Dịch vụ bao gồm từ những loại đơn giản có liên quan đến nhu cầu thiết yếu của con người như ăn, ở, mặc, đi lại, … đến các dịch vụ liên quan đến công nghệ sản xuất ra sản phẩm vật chất, c
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG ĐỒNG BỘ
John S Oakland
2/ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG (dạng sơ đồ)
GS Nguyễn Quang Toản, Chương trình đào tạo từ xa, 1994
3/ CRITICAL QUALITY LEVERS
Xerox Canada Inc
4/ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM THEO TQM & ISO – 9000 PGS.TS Nguyễn Quốc Cừ, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2000 5/ ISO 9000 LÀ GÌ ?
Nguyễn Kim Định, NXB Đại học tổng hợp, TPHCH 1995
6/ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
Tạ Thị Kiều An – Ngô Thị Aùnh - Nguyễn Hoàng Kiệt
– Đinh Phượng Vương, NXB Giáo Dục 1998 7/ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG
GS Nguyễn Quang Toản, Đại học Mở – Bán công TPHCM 1995
-WX -
Trang 3http://www.ebook.edu.vn 1
BÀI 1 CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
KHÁI NIỆM SẢN PHẨM
1 Khái niệm sản phẩm
Đối tượng vật chất của quản trị chất lượng là sản phẩm Do vậy việc nhận
thức một cách đúng đắn về khái niệm sản phẩm là vô cùng quan trọng, để từ đó
có thể đề ra những giải pháp đồng bộ, toàn diện để quản lý và nâng cao chất
lượng sản phẩm
Nói đến thuật ngữ sản phẩm trong nền kinh tế thị trường, người ta công nhận
cả sản phẩm thuần vật chất và sản phẩm dịch vụ
Dịch vụ bao gồm từ những loại đơn giản có liên quan đến nhu cầu thiết yếu
của con người như ăn, ở, mặc, đi lại, … đến các dịch vụ liên quan đến công nghệ
sản xuất ra sản phẩm vật chất, công nghệ trí tuệ … Theo sự phân chia của các
chuyên gia Liên Hiệp Quốc, dịch vụ được chia thành các loại chủ yếu sau đây:
o Dịch vụ liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng
khoán, cổ phần …
o Dịch vụ liên quan đến du lịch, vận chuyển, phát triển với bên ngoài
o Dịch vụ liên quan đến đào tạo, huấn luyện, chăm sóc sức khoẻ …
o Dịch vụ liên quan đến công nghệ trí tuệ, kỹ thụât cao (dữ liệu thông tin,
phát minh, sáng tạo, bí quyết … )
Dịch vụ ngày nay phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong nền
kinh tế của một nước Người ta gọi đây là nền kinh tế mềm (Softomica)
Kinh tế xã hội phát triển thì cơ cấu giá trị sản phẩm vật chất và sản phẩm
dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm xã hội cũng thay đổi theo hướng giá trị thu
nhập từ các sản phẩm dịch vụ ngày càng tăng Từ đó dẫn đến nhiều thay đổi của
nền kinh tế như thay đổi về đầu tư, về phân công lao động xã hội, về năng suất
lao động … Căn cứ vào tỉ trọng giá trị của khu vực dịch vụ trong thu nhập GNP,
người ta có thể đánh giá được mức độ phát triển của một quốc gia
Tỉ trọng giá trị sản phẩm dịch vụ trong cấu thành GNP ở khu vực khác nhau:
¾ Các nước công nghiệp phát triển 60 – 80%
¾ Các nước đang phát triển 40 – 60%
¾ Các nước khác 20 – 40 %
Trang 42
2 Phần cứng và phần mềm của sản phẩm trong kinh doanh
Sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thông qua các thuộc tính của
mình, có thể chia làm hai nhó lớn sau đây:
Nhóm thứ nhất là nhón thụôc tính công dụng – phần cứng – vật chất –
nói lên công dụng đích thực của sản phẩm Các thuộc tính nhóm này phụ
thuộc vào bản chất, cấu tạo của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật
và công nghệ Phần này chiếm khoảng 20 – 40% giá trị sản phẩm
Nhóm thứ hai là nhóm thuộc tính thụ cảm dược cả nhận bỡi chính người
tiêu dùng – phần mềm - phi vật chất Các thuộc tính này chỉ xuất hiện
khi có sự tiếp xúc, tiêu dùng sản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng,
