1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập

125 390 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Hải Quan Điện Tử Nhằm Thúc Đẩy Xuất Nhập Khẩu Của Việt Nam Trong Giai Đoạn Hội Nhập
Tác giả Nguyễn Lan Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 8,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, sau thời gian gần 5 năm triển khai thí điểm sau đó mởrộng thí điểm Hải quan điện tử tại các cục Hải quan tỉnh, thành phố đã đạtđược những thành công nhất định, ghi nhận đượ

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Nguyễn Lan Phương

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ TRONG LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ 6

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ 6

1.1.1 Khái quát về tổ chức, quản lý của Hải quan 6

1.1.2 Quan niệm và đặc điểm của Hải quan điện tử 8

1.2 VAI TRÒ CỦA HQĐT TRONG LĨNH VỰC XNK HÀNG HOÁ; CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HQĐT 21

1.2.1 Vai trò của hải quan điện tử 21

1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển Hải quan điện tử 26

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ 30

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 30

1.3.2 Các bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình nghiên cứu phát triển hải quan điện tử của các nước 37

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 41

2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 41

2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của hải quan điện tử 43

Trang 3

2.1.3 Tình hình phát triển hải quan điện tử 51

2.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63

2.2.1 Những thành tựu chủ yếu của phát triển hải quan điện tử 63

2.2.2 Những hạn chế và tồn tại trong phát triển hải quan điện tử hiện nay 78

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 87

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 90

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM .90

3.1.1 Cơ hội và thách thức phát triển hải quan điện tử ở Việt Nam 90

3.1.2 Phương hướng phát triển hải quan điện tử ở Việt Nam 92

3.2.GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM TỚI 96

3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý 96

3.2.2 Hoàn thiện cơ cấu mô hình tổ chức để triển khai hải quan điện tử .97

3.2.3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 102

3.2.4 Giải pháp về điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật thực hiện HQĐT 104

3.2.5 Giải pháp đối với các tổ chức kinh tế XH, cá nhân tham gia HQĐT 107

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 4

1 AFTA Khu vực thương mại tự do ASEAN

2 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

3 ASYCUDA Hệ thống số liệu hải quan tự động

4 CEPT Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

5 CNH Công nghiệp hoá

7 ECUS Phần mềm khai báo hải quan điện tử (Electronic customs)

8 FTA Hiệp định thương mại tự do

9 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

10 GATT Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan

11 HĐH Hiện đại hoá

12 HCM Hồ Chí Minh

14 HQVN Hải quan Việt Nam

15 HQĐT Hải quan điện tử

16 HS Hệ thống phân loại hàng hoá

23 WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)

24 WCO Tổ chức Hải quan thế giới

25 WTO Tổ chức Thương mại thế giới

26 XNK Xuất nhập khẩu

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng các cục, chi cục hải quan tham gia hải quan điện tử

qua các giai đoạn (từ 2005 -2010) 52Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp tham gia HQĐT (từ T9/2005 đến

T5/2010) 56

Trang 5

Bảng 2.4: Số lượng doanh nghiệp và số lượng tờ khai thực hiện HQĐT

giai đoạn II (5 tháng đầu năm 2010) 62

Bảng 2.5: Kết quả khảo sát 60 DN tham gia HQĐT năm 2008(%) 85

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Kim ngạch XNK qua thủ tục HQĐT và kim ngạch qua HQ Hải Phòng (từ tháng 9/2005 đến tháng 3/2010) 57

Biểu đồ 2.2: Kim ngạch XNK thông quan điện tử và kim ngạch qua HQ TP Hồ Chí Minh (từ T9/2005 đến T3/2010) 59

Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 2001-2009 74

HÌNH VẼ Hình 1.1: Phương thức quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu theo hải quan truyền thống 17

Hình 1.2: Phương thức quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu theo hải quan điện tử 18

