị được nuôi từ những lợn con đẻ ra từ những lợn mẹ Landrace có những chỉ tiêu sinh sản tốt cho phối với lợn đực Landrace và mang một máu Landrace Lợn con đa phần là lợn lai 2 máu của 2 giống bố mẹ dùng để nuôi thịt thương phẩm hoặc bán cai sữa cho dân Bình quân mỗi tháng có khoảng 620 lợn con cai sữa với số lượng này được cân đối với khu chuồng cai sữa và khu thịt để có quyết định bán lợn cai sữa Đối với đàn lợn nuôi thịt thương phẩm đa phần là những lợn lai 2 máu nên mang những đặc điểm tốt về tăng trọng, tỷ lệ nạc, khả năng chống chịu với bệnh tật,…

Trang 26

4.2.2 Phương thức chăn nuôi và công tác phòng bệnh của trại

Trại được xây dựng từ năm 2002 với sự tư vấn kỹ thuật của Công ty CP (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam), vì vậy hệ thống chuồng trại theo quy mô công nghiệp tương đối hiện đại Với hệ thống chuồng khép kín, có quạt thông gió ở cuối dãy chuồng và hệ thống làm mát ở đầu chuồng có tác dụng làm mát

và ngăn chặn mầm bệnh theo không khí vào chuồng nuôi Chủ động điều chỉnh được mức độ nhiệt trong chuồng thích hợp Hệ thống khung lồng, sàn, máng ăn, vòi phun,

độ dốc nền chuồng,… được thiết kế phù hợp Khu chuồng mang thai nền chuồng bằng ximăng có độ dốc nền là 2% × chiều dài nền chuồng, khu chuồng đẻ có hệ thống lồng sàn cao cách mặt nền 30cm, độ dốc nền 10% × chiều dài lồng chuồng Mỗi lồng chuồng có 1 ổ úm cho lợn con

Lợn ở các lứa tuổi được nuôi ở các khu vực riêng biệt, các khu chuồng được thiết kế lần lượt từ khu chuồng mang thai - khu chuồng đẻ - khu cai sữa - khu thịt, giữa các khu được xây dựng cách nhau một khoảng trống Số đầu lợn được tính toán hợp lý giữa các khu

4.2.2.2 Công tác phòng bệnh của trại

Công tác phòng bệnh có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi, giúp giảm thiểu những tác động của dịch bệnh, tăng hiệu quả chăn nuôi Do

đó việc phòng bệnh là vô cùng quan trọng Phòng bệnh chủ yếu tập chung vào hai khâu đó là :

Trang 27

Vệ sinh chuồng trại

Khâu vệ sinh chuồng trại có vai trò rất lớn đối với chăn nuôi Nó có tác dụng hạn chế và ngăn chặn mầm bệnh tiếp xúc với cơ thể vật nuôi Nhận thức được ý nghĩa đó, cán bộ và công nhân trong trại đã áp dụng các biện pháp sau:

+ Hạn chế người lạ ra và trại, trong trường hợp có người lạ vào thì phải lội qua hố khử trùng ở trước cổng trại và phải nặc quần áo bảo hộ lao động của trại

+ Khu vực chuồng trại luôn được vệ sinh và thu dọn phân hàng ngày

+ Thuốc sát trùng được sử dụng ở trại là: FAM-30, Han – Iodine 10%, vôi bột, sút,… Công tác vệ sinh phòng bệnh luôn được thực hiện định kỳ hàng tuần

Vệ sinh thức ăn nước uống

Thức ăn và nước uống có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của lợn, do đó việc vệ sinh thức ăn nước uống là khâu không thể chủ quan trong chăn nuôi lợn công nghiệp

+ Thức ăn cho lợn trong trại thương xuyên được kiểm tra để phát hiện và loại trừ thức ăn không đảm bảo chất lượng, thức ăn nhiễm nấm mốc

+ Các máng ăn sau khi được sử dụng đều được vệ sinh sạch sẽ, riêng máng tập

ăn cho lợn con được định kỳ rửa 2 – 3 lần/ngày rồi để khô từ 1 – 2 giờ rồi mới cho cám vào

+ Nước uống cho lợn được bơm trực tiếp lên bể lọc rồi theo hệ thống ống dẫn đến các vòi uống tự động