đặc biệt là các dịch vụ trước và sau khi bán hàng
Nhóm thuộc tính thụ cảm – phần mềm – rất khó lượng hoá và ngày càng trở
nên quan trọng trong việc làm cho sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng hơn Hiện
nay theo ước tính phần mềm của sản phẩm thường chiếm 60 – 80% giá trị sản
phẩm Do vậy việc khai thác và nâng cao thuộc tính thụ cảm – phần mềm của
sản phẩm: cảm giác thích thú, thoả mãn, cảm giác hợp thời trang, sang trọng …
thông qua các hoạt động quảng cáo, hướng dẫn sử dụng, dịch vụ trước và sau khi
bán hàng, chế độ bảo hành … sẽ tăng đáng kể tính cạnh tranh của sản phẩm
Quan sát sự tiêu dùng trên thị trường, chúng ta có thể thấy rằng: nhiều khi người
tiêu dùng mua một sản phẩm nào đó không hẳn để sử dụng công dụng đích thực
của nó Ví dụ rất nhiều người mua giày thể thao để dùng cho mục đích … phi thể
thao
Trong nền kinh tế thị trường, phần mền của sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong
kinh doanh Vì vậy cần phải chú trọng và nghiên cứu để tăng tính cạnh tranh của
sản phẩm
SẢN PHẨM - HAM MUỐN HỨA HẸN
Ta không chỉ bán Mà bán
+ Đồ gỗ + Sự sang trọng, tiện nghi
+ Bó hoa + Sự thanh lịch, niềm hy vọng
+ Vé sổ số + Một vận may
+ Máy giặt, máy hút bụi + Thời gian và giải phóng khỏi,
+ Thức ăn nguội + Thời gian và sự tiện lợi
+ Sách + Hiểu biết, tri thức
+ Mỹ phẩm + Cái đẹp, hy vọng và ước mơ
Trang 53
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1 Khái niệm:
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay
gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Đã có nhiều học giả nghiên cứu,
song tuỳ theo góc độ khảo sát khác nhau mà có những quan điểm giải thích khác
nhau:
¾ Theo từ điển tiếng Việt phổ thông “Chất lượng là tổng thể những tính
chất, những thuộc tính cơ bản của sự vật … làm cho sự vật này phân biệt
với sự vật khác”
¾ Theo ISO.8402 - 1986 “Chất lượng là tổng thể những đặc điểm, những
đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những
điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng, tên gọi của sản
phẩm”
¾ Philip B Crosby trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả
chất lượng như sau : “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”
¾ Theo J.Juran người Mỹ “Chất lượng là sự thỏa mãn những nhu cầu thị
trường với chi phí thấp nhất”
Từ đó, chúng ta có thể quan niệm về chất lượng sản phẩm hàng hóa: “Chất
lượng của sản phẩm là tổng hợp các tính chất, các đặc trưng của sản phẩm tạo
nên giá trị sử dụng, thể hiện khả năng, mức độ thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với
hiệu quả cao, trong những điều kiện sản xuất, kinh tế – xã hội nhất định”
Theo quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm thể hiện các
khía cạnh sau:
a Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thể hiện
tính năng kỹ thụât hay tính hữu dụng của nó
b Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí Người tiêu dùng
không dễ gì mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào
c Chất lượng sản phẩm phải gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của
từng người, của từng địa phương … phong tục tập quán của một cộng
đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ mà thông thường người ta cho
là “có chất lượng”
Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu
cầu Sự phù hợp này thể hiện trên 3 phương diện (3P) :
- Performance – Perfectibility : Hiệu năng, khả năng, hoàn thiện
- Price : Giá thoả mãn nhu cầu
Trang 64
- Punctuality : Cung cấp đúng thời điểm
GIÁ NHU CẦU
PRICE
Thực trạng quản trị
Công việc thực hiện
Sản phẩm được tao ra
NHU CẦU THỊ TRƯỜNG
SỰ PHÙ HỢP
TỔN THẤT
HỮU HÌNH
TỔN THẤT VÔ HÌNH
