1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam:

18 417 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 95,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ xuất nhập khẩu của Việt Nam:

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong những năm qua đã

có những chuyển biến tích cực góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng một đất công nghiệp hóa hiện đại hóa, một con rồng thứ năm ở Châu Á Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại phát triển mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu to lớn nhất, một bước phát triển nhanh

1 Tình hình hoạt động chung:

Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 năm đạt khoảng 67,3 tỷ USD vượt mục tiêu nêu trong chiến lược 10 năm (37 - 45 tỷ USD), bình quân hàng năm tăng 18,2%, trong đó, thời kỳ 1991-1995 là17,2 tỷ USD, tăng 17,8%, thời kỳ 1996-2000 là là 50,1 tỷ USD, tăng 18,6%

Kim ngạch xuất khẩu năm 2000 gấp khoảng 5,3 lần so với năm

1990, cao hơn mục tiêu nêu trong chiến lược là 5 lần, nhưng xuất khẩu đầu người chỉ tăng từ 36,3 USD năm 1990 lên 166 USD năm 2000, thấp hơn mục tiêu nêu trong Nghị quyết Đại hội VIII là 200 USD

2 Một số thành tựu nổi bật:

Thị trường được củng cố và mở rộng Cuối thập kỷ 1980 và đầu thập

kỷ 1990, ngoại thương Việt Nam chỉ có những bạn hàng chủ yếu là các nước thuộc Liên Xô và Đông Âu cũ với những mặt hàng xuất khẩu manh múi, đơn điệu, chủ yếu là nông sản nguyên liệu và hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gia công bán thành phẩm Tuy nhiên, khi thị trường khu vực này bị đột ngột thu hẹp, chúng ta đã nhanh chóng tìm kiếm, tiếp cận và mở rộng thị trường ở các khu vực khác để tránh sự hẫng hụt, tháo gỡ khó khăn

Trang 2

Nhờ có chính sách đổi mới đa phương hoá quan hệ kinh tế của Đảng

và Nhà nước, đến cuối năm 1997 và đầu năm 1998 hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đã có mặt trên thị trường của trên 150 nước ở khắp các châu lục với những chủng loại mặt hàng đa dạng và phong phú hơn Có một số mặt hàng đã có vị trí trên thị trường như dầu thô, gạo, hàng thuỷ hải sản chế biến, cà phê, cao su, quần áo may sẵn

Thị trường xuất - nhập khẩu của nước ta được mở rộng về phạm vi

và dung lượng Hiện nay, khu vực Châu Á vẫn đang là thị trường xuất và nhập khẩu lớn nhất của nước ta, đã chiếm gần 63% tổng kim ngạch xuất khẩu và gần 74% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN là những đối tác chiếm thị phần buôn bán lớn nhất trong số các đối tác Châu Á

Riêng các nước ASEAN chiếm 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu và 32,4% kim ngạch nhập khẩu của nước ta trong năm 1998 Triển vọng trong những năm cuối của thập kỷ này các nước Châu Á vẫn là những bạn hàng lớn nhất trong quan hệ buôn bán với nước ta

Hàng hoá của Việt Nam đã tiếp cận vào thị trường Châu Âu, Châu

Mỹ, đặc biệt là thị trường các nước EU, Hoa Kỳ và Canađa

Thị trường các nước Trung Đông cũng đã và đang được khai thác triệt để, bước đầu là các mặt hàng trả nợ như gạo, chè, cà phê, cá hộp, quần

áo may sẵn và một số mặt hàng tiêu dùng khác Đến nay, một số mặt hàng của Việt Nam như cà phê, gạo, chè đã có sức cạnh tranh trên thị trường này

Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã tìm kiếm các giải pháp khôi phục lại thị trường các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu sau một thời gian gián

Trang 3

đoạn, sẽ mở ra những khả năng mới trong quan hệ kinh tế và trao đổi hàng hoá khu vực này

Dung lượng hàng hoá tham gia thị trường quốc tế của Việt Nam ngày càng phát triển về cả khối lượng và chất lượng Tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu trong những năm 1991 - 1997 tăng bình quân 25% Tuy nhiên, năm 1998 do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á, kim ngạch xuất khẩu năm 1998 đã chững lại, chỉ tăng khoảng1,9% Năm