Hình 1.3: Hệ thống Trade Net của Hải quan Singapore 34

Hình 2.1: Mô hình Hải quan một cửa 70

Hình 2.2: Thông quan điện tử theo mô hình 3 khối 100

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ theo xu hướngtoàn cầu hoá, nằm trong xu hướng phát triển chung ấy, nền kinh tế Việt Namcũng đang hội nhập ngày một sâu rộng vào kinh tế thế giới Các quan hệ kinh

tế song phương và đa phương ngày càng phát triển Phản ánh khá rõ nét quátrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là sự tăng trưởng của hoạt độngngoại thương Theo đó lưu lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửakhẩu ngày càng tăng Để thúc đẩy hơn nữa luồng lưu chuyển hàng hoá đó, làđiều kiện tiên quyết cho việc hội nhập, phù hợp với chủ trương của Đảng,Nhà nước thì việc cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá công tác quản lýcủa các cơ quan Nhà nước nói chung và công tác quản lý nhà nước về hảiquan nói riêng là một trong những giải pháp cơ bản, quan trọng

Hiện đại hoá hải quan, đổi mới phương pháp quản lý hải quan từ thủcông sang hiện đại với việc triển khai thực hiện Hải quan điện tử để quản lýhàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam là một yêu cầu cấp bách vàmang tính xã hội hoá cao Việc áp dụng hải quan điện tử đã mang lại nhiều lợiích thiết thực cả cho phía chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Tại Việt Nam, sau thời gian gần 5 năm triển khai thí điểm sau đó mởrộng thí điểm Hải quan điện tử tại các cục Hải quan tỉnh, thành phố đã đạtđược những thành công nhất định, ghi nhận được những phản hồi tốt từ cảphía các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp cũng như dư luận xã hội.Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới mẻ, trong quá trình triển khai bên cạnh nhữngthành tựu đạt được vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế, đồng thời cần phải

có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu trong cách thức triển khai, ứng dụngcũng như cần phải có những nghiên cứu học tập kinh nghiệm từ các nước trênthế giới trong việc áp dụng mô hình hải quan điện tử trong thông quan hàng

Trang 7

hoá, trên cơ sở đó có những đề xuất giải pháp hoàn thiện về mặt cơ chế, cáchthức thực hiện.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài "Phát triển hải quan điện

tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập"

làm đề tài luận văn thạc sỹ

Những đóng góp mới của luận văn

Một là: Góp phần xây dựng khung lý thuyết về phát triển Hải quan điện tử dưới góc độ quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá của Việt Nam.

Luận văn đã làm rõ các nội dung như: các quan niệm về hải quan điện

tử của các nước trên thế giới, nhấn mạnh quan niệm về Hải quan điện tử đềcập đến trong nội dung Bộ luật Hải quan EU và quan niệm của Việt Nam;Phân tích đặc điểm của Hải quan điện tử để thông qua đó thấy được những lợiích to lớn khi áp dụng phương pháp quản lý này ở Việt Nam; Nhận định vềvai trò của hải quan điện tử trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá và cácnhân tố ảnh hưởng đến phát triển Hải quan điện tử; Đồng thời cũng đưa rakinh nghiệm của một số nước trong triển khai áp dụng hải quan điện tử

Hai là: Đánh giá thực trạng phát triển Hải quan điện tử ở Việt Nam thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế.

Trong phần này, luận văn đã đưa ra các số liệu thực tế để phân tíchthực trạng phát triển hải quan điện tử của Việt Nam trong gần 5 năm qua các

lộ trình phát triển từ giai đoạn chuẩn bị, đến triển khai thí điểm hẹp và thíđiểm mở rộng hải quan điện tử Qua đó thấy được những thành công bướcđầu và những hạn chế trong quá trình thí điểm áp dụng hải quan điện tử

Tình hình phát triển hải quan điện tử thời gian qua được thể hiện rõ nétthông qua việc phân tích, đánh giá trên các khía cạnh sau:

Trang 8

- Thứ nhất là đơn vị Hải quan thực hiện thí điểm Hải quan điện tử tăng

từ 2 chi cục tại 2 cục hải quan nay đã tăng lên con số 24 với 10 cục Hải quantỉnh, thành phố áp dụng