CHI PHÍ KHÔNG CHẤT LƯỢNG SCP
SỰ KHÔNG PHÙ HỢPNON-CONFORMITY
Trang 75
2 Sự hình thành chất lượng sản phẩm :
Vòng tròn chất lượng của ISO−9004 và TCVN 5204 được chia thành 3 phân
hệ: trước sản xuất, sản xuất và tiêu dùng
Triển khai
Trưng cầu
ý kiến thanh lý Bán hàng,
Kiểm tra bao gói
Vận chuyển Dự trữ Bảo quản
(3)
(4) (5)
(6) (7) (8)
Hình 3 : Chu trình hình thành chất lượng 3 phân hệ
Phân hệ trước sản xuất (nghiên cứu − thiết kế) :
QT.1 − Nghiên cứu : nhu cầu về số lượng, yêu cầu về chất lượng, mục tiêu
kinh tế cần đạt được
QT.2 − Thiết kế : xây dựng, quy định chất lượng sản phẩm, xác định nguồn
nguyên vật liệu, nơi tiêu thụ sản phẩm
Phân hệ trong sản xuất :
QT.3 − Nghiên cứu triển khai: thiết kế dây chuyền công nghệ, sản xuất thử,
đầu tư xây dựng cơ bản, dự toán chi phí sản xuất, giá thành, giá bán…
QT.4 − Chế tạo sản phẩm
QT.5 − Kiểm tra chất lượng sản phẩm, tìm biện pháp đảm bảo chất lượng
quy định, bao gói, thu hóa… chuẩn bị xuất xưởng
Phân hệ tiêu dùng :
QT.6 − Vận chuyển sang mạng lưới kinh doanh, tổ chức dự trữ bảo quản…
Trang 86
QT.7 − Bán hàng, dịch vụ kỹ thuật − bảo hành, hướng dẫn sử dụng
QT.8 − Trưng cầu ý kiến khách hàng về chất lượng, số lượng… của sản
phẩm, lập dự án cho bước sau, thanh lý sau sử dụng
Sau quá trình 8, quá trình 9 được lặp lại như quá trình 1; quá trình 10 được
lặp lại như quá trình 2 v.v Trong suốt quá trình phải không ngừng cải tiến, nâng
cao chất lượng sản phẩm, nhằm đạt hiệu quả ngày càng cao Cho nên có thể
hình dung: quản lý chất lượng sản phẩm là một hệ thống khép kín, đi từ tiêu thụ
lại trở về với tiêu thụ và được lặp lại nhiều lần, lần sau hoàn hảo hơn lần trước
3 Các loại chất lượng của sản phẩm
Dựa vào quá trình hình thành chất lượng sản phẩm, người ta thường chia
ra các loại chất lượng sau đây để tiện theo dõi quản lý
3.1 Chất lượng thiết kế :
Chất lượng thiết kế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản
phẩm được phác thảo qua văn bản, trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các đặc
điểm của sản xuất − tiêu dùng, đồng thời có so sánh với chỉ tiêu chất lượng các
mặt hàng tương tự cùng loại của nhiều hãng, nhiều công ty trong và ngoài nước
3.2 Chất lượng chuẩn
Chất lượng chuẩn hay còn gọi là chất lượng phê chuẩn là giá trị các chỉ
tiêu đặc trưng được cấp có thẩm quyền phê chuẩn
Dựa trên cơ sở nghiên cứu chất lượng thiết kế, các cơ quan Nhà nước,
doanh nghiệp… điều chỉnh, xét duyệt những chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm
hàng hóa
3.3 Chất lượng thực tế
Chất lượng thực tế của sản phẩm là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm
thực tế đạt được do các yếu tố chi phối, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,
phương pháp quản lý v.v
3.4 Chất lượng cho phép
Chất lượng cho phép là mức độ cho phép về độ lệch các chỉ tiêu chất
lượng của sản phẩm giữa chất lượng thực với chất lượng chuẩn
Chất lượng cho phép của sản phẩm tùy thuộc vào điều kiện kinh tế − kỹ
thuật, trình độ lành nghề của công nhân, phương pháp quản lý doanh nghiệp…
3.5 Chất lượng tối ưu
Chất lượng tối ưu là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức
độ hợp lý nhất trong điều kiện kinh tế − xã hội nhất định, hay nói cách khác sản
phẩm hàng hóa đạt mức chất lượng tối ưu là sản phẩm thỏa mãn nhu cầu người
Trang 97
tiêu dùng; có khả năng cạnh tranh với nhiều hãng trên thị trường, sức tiêu thụ
nhanh, và đạt hiệu quả cao
Phấn đấu đưa chất lượng của sản phẩm hàng hóa đạt mức chất lượng tối
ưu là một trong những mục đích quan trọng của quản lý doanh nghiệp nói riêng,
quản lý kinh tế nói chung
Mức chất lượng tối ưu tùy thuộc vào đặc điểm tiêu dùng cụ thể của từng