Ngày đăng: 12/08/2014, 06:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bình, Trần Văn Thiên (2008), Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc và một số phác đồ điều trị bệnh gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Văn Bình, Trần Văn Thiên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
2. Nguyễn Lân Dũng và cộng sự (1976), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, tập II. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
3. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con, các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
4. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
5. Vũ Duy Giảng (2001), Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn gia súc
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
7. Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông (2000), Giáo trình chăn nuôi lợn, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Võ Trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
8. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (2000), Thực hành điều trị thú y, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành điều trị thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
10. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2003), Thuốc thú y và cách sử dụng. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
11. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí, Một số bệnh quan trọng ở lợn. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
12. Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch (1997), “Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn”. Tạp chí KHKT Thú Y. Tập IV (số 1), Tr 15 – 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm ruột ỉa chảy ở lợn
Tác giả: Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Phùng Quốc Chướng, Chu Đức Thắng, Phạm Ngọc Thạch
Năm: 1997
13. Lê Văn Năm (2007), Thuốc thú y và hướng dẫn sử dụng. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và hướng dẫn sử dụng
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2007
14. Vũ Văn Ngữ và cộng sự (1997), Loạn khuẩn đường ruột và tác dụng điều trị của Colisuptil, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loạn khuẩn đường ruột và tác dụng điều trị của Colisuptil
Tác giả: Vũ Văn Ngữ và cộng sự
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1997
15. Nguyễn Vĩnh Phước (1970), Vi sinh vật học thú y, tập 2. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học thú y, tập 2
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1970
16. Nguyễn Vĩnh Phước (1976), Giáo trình thực tập vi sinh vật thú y. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực tập vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1976
17. Nguyễn Vĩnh Phước (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1978
18. Nguyễn Như Thanh (1997), Vi sinh vật thú y. NXB Nông nghiệp Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà nội
Năm: 1997
20. Nguyễn Thiện, Phan Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Hoàng Văn Tiến, Võ Trọng Hốt (2004), Chăn nuôi lợn hướng nạc ở gia đình và trang trại, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn hướng nạc ở gia đình và trang trại
Tác giả: Nguyễn Thiện, Phan Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Hoàng Văn Tiến, Võ Trọng Hốt
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2004
21. Trịnh Văn Thịnh (1985), Bệnh lợn ở Việt Nam. NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn ở Việt Nam
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1985
22. Giáo trình sinh lý học gia súc. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
23. Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân và cộng sự (1996), Bước đầu thăm dò xác định E.coli và Salmonella trên lợn bình thường và lợn mắc hội chứng tiêu chảy. Tạp chí KHKT Thú y, 1996; 3, 41, 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu thăm dò xác định E.coli và Salmonella trên lợn bình thường và lợn mắc hội chứng tiêu chảy
Tác giả: Tạ Thị Vịnh, Đặng Khánh Vân và cộng sự
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống ngoại Thành Long. - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.1. Cơ cấu đàn lợn của trại lợn giống ngoại Thành Long (Trang 25)
Bảng 4.2. Lịch tiêm phòng bệnh bằng vaccine và thuốc tại Trại lợn giống  ngoại Thanh long - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.2. Lịch tiêm phòng bệnh bằng vaccine và thuốc tại Trại lợn giống ngoại Thanh long (Trang 28)
Bảng 4.4. Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại  trại trong 4 tháng đầu năm 2010. - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.4. Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con theo mẹ tại trại trong 4 tháng đầu năm 2010 (Trang 30)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội  chứng tiêu chảy ở lợn con. - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của số lứa đẻ của lợn mẹ đến tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con (Trang 37)
Bảng 4.7. Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng  tiêu chảy (n = 75con). - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.7. Các triệu chứng lâm sàng của lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy (n = 75con) (Trang 38)
Bảng 4.8. So sánh hiêu quả của các phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở  lợn con theo mẹ - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.8. So sánh hiêu quả của các phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ (Trang 40)
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của 3 loại phác đồ điều trị đến khả năng tăng trọng  của lợn con và chi phí điều trị của mỗi phác đồ - hoi chung tieu chay o lon potx
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của 3 loại phác đồ điều trị đến khả năng tăng trọng của lợn con và chi phí điều trị của mỗi phác đồ (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w