- Thứ hai là loại hình xuất nhập khẩu áp dụng: Trong giai đoạn thí điểm

hẹp HQĐT có 3 trong số 11 loại hình được áp dụng Sang giai đoạn thí điểm

mở rộng đã tăng lên là 4 loại hình

- Thứ ba là điều kiện để các doanh nghiệp có thể tham gia thực hiện hải

quan điện tử; số lượng doanh nghiệp tham gia thực hiện thí điểm hải quanđiện tử tăng từ 66 doanh nghiệp năm 2005 gần 1.000 doanh nghiệp trong 5tháng năm 2010

- Thứ tư là kim ngạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tham gia

thực hiện thí điểm hải quan điện tử Tác giả đã đánh giá sự tăng trưởng vềkim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá theo ba phân tổ là: Kim ngạch thực hiệnHQĐT tại hải quan TP.Hải Phòng (tăng từ 23 triệu USD năm 2005 lên gần1,6 tỷ USD trong năm 2009); Kim ngạch thực hiện hải quan điện tử qua hảiquan TP Hồ Chí Minh (tăng từ 325 triệu USD năm 2005 lên gần 4,4 tỷ USDnăm 2009); Kim ngạch thực hiện hải quan điện tử trong phạm vi cả nước tăng

từ 348 triệu USD năm 2005 lên gần 6 tỷ USD năm 2009 và gần 5,4 tỷ USDtrong 5 tháng đầu năm 2010 Dự kiến cả năm có thể lên trên 20 tỷ USD vềkim ngạch

Sau đó đưa ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong

áp dụng thí điểm hải quan điện tử Những thành tựu đạt được như: bước đầucải cách quản lý HQ theo hướng phù hợp với quản lý HQ hiện đại, chuyển đổi

từ HQ thủ công sang HQĐT; áp dụng phương pháp quản lý rủi ro được cải thiện

rõ rệt; hệ thống tự động hoá và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lýhải quan được tăng cường; hệ thống tự động hoá và ứng dụng công nghệthông tin trong quản lý hải quan được tăng cường; thúc đẩy cơ chế hải quan

Trang 9

một cửa; tăng hiệu quả quản lý của hải quan; thúc đẩy kim ngạch XNK vàmang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu lên những hạn chế trong phát triển hảiquan điện tử với việc phân tích những khó khăn vướng mắc như: mô hình Hảiquan điện tử; mở rộng hải quan điện tử; vấn đề nhân sự; các qui định nghiệpvụ; hệ thống đường truyền, phần mềm chương trình

Luận văn cũng đã nêu lên các nguyên nhân của hạn chế đó như: đây làphương thức quản lý mới mẻ, sự chuẩn bị chưa được chu đáo, cả doanhnghiệp và cơ quan hải quan còn lúng túng trong triển khai

Ba là: Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển HQĐT, góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam.

Luận văn đã nêu lên những cơ hội có thể tận dụng để phát triển hảiquan điện tử ở Việt Nam như: Hội nhập kinh tế quốc tế với các cam kết củaViệt Nam; hội nhập của Hải quan Việt Nam với hải quan thế giới; Sự quantâm của Chính phủ trong cải cách hành chính; Sự ưu tiên về nguồn tài chínhđối với công cuộc hiện đại hoá Hải quan Việt Nam

Bên cạnh đó, đã đưa ra những thách thức khi phát triển sau các nước vànhiều điều kiện trong nước chưa thể đáp ứng được yêu cầu triển khai hải quanđiện tử

Về phương hướng phát triển hải quan điện tử ở Việt Nam:

- Tiếp tục mở rộng HQĐT, hướng tới áp dụng HQĐT trong toàn Ngành

Hải quan năm 2015

- Phát triển HQĐT theo hướng thực hiện cơ chế hải quan một cửa phùhợp với chuẩn mực quốc tế và phù hợp với nền hành chính quốc gia

- Phát triển HQĐT hướng tới quản lý rủi ro có hiệu quả

Trang 10

- Phải xác định phải ứng dụng CNTT hiện đại vào quy trình thông quanđiện tử cấp thiết, đồng thời nó cũng phù hợp với khuyến nghị của WTO làphải tăng cường ứng dụng CNTT trong hoạt động thương mại.