nước, từng vùng ở những điểm khác nhau
Nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tỷ suất lợi nhuận trên một đơn vị sản
phẩm tạo điều kiện cạnh tranh với các hãng trên thị trường − chính là biểu thị
khả năng thỏa mãn toàn diện nhu cầu của thị trường trong những điều kiện xác
định với chi phí hợp lý
Theo sơ đồ Sacato Siro (Nhật), chất lượng tối ưu được xác định theo nguyên
tắc:
12
10 8 6
4 2 0
Chi phí sản xuất và lãi
Hình 4 : Chất lượng tối ưu (Sơ đồ SACATA − SIRO)
Z1, Z2, Z3 − giá thành sản phẩm cấp hạng 1, 2, 3
B1, B2, B3 − giá bán buôn sản phẩm cấp hạng 1, 2, 3
Q1, Q2, Q3 − chất lựơng sản phẩm cấp hạng 1, 2, 3 Theo sơ đồ trên, nếu nâng chất lượng sản phẩm từ Q3 lên tới Q2 thì chi phí
tăng lên 2, lợi nhuận tăng 6; lợi nhuận > chi phí
Trang 108
Nếu chất lượng sản phẩm tăng từ Q2 lên Q1 thì chi phí tăng 4, lợi nhuận
tăng 2; lợi nhuận < chi phí
Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, các mức chất lượng Q1, Q2, Q3 vẫn nằm
trong phạm vi cho phép khi trên thị trường có cạnh tranh lớn Ơû các mức chất
lượng này nhà sản xuất kinh doanh đều đạt được hiệu quả nhất định Q1, Q2, Q3
là chất lượng tối ưu của một loại sản phẩm
4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chỉ trên cơ sở xác
định đầy đủ các yếu tố, thì mới đề xuất được những biện pháp để không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm và tổ chức quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất
kinh doanh
Mỗi một ngành sản xuất kinh doanh có những đặt điểm riêng, tuy nhiên có
thể phân loại một số yếu tố cơ bản sau :
4.1 Một số yêu tố ở tầm vi mô
(Materials)
Ng vật liệu Năng lượng
Chất lượng sản phẩm
(Machines) Kỹ thuật Công nghệ Thiết bị
(Methods) Phương pháp tổ chức quản lý
Hình 5 : Quy tắc 4M
4.1.1 Nhóm yếu tố nguyên vật liệu (Materials)
Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào, có ảnh hưởng quyết định đến chất
lượng sản phẩm Muốn có sản phẩm đạt chất lượng tốt theo yêu cầu thị trường,
Trang 119
yêu cầu thiết kế Điều trước tiên, nguyên vật liệu để chế tạo sản phẩm phải đảm
bảo các yêu cầu : Về chất lượng, về số lượng và cung cấp đúng kỳ hạn, đúng
lịch sản xuất
4.1.2 Nhóm yếu tố kỹ thuật − công nghệ − thiết bị (Machines)
Nếu yếu tố nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định tính chất và chất
lượng của sản phẩm thì yếu tố kỹ thuật − công nghệ − thiết bị lại có tầm quan
trọng đặc biệt, có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm
Trong sản xuất hàng hóa, người ta sử dụng và phối trộn nhiều nguyên vật
liệu khác nhau về thành phần, về tính chất, về công dụng Nắm vững được đặc
tính của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết Song trong quá
trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chất lượng sản phẩm theo tỷ lệ phối trộn là
điều quan trọng để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật liệu, xác định đúng
đắn các chế độ gia công để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm
Nhìn chung các sản phẩm hiện đại phải có kết cấu gọn nhẹ, thanh nhã,
đơn giản, đảm bảo thỏa mãn toàn diện các yêu cầu sử dụng
Công nghệ: quá trình công nghệ có ảnh hưởng lớn quyết định chất lượng
sản phẩm Đây là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều, hoặc bổ sung,
cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao cho phù
hợp với công dụng của sản phẩm
Bằng nhiều dạng gia công khác nhau: gia công cơ, nhiệt, hóa học, hóa lý…
vừa tạo hình dáng kích thước, khối lượng, hoặc có thể cải thiện tính chất nguyên
vật liệu để đảm bảo chất lượng của sản phẩm theo mẫu thiết kế