1999, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đã tăng trở lại 23,1% Kế hoạch năm 2000, dự kiến có thể tăng trên 11%

a, Xuất khẩu:

Cơ cấu hàng xuất khẩu đã thay đổi theo hướng phát huy lợi thế so sánh trong mối quan hệ kinh tế quốc tế Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông lâm thuỷ sản tuy vẫn ở vị trí đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu nhưng cũng có xu hướng giảm dần, từ bình quân là 48,0% thời

kỳ 1991 - 1995 giảm còn 38,5% trong thời kỳ 1996 - 2000, trong khi tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp vẫn tăng tương ứng từ 21,7% lên 35,9%

b, Nhập khẩu:

Về nhập khẩu, tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm đáng kể từ 16,4% bình quân thời kỳ 1991 - 1995 xuống còn 8,1% vào thời kỳ 1996 - 2000, trong đó riêng năm 1999 chỉ còn 5,9%, năm

2000 dự kiến giảm còn 4,7%

Nhập khẩu trong những năm qua tuy có tăng, nhưng tốc độ chậm dần Chúng ta tập trung chủ yếu vào nhập nguyên - nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, trong khi đã cố gắng giảm dần tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu

Trang 4

hàng tiêu dùng Một số mặt hàng trước đây vẫn phải nhập khẩu nay đã được thay thế bằng sản xuất trong nước, nhờ vậy giảm tương đối thâm hụt cán cân thương mại Kim ngạch nhập khẩu trong những năm qua cũng đã

có thay đổi về cơ cấu Tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu giảm đáng kể, trong khi tỷ trọng nhóm nguyên nhiên vật liệu tăng lên nhanh Thay đổi này phản ảnh chính sách khuyến khích sản xuất trong nước và giảm nhập khẩu những mặt hàng đã sản xuất trong nước có thể thay thế nhập khẩu được

Để giữ được tốc độ tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu, trước hết là do chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu Việc từng bước hoàn chỉnh khuôn khổ pháp luật theo kinh tế thị trường và đổi mới chính sách xuất nhập khẩu đã thực sự thúc đẩy các hoạt động xuất nhập khẩu Trong 10 năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn, giảm các thủ tục hành chính, trở ngại về thuế má, hỗ trợ tài chính cho xuất khẩu, như hỗ trợ lãi suất vay vốn sản xuất và hoạt động xuất khẩu, trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu mới vào thị trường mới, chính sách khen thưởng, khuyến khích các doanh nghiệp tìm được mặt hàng xuất khẩu mới, thị trường mới Ban hành chính sách về quản lý ngoại hối, điều chỉnh tỷ giá của đồng USD

so với đồng Việt Nam để khuyến khích xuất khẩu, chính sách đầu tư nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu Tuy nhiên, lĩnh vực xuất nhập khẩu đang đứng trước những khó khăn mới Những hạn chế trong các khâu tạo nguồn hàng, chế biến nâng cao chất lượng đã làm cho các sản phẩm xuất khẩu của ta không đủ sức cạnh tranh trên thị trường Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu vẫn chưa có những chuyển dịch tích cực, xuất khẩu hàng nông sản thô, nguyên liệu thô còn chiếm tỷ trọng lớn, nên giá trị thấp Hơn nữa, do khả năng tiếp cận thị trường kém, nhiều mặt hàng của ta còn phải xuất khẩu qua trung gian nên hạn chế kim ngạch thu được

Trang 5

Hiện nay, khối lượng nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đã được khai thác tới mức tối đa trong sản lượng sản xuất như gạo, cà phê, cao su,

Do vậy, muốn tăng giá trị xuất khẩu cần phải đầu tư phát triển thâm canh, tăng năng suất và đặc biệt đầu tư vào khâu công nghiệp chế biến sâu, tăng nhanh chất lượng để đủ sức cạnh tranh và tìm kiếm thêm thị trường xuất khẩu

c, Một số nước có quan hệ xuất nhập khẩu với Việt Nam:

Thị trường xuất khẩu có ý nghĩa lớn đối với việc tăng trưởng xuất khẩu theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu, nếu năm 2000 mới có 7 nước và vùng lãnh thổ đạt trên 500 triệu USD (Nhật Bản, Trung Quốc, Ôxtrâylia, Xingapo, Đài Loan, Đức, Mỹ), thì đến năm 2004 đã cao gấp đôi, lên 13 (thêm Anh, Hàn Quốc, Malaixia, Hà Lan, Pháp, Bỉ)

Mỹ hiện là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời cũng là nước có tốc độ tăng rất cao: năm 2004 gấp trên 6,8 lần năm 2000, bình quân 1 năm tăng 61,6%, cao gấp nhiều lần tốc độ tăng chung Đây là kết quả của việc ký Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Mỹ Tuy nhiên, thời gian gần qua xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ gặp khó khăn sau các vụ kiện cá basa, tôm, hạn ngạch dệt may, tiền đặt cọc xuất khẩu thuỷ sản (5 tháng đầu năm 2005 chỉ tăng 13,2%, tỷ trọng chỉ còn chiếm 16,8%) và tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ so với tổng kim ngạch nhập khẩu lên đến 1526 tỷ USD của Mỹ còn rất nhỏ (chiếm chưa đến 3,3%), nên việc mở rộng mặt hàng (để tránh dồn vào những mặt hàng đã có kim ngạch lớn) và với kết quả đàm phán song phương để Việt Nam gia nhập WTO trong chuyến thăm Mỹ mới đây của Thủ tướng Phan Văn Khải, thì Mỹ vẫn là thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam Mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam sang Mỹ là dệt may,

Trang 6

thuỷ sản, giày dép, dầu thô, sản phẩm gỗ, hạt điều nhân, cà phê, hàng thủ công mỹ nghệ, hạt tiêu

Nhật Bản là nước nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau Mỹ Năm

2004 đạt 3.502,4 triệu USD, tăng 36% so với năm 2000 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm 13,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Năm tháng đầu năm 2005, xuất khẩu vào Nhật Bản tăng tới 37,5%, cao gấp hơn hai lần tốc độ chung và tỷ trọng đã tăng lên đạt 14% Mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu sang Nhật là thủy sản, dệt may, dầu thô, dây điện và cáp điện, điện tử vi tính và linh kiện, sản phẩm gỗ, giày dép, than đá, hàng thủ công mỹ nghệ, cà phê, rau quả, cao su, gỗ

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam Năm

2004 đã đạt 3725,5 triệu USD, tăng 78% so với năm 2000, chiếm 10,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Trung Quốc là thị trường đầy tiềm năng, do đây là thị trường gần, có số dân đông nhất thế giới và sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương cũng như kết quả đàm phán song phương để Việt Nam gia nhập WTO thì xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc sẽ gia tăng nhanh Mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc là dầu thô, cao su, thuỷ sản, hạt điều, than đá, rau hoa quả, cao su

Ôxtrâylia là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam Nếu năm

1995 mới đạt 55,4 triệu USD thì năm 2000 đã đạt 1.272,5 triệu USD và năm 2004 đạt 1.821,7 triệu USD Tỷ trọng xuất khẩu sang Ôxtrâylia chiếm 6,9% Năm tháng 2005, xuất khẩu sang thị trường này tăng tới 73,7% Mặt hàng chủ yếu là dầu thô, thuỷ sản, hạt điều nhân, sản phẩm gỗ, giày dép, dệt may, thủ công mỹ nghệ, cà phê

Trang 7

Xingapo là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam đồng thời cũng là thị trường khá sớm Năm 1995 đạt 689,8 triệu USD, năm 2000 đạt 885,9 triệu USD, năm 2004 đạt 1.370 triệu USD Mặt hàng chủ yếu là dầu thô, hàng thuỷ sản, điện tử, máy tính và linh kiện, cao su, gạo, hàng dệt may, cà phê, hạt tiêu, giày dép, lạc nhân, hạt điều, hàng rau quả

Đức là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam Năm 1995 đạt

218 triệu USD, năm 2000 đạt 730,3 triệu USD, năm 2004 đạt 1.066,2 triệu USD Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang đây bao gồm giày dép, dệt may, cà phê, xe đạp và phụ tùng, sản phẩm gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản, cao su, điện tử máy tính và linh kiện, hạt tiêu

Anh là thị trường xuất khẩu lớn thứ 7 của Việt Nam Năm 1995 mới đạt 74,6 triệu USD, năm 2000 đạt 479,1 triệu USD, năm 2004 đạt 1.011,4 triệu USD Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Anh là giày dép, hàng dệt may, sản phẩm gỗ, xe đạp và phụ tùng, cà phê, hàng thuỷ sản, hạt điều nhân, hàng thủ công mỹ nghệ, cao su

Ngoài 7 đại gia đạt trên 1 tỷ USD như trên, còn có 6 nước và vùng lãnh thổ khác đạt trên 500 triệu USD là Đài Loan 905,9 triệu USD, Hàn Quốc 603,5 triệu USD, Malaixia 601,1 triệu USD, Hà Lan 581,8 triệu USD, Pháp 557 triệu USD, Bỉ 512,8 triệu USD Triển vọng có thêm Philippin, Indonexia, Thái Lan

Về nhập khẩu, có các thị trường chủ yếu sau đây.

Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Nếu năm 1995 mới có 329,7 triệu USD thì năm 2000 đã là 1401,1 triệu USD, năm 2004 lên đến 4456,5 triệu USD Mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc là xăng dầu, vải, phân bón, sắt thép, hoá chẩt, phụ liệu giày dép, điện tử vi tính và linh kiện, rau hoa quả, xe máy, ngô, sợi dệt đã

Trang 8

xe, phụ liệu may mặc, lúa mỳ, động cơ đốt trong, phụ liệu thuốc lá, tàu thuyền, thiết bị, ôtô, nhôm, nguyên phụ liệu dược phẩm Trong quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Việt Nam ở vị thế nhập siêu lớn, năm 2004 lên đến 1721 triệu USD, đứng thứ 4 trong các nước

Đài Loan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam Nhập khẩu năm 2000 là 1879,9 triệu USD, năm 2004 là 3698 triệu USD Hàng nhập khẩu chủ yếu là vải, phụ liệu dệt may da, xăng dầu, sắt thép, chẩt dẻo, sợi dệt, ôtô, thiết bị dệt may, giấy, xe máy Đồng thời, Việt Nam luôn luôn ở vị thế nhập siêu ngày một lớn với Đài Loan: năm 2000 là 1123,3 triệu USD, đến năm 2004 là 2792,1 triệu USD, lớn nhất trong các nước và vùng lãnh thổ

Xingapo là thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam Năm 2000

là 2694,3 triệu USD, năm 2004 là 3618,5 triệu USD Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu ở Xingapo là xăng dầu, điện tử vi tính và linh kiện, chẩt dẻo, phụ liệu thuốc lá, hoá chẩt, sắt thép, nhôm, phân bón, giấy, nhựa đường, thiết

bị, tàu thuyền, tân dược, Tuy nhiên, Việt Nam luôn luôn ở vị thế nhập siêu đối với Xingapo và nhập siêu từ đây hiện lớn thứ 3 sau Đài Loan và Hàn Quốc: năm 2000 là 1808,4 triệu USD, năm 2004 là 2248,5 triệu USD

Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam: năm 2000

là 2300,9 triệu USD, năm 2004 là 3552,6 triệu USD Mặt hàng nhập khẩu

từ đây là sắt thép, điện tử máy tính, ôtô, vải, thiết bị, chẩt dẻo, hàng dệt may, xe máy, hoá chẩt, đồng, phân bón, giấy Việt Nam đã chuyển từ vị thế xuất siêu (trước 2002) sang nhập siêu (từ 2002) tuy mức nhập siêu còn nhỏ

Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam: năm

2000 là 1753,6 triệu USD, năm 2004 là 3328,4 triệu USD Mặt hàng nhập

Trang 9

khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc là vải, ôtô, phụ liệu giày dép, sắt thép, phụ liệu may mặc, chẩt dẻo, điện tử máy tính và linh kiện, thiết bị, xăng dầu, sợi dệt, tân dược, nhôm, giấy, hoá chẩt, kẽm, phân bón, đồng Trong quan hệ buôn bán với Hàn Quốc, Việt Nam luôn ở vị thế nhập siêu; mức nhập siêu hiện lớn thứ 2 sau Đài Loan: năm 2000 là 1401 triệu USD, năm 2004 là 1810,9 triệu USD

Thái Lan là thị trường nhập khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam với kim ngạch năm 2004 lên đến 1858 triệu USD và nhập siêu từ đây cũng đã lên đến 1367,1 triệu USD, lớn thứ 5 trong các nước và vùng lãnh thổ

Malaxia là thị trường nhập khẩu lớn thứ 7, hiện đã vượt mức 1,2 tỷ USD Nhập siêu từ đây cũng lớn thứ 7, lên tới 613,6 triệu USD

Mỹ là thị trường nhập khẩu đứng thứ 8 với kim ngạch 1127,4 triệu USD Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam luôn luôn ở vị thế xuất siêu, với mức xuất siêu lớn và liên tục tăng lên (năm 2000 là 369,4 triệu USD, năm 2004 là 3364,9 triệu USD)

Hồng Kông là thị trường nhập khẩu lớn thứ 9 của Việt Nam, hiện đã đạt 1074,7 triệu USD Trong quan hệ buôn bán với Hồng Kông, Việt Nam luôn luôn ở vị thế nhập siêu, hiện đã ở mức 695 triệu USD, lớn thứ 6 trong các nước và vùng lãnh thổ

Ngoài 9 “đại gia” như trên, còn có một số nước và vùng lãnh thổ mà Việt Nam nhập khẩu vượt 500 triệu USD, như Đức, Liên bang Nga, Inđônêxia, Thụy Sỹ, Pháp

3 Các mặt hàng chủ yếu xuất nhập khẩu chủ yếu :

a, Xuất khẩu :

Trang 10

- Dầu thô: trong tháng xuất khẩu hơn 1,55 triệu tấn, giảm 10,1% về lượng so với tháng 1/2005 Nhưng do giá xuất khẩu bình quân tăng 47,5%

so với cùng kỳ năm trước nên trị giá đạt là 745 triệu USD, tăng 32,6% Dầu thô tiếp tục là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với trị giá chiếm tới 24,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Thị trường chính của xuất khẩu dầu thô Việt Nam tháng này là Ôxtrâylia: 460 nghìn tấn, Singapore: 213 nghìn tấn, Trung Quốc: 181 nghìn tấn, Mỹ: 150 nghìn tấn, Nhật Bản: 137 nghìn tấn,…

- Hàng dệt may: trong tháng xuất khẩu 487 triệu USD, tăng 34,2% so với tháng 1/2005 Đây vẫn là nhóm hàng chủ lực lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 15,9% tổng kim ngạch xuất khẩu trong tháng của cả nước Kim ngạch hàng dệt may sang Mỹ trong tháng đã đạt 259 triệu USD, tăng 33%

so với cùng kỳ năm trước, chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước Xuất khẩu nhóm mặt hàng này sang thị trường EU cũng tăng trưởng tốt, đạt kim ngạch 114 triệu USD (trong đó Đức: 33 triệu USD, Anh: 16 triệu USD); Nhật Bản: 48 triệu USD,…

- Hàng giày dép: là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 3 trong tháng của Việt Nam với kim ngạch là 322 triệu USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm

2005, chiếm 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong tháng 1, kim ngạch sang Mỹ đạt 63 triệu USD, tăng 47% so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu giày dép sang khu vực EU đạt 195 triệu USD, trong đó Anh là

45 triệu USD, Đức: 45 triệu USD,…

- Hải sản: trong tháng xuất khẩu 178 triệu USD, giảm 5,3% so với tháng 1/2005 Mặc dù xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang một số thị trường tăng lên, ví dụ như Hàn Quốc, Trung Quốc,…nhưng xuất khẩu mặt

Ngày đăng: 20/03/2013, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w