Qua những đánh giá về thực tiễn phát triển hải quan điện tử trong gần 5năm qua cùng với những định hướng cho phát triển, luận văn đã đưa ra:

Các giải pháp cho phát triển HQĐT:

- Hoàn thiện môi trường pháp lý: Để triển khai thành công mô hình hải

quan điện tử thì cần phải có một môi trường pháp lý với các quy định rõ ràng,minh bạch, tương thích với những quy định cũng như các cam kết, thoả thuậnquốc tế cũng như phù hợp với điều kiện vận dụng ở Việt

- Hoàn thiện cơ cấu mô hình tổ chức để triển khai hải quan điện tử: nhận

định về việc quản lý hải quan theo 33 cục hải quan tỉnh, thành phố hiện nay

có nhiều bất cập gây lãng phí Hướng tới trong tương lai cần thành lập hảiquan vùng để quản lý có hiệu quả Luận văn cũng đề xuất thực hiện mô hìnhthông quan điện tử của Hải quan Việt Nam áp dụng mô hình 3 khối liên kết

trên cơ sở quản lý tập trung thống nhất, với việc triển khai Chi cục Hải quan

điện tử, Cục Hải quan điện tử, Tổng cục Hải quan điện tử Đồng thời cần mở

rộng hệ thống các dịch vụ hải quan.

- Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Ngành Hải quan phải từng bước

xây dựng và hoàn thiện để đạt tới một cơ quan Hải quan có đủ năng lực đểđiều phối và quản lý công tác hiện đại hóa quy trình thủ tục hải quan, côngnghệ và dịch vụ công

- Giải pháp về điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật thực hiện HQĐT: Cần

có chính sách, tập trung đầu tư hiệu quả có trọng điểm

- Giải pháp đối với các tổ chức kinh tế XH, cá nhân tham gia HQĐT:Các doanh nghiệp cần đầu tư, nâng cấp hệ thống phần mềm và cơ sở hạ tầngkết nối với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan Cùng với đó là đào tạo, sử

Trang 11

dụng hệ thống đội ngũ nhân viên có kiến thức chuyên môn về hải quan; Minhbạch hoá hệ thống quản lý trong doanh nghiệp.

Tóm lại:

Nghiên cứu triển khai thành công Hải quan điện tử là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm mà Ngành Hải quan đã đặt ra Thực hiện thành công Hảiquan điện tử sẽ có ý nghĩa lớn và có tác động sâu sắc đối với không chỉ ngànhHải quan mà còn có tác động to lớn tới các lĩnh vực khác Đặc biệt, triển khaithành công Hải quan điện tử sẽ là một bước đột phá lớn đối với việc cải cáchthủ tục hành chính không những của ngành Hải quan mà còn là "cú huých"tác động tới công cuộc cải cách thủ tục hành chính Về khía cạnh thương mại,Hải quan điện tử sẽ có tác động tích cực, góp phần tạo thuận lợi cho thươngmại quốc tế của đất nước, góp phần bảo đảm thực hiện tốt chính sách vĩ môcủa Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ;đồng thời cũng đáp ứng yêu cầu quản lý, kiểm tra giám sát hải quan, bảo vệchủ quyền cũng như an ninh, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân

Có thể nói đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống vềhải quan điện tử của Việt Nam theo định hướng và chuẩn mực mà WCOkhuyến nghị Bằng luận văn của mình, tôi hy vọng làm sáng tỏ sự cần thiếtphải nghiên cứu lĩnh vực này, những ưu điểm vượt trội của hải quan điện tử.Đồng thời cũng thông qua đó hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận

và thực tiễn làm nền tảng cho việc nghiên cứu thay đổi cơ bản phương phápquản lý hải quan hiện đại tạo thuận lơi cho thương mại quốc tế của Việt Nam

Hy vọng rằng, trong tương lai không xa, với những nghiên cứu, và những giảipháp và đề xuất mang tính hệ thống của luận văn sẽ đóng góp một phần nhỏhữu ích trong quá trình cải cách và hiện đại hóa ngành Hải quan nói riêngcũng như công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam./

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ theo xu hướngtoàn cầu hoá, nằm trong xu hướng phát triển chung ấy, nền kinh tế Việt Namcũng đang hội nhập ngày một sâu rộng vào kinh tế thế giới Các quan hệ kinh

tế song phương và đa phương ngày càng phát triển Phản ánh khá rõ nét quátrình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là sự tăng trưởng của hoạt độngngoại thương Theo đó lưu lượng hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửakhẩu ngày càng tăng Để thúc đẩy hơn nữa luồng lưu chuyển hàng hoá đó, làđiều kiện tiên quyết cho việc hội nhập, phù hợp với chủ trương của Đảng,Nhà nước thì việc cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hoá công tác quản lýcủa các cơ quan Nhà nước nói chung và công tác quản lý nhà nước về hảiquan nói riêng là một trong những giải pháp cơ bản và quan trọng

Hiện đại hoá hải quan, đổi mới phương pháp quản lý hải quan từ thủcông sang hiện đại với việc triển khai thực hiện Hải quan điện tử để quản lýhàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam là một yêu cầu cấp bách vàmang tính xã hội hoá cao Việc áp dụng hải quan điện tử đã mang lại nhiều lợiích thiết thực cả cho phía chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Hải quan điện

tử không những giúp cho công tác quản lý và xử lý công việc của cơ quan hảiquan chặt chẽ và nhanh chóng hơn mà còn góp phần giúp giảm thiểu chi phí

về thời gian, tiền bạc cho doanh nghiệp Áp dụng hải quan điện tử, tiến tới100% hàng hoá được thông quan điện tử là mục tiêu hướng tới của Hải quancác nước trên thế giới và đây cũng là khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thếgiới (WCO) mà Hải quan Việt Nam là một thành viên

Tại Việt Nam, sau thời gian gần 5 năm triển khai thí điểm sau đó mởrộng thí điểm Hải quan điện tử tại các cục Hải quan tỉnh, thành phố đã đạt

Trang 13

được những thành công nhất định, ghi nhận được những phản hồi tốt từ cảphía các cơ quan quản lý, cộng đồng doanh nghiệp cũng như dư luận xã hội.Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới mẻ, trong quá trình triển khai bên cạnh nhữngthành tựu đạt được vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế, đồng thời cần phải

có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu trong cách thức triển khai, ứng dụngcũng như cần phải có những nghiên cứu học tập kinh nghiệm từ các nước trênthế giới trong việc áp dụng mô hình hải quan điện tử trong thông quan hànghoá, trên cơ sở đó có những đề xuất giải pháp hoàn thiện về mặt cơ chế, cáchthức thực hiện là rất quan trọng và cần thiết Là người tham gia trực tiếp trong

lĩnh vực này, tác giả chọn đề tài: "Phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập".

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu nước ngoài:

+ Bộ luật hải quan EU: Đề cập đến các yếu tố xác định hải quan điện tử.+ Khung các tiêu chuẩn của WCO: Nghiên cứu các chuẩn mực thươngmại áp dụng trong qui trình tự động hoá hải quan Đây là một tài liệu quantrọng giúp hoàn thiện việc qui chuẩn các giấy tờ thương mại theo phươngthức điện tử đối với Việt Nam

+ Các tài liệu về tự động hoá của hải quan các nước: Đề cập đến mô hìnhthông quan tự động, phương pháp xử lý dữ liệu tự động Đây là tài liệu hữuích cho việc tham khảo áp dụng đối với thực tiễn HQĐT ở Việt Nam

+ Tài liệu về hợp tác hải quan ASEAN và kế hoạch chiến lược phát triểnhải quan: Tài liệu này đưa ra những định hướng về hội nhập hải quan khu vựcASEAN trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ CNTT

Tình hình nghiên cứu trong nước:

+ Kế hoạch cải cách và hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2008 – 2010:Đưa ra những định hướng hiện đại hoá ngành Hải quan Việt Nam, trong đó cóphát triển HQĐT

Trang 14

+ Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án hiện đại hoá hải quan năm 2006của Bộ Tài chính.

+ Các báo cáo trong Dự án hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị cho Dự án hiện đạihoá hải quan năm 2005: Chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, điều kiện thực hiệnhiện đại hoá hải quan Việt Nam của nhóm chuyên gia quốc tế

+ Đề án “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chuẩn mực quốc tếtrong xây dựng và thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam”

+ Luận văn tiến sỹ kinh tế của ông Nguyễn Công Bình, Cục trưởng cụcCNTT, Tổng cục Hải quan năm 2009 Đề cập đến phương pháp quản lý hảiquan hiện đại

Trong tất cả các tài liệu trên chưa có tài liệu nào làm rõ được về mặt lýluận, cũng như tổng hợp thực tiễn việc triển khai hải quan điện tử để cónhững giải pháp, đề xuất một cách có hệ thống đối với lĩnh vực này Để thựchiện đề tài này, tác giả có kế thừa một số ý tưởng những tài liệu đã được công

bố trong nước và khảo sát ở nước ngoài để bổ sung cho phần cơ sở lý luận vàkinh nghiệm trong nội dung đề tài

3 Mục đích nghiên cứu

* Mục đích

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Hải quan điện tử trên cơ

sở xây dựng khung lý thuyết và kinh nghiệm của các nước trên thế giới

- Đánh giá thực trạng của việc phát triển Hải quan điện tử ở Việt Namtrong thời gian qua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế;

- Đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển Hải quan điện tử củangành Hải quan trong giai đoạn tới nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩuhàng hoá

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các mối quan hệ kinh tế và tổ chức giữa

người khai hải quan với cơ quan hải quan trong hoạt động xuất nhập khẩuhàng hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động Hải quan điện tử áp

dụng trong ngành Hải quan

+ Thời gian nghiên cứu: Từ khi có quyết định bắt đầu áp dụng thíđiểm hải quan điện tử được quy định tại các Quyết định số 149/2005/QĐ-TTgngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác quản lý nhà nước

về Hải quan; các định hướng, khuyến nghị của tổ chức Hải quan thế giới và tổchức Hải quan ASEAN

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên phương pháp của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tiếp cận trên 3phương diện: lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm Luận văn còn sử dụng cácphương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, mô hình hoá…

Đồng thời có kế thừa một số kết quả thống kê về hoạt động triển khaihải quan điện tử ở Việt Nam những năm qua

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Góp phần xây dựng khung lý thuyết về phát triển Hải quan điện tử dướigóc độ quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy hoạt động XNK hàng hoá của Việt Nam

Trang 16

- Đánh giá thực trạng phát triển Hải quan điện tử ở Việt Nam thời gianqua, chỉ ra những thành tựu, hạn chế , nguyên nhân hạn chế;

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển Hải quanđiện tử ở nước ta góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương I: Những vấn đề chung về phát triển Hải quan điện tử

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa

Chương II: Thực trạng phát triển Hải quan điện tử ở Việt Nam

Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển hải quan điện tử ở

Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

TRONG LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

1.1.1 Khái quát về tổ chức, quản lý của Hải quan

Nghiên cứu về cơ cấu bộ máy quản lý của các quốc gia trên thế giớingười ta nhận thấy rằng cơ quan hải quan xuất hiện trong hầu hết cơ cấu hànhchính và khá sớm Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tại chế độ nhà nước phongkiến danh từ "Hải quan" đã xuất hiện, ban đầu Hải quan xuất hiện như là mộtđơn vị quản lý của chính quyền phong kiến, thực hiện việc quản lý, thu tiềnthuế của các tàu bè, giao thương tại các vùng cửa sông, cửa biển của một quốcgia Ngày nay, cùng với sự phát triển của lịch sử "Hải quan" đã mở rộngphạm vi quy mô, chức năng của mình Hải quan đã trở thành một cơ quan củaNhà nước, được thành lập với chức năng, nhiệm vụ cụ thể nhằm kiểm soátcác hoạt động XNK hàng hoá, dịch vụ cũng như hoạt động XNC qua biêngiới của một quốc gia

Tại Việt Nam, trải qua quá trình phát triển, trước yêu cầu của thời đạicũng như yêu cầu quản lý mới, mô hình tổ chức của HQ Việt Nam qua từngthời kỳ cũng có những thay đổi để phù hợp với tình hình mới Hải quan ViệtNam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất Tổngcục trưởng Tổng cục HQ thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của HQ cáccấp; HQ cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của HQ cấp trên

- Khối cơ quan giúp việc tại Tổng cục HQ gồm các Cục, Vụ, Thanh tra,Văn phòng

- Khối đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc, hoạt động theo cơ chế đơn

vị hành chính sự nghiệp có thu

Trang 18

- Các Cục HQ tỉnh, thành phố tại các địa phương (hiện nay có 33 Cục HQtỉnh, thành phố)

Tổng cục Hải quan có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiệnquản lý nhà nước trong lĩnh vực Hải quan Điều này có nghĩa là về mặt tổchức, tổ chức Hải quan là đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính và hoạt động quản

lý, giám sát của hải quan do Bộ tài chính quy định

Hoạt động của ngành Hải quan được thực hiện theo luật Hải quan, với cácnhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, tổ chức thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan

đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, người, phương tiện vận tảixuất cảnh, nhập cảnh

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất và mang tính đặc thù của ngành Hảiquan, các nhiệm vụ này có thể nói bao trùm lên phần lớn công tác nghiệp vụhải quan, ở các đơn vị hải quan cửa khẩu Thông qua hoạt động này, các chế

độ chính sách, chủ trương, đường lối của Nhà nước, của Bộ tài chính được cơquan Hải quan vừa thực hiện, vừa kiểm tra, giám sát thực hiện theo đúng quyđịnh của Luật Hải quan

Thứ hai, tổ chức phòng, chống buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hoá

qua biên giới trong phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan và thực hiệnphòng, chống buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới ngoàiđịa bàn hoạt động của hải quan theo quy định của Chính phủ

Thứ ba, Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế và các khoản thu khác đối

với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Đây là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Hải quan, được quy định tạichương V của Luật hải quan hiện hành Tổng cục Hải quan là cơ quan chỉ đạothống nhất việc thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu, đồng thời áp dụng các biện pháp để bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế

và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Trang 19

Thứ tư, thực hiện công tác thống kê hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Ngành Hải quan được Chính phủ giao nhiệm vụ thu thập các thông tinthống kê hàng hoá xuất nhập khẩu từ cơ sở là tờ khai hải quan Với hệ thốngmạng thông suốt 33 cục hải quan tỉnh, thành phố với gần 200 chi cục hảiquan, các thông tin thống kê được thu thập đầy đủ hàng ngày Việc xử lýthông tin trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực của tổ chức Thống kêLiên hợp quốc và trên nền công nghệ thông tin hiện đại

Hàng tháng các thông tin thống kê được báo cáo cho các đồng chí lãnh đạoĐảng, nhà nước, các Bộ, Ngành Đây là một kênh thông tin tin cậy, có độ chínhxác cao làm căn cứ cho việc chỉ đạo, điều hành kinh tế vĩ mô đất nước

Thứ năm, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các chủ

trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu và xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hànghoá xuất khẩu, nhập khẩu

1.1.2 Quan niệm và đặc điểm của Hải quan điện tử

1.1.2.1 Quan niệm về Hải quan điện tử

Trong điều kiện phát triển kinh tế thế giới hiện nay, Hải quan các nướcđều hướng tới xây dựng hải quan điện tử Tuy nhiên, hiện nay các nướckhông đề cập đến khái niệm “Hải quan điện tử” mà thường đề cập đến kháiniệm “Hệ thống tự động hoá hải quan” Đây là chương trình ứng dụng CNTT

để xử lý các nghiệp vụ hải quan Hệ thống gồm nhiều chương trình ứng dụngCNTT để quản lý hàng hóa đưa ra, đưa vào lãnh thổ hải quan, và các chươngtrình hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ hải quan

Hải quan điện tử là một khái niệm phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố trong

đó CNTT có vai trò quan trọng và được xác định là công cụ hỗ trợ cho việcthực hiện các chức năng, nghiệp vụ của cơ quan hải quan Khái niệm nàykhông cố định, mỗi yếu tố đều là các yếu tố động, nó tương thích với sự biến

Trang 20

đổi liên tục của CNTT, nền tảng kinh tế - xã hội, thứ tự ưu tiên cũng như cáchthức thực hiện nhiệm vụ của hải quan tại mỗi quốc gia

Quan niệm về hải quan điện tử mới chỉ được đề cập tới trong quá trìnhxây dựng và nội dung Bộ luật Hải quan EU thông qua việc xác định các yếu

tố của hải quan điện tử; bao gồm:

- Luật hải quan đơn giản và hiện đại hoá:

Xây dựng Luật hải quan hoàn toàn đơn giản và hiện đại hóa nhằm làmcho các quy định trở nên rõ ràng, dễ hiểu, dễ dự báo và dễ tiếp cận cho người

sử dụng, đặt nền móng cho việc đơn giản hóa, chuẩn hóa các quy định, quytrình thủ tục hải quan điện tử

Trong công ước Kyoto sửa đổi 1999 đã xây dựng khung pháp lý chuẩn

về quy trình thủ tục hải quan Với hàng loạt các nguyên tắc quan trọng như:minh bạch và dự báo về hoạt động hải quan, tiêu chuẩn, đơn giản hóa tờ khai

và các chứng từ, thủ tục đơn giản, ứng dụng CNTT, áp dụng QLRR, giảmthiểu sự can thiệp trực tiếp… Công ước Kyoto sửa đổi và các hướng dẫn,khuyến nghị của WCO đã trở thành công cụ kỹ thuật quan trọng nhất để cácnước đơn giản hóa, hiện đại hóa Luật Hải quan

- Hướng tới sử dụng hệ thống CNTT, tăng cường mức độ tự động hóa.

Hải quan các nước đều chủ động xây dựng các chính sách, chươngtrình nhằm tăng cường sử dụng CNTT và loại bỏ dần các khâu thực hiện thủcông truyền thống trong quản lý hải quan Với mục tiêu hải quan điện tử, hảiquan EU xây dựng cổng thương mại điện tử thông qua việc thiết lập, kết nối,tích hợp hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin giữa các đơn vị hải quan trên hệthống thông tin chung; các đơn vị hải quan, công chức hải quan giao tiếp vớingười khai hải quan và với nhau bằng phương tiện điện tử; khi chính phủ điện

tử được hoàn thiện, hệ thống CNTT của hải quan được kết nối với các hệthống của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trở thành một bộ phận của

Trang 21

chính phủ điện tử Mặt khác, cơ quan hải quan cũng tăng cường mức độ tựđộng hóa các quy trình thủ tục hải quan.

- Thiết lập cơ chế một cửa

“Cơ chế một cửa được xác định là biện pháp tạo thuận lợi cho phép cácbên tham gia vào thương mại và vận chuyển nộp thông tin và chứng từ chuẩntại một điểm để thực hiện tất cả các yêu cầu pháp lý liên quan tới xuất khẩu,nhập khẩu, quá cảnh Nếu là thông tin điện tử thì các yếu tố dữ liệu sẽ đượcxuất trình một lần”

Cơ chế một cửa cho phép doanh nghiệp, nhà vận tải được nộp một lầntất cả các dữ liệu cần thiết cho việc xác định/chấp nhận hàng hóa theo khuônmẫu chuẩn tới các cơ quan nhà nước có liên quan tới kiểm soát biên giới tạimột cổng điện tử Cơ chế này đặt trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quản lý và đảm bảo rằng các cơ quan này hoặc cung cấp thông tinhoặc tiếp nhận thông tin do cơ quan quản lý nhà nước khác cung cấp Nó loại

bỏ yêu cầu đối với thương nhân và nhà vận chuyển nộp cùng một dữ liệunhiều lần cho nhiều cơ quan khác nhau Cơ chế một cửa có thể được thực hiệntrong cả môi trường thủ công và điện tử Tuy