Ngoài yếu tố kỹ thuật − công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết
bị Kinh nghiệm cho thấy rằng, kỹ thuật và công nghệ được đổi mới, nhưng thiết
bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao được chất lượng sản phẩm Hay nói cách
khác nhóm yếu tố kỹ thuật − công nghệ − thiết bị có mối quan hệ tương hổ khá
chặt chẽ, không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn
tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hóa chủng loại,
nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá
thành hạ
4.1.3 Nhóm yêu tố phương pháp tổ chức quản lý (Methods)
Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật − công nghệ − thiết bị hiện đại, nhưng
không biết tổ chức quản lý lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức thực hiện tiêu
chuẩn, tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, tổ chức
vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm hàng hóa, tổ chức sửa chữa, bảo hành
hay nói cách khác không biết tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh … thì không
thể nâng cao chất lượng sản phẩm
4.1.4 Nhóm yếu tố con người (Men)
Trang 1210
Nhóm yếu tố con người bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ công
nhân viên trong một đơn vị và người tiêu dùng
Đối với các cán bộ lãnh đạo các cấp cần có nhận thức mới về việc nâng
cao chất lượng sản phẩm, để có những chủ trương, những chính sách đúng đắn
về chất lượng sản phẩm, thể hiện trong mối quan hệ sản xuất và tiêu dùng, các
biện pháp khuyến khích tinh thần vật chất, quyền ưu tiên cung cấp nguyên vật
liệu, giá cả, tỷ lệ lãi vay vốn …
Đối với cán bộ công nhân viên trong một đơn vị kinh tế trong một doanh
nghiệp phải có nhận thức rằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách
nhiệm và vinh dự của mọi thành viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thực đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và cũng là của chính bản thân
mình
Sự phân chia các yếu tố trên chỉ là quy ước Tất cả bốn nhóm yếu tố trên
đều trong một thể thống nhất và trong mối quan hệ hữu cơ với nhau
4.2 Một số yếu tố ở tầm vĩ mô
Chất lượng sản phẩm hàng hóa là kết quả của quá trình thực hiện một số
biện pháp tổng hợp: kinh tế − kỹ thuật hành chính xã hội những yếu tố vừa
nêu trên mang tính chất của lực lượng sản xuất Nếu xét về quan hệ sản xuất, thì
chất lượng sản phẩm hàng hóa lại còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố sau:
4.2.1 Nhu cầu nền kinh tế :
Chất lượng của sản phẩm chịu sự chi phối của các điều kiện cụ thể của
nền kinh tế, thể hiện ở các mặt: đòi hỏi của thị trường, trình độ, khả năng cung
ứng của sản xuất, chính sách kinh tế của Nhà nước…
Nhu cầu của thị trường rất đa dạng phong phú về số lượng, chủng loại, kích
cỡ, tính năng kỷ thụât …thị trường trong nước khác với thị trường thế giới nhưng
khả năng của nền kinh tế thì có hạn : tài nguyên, vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật
công nghệ, đổi mới trang thiết bị, kỹ năng, kỹ xảo của cán bộ công nhân viên…
Như vậy, chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng hiện thực của
toàn bộ nền kinh tế
Nhạy cảm với thị trường là nguồn sinh lực của quá trình hình thành và phát
triển các loại sản phẩm, điều quan trọng là phải theo dõi, nắm bắt, đánh giá
đúng tình hình và đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hoá nhu cầu của thị
trường, trên cơ sở đó có đối sách đúng đắn
Chính sách kinh tế : Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và
mức thoả mãn các loại nhu cầu … có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất
lượng sản phẩm
4.2.2 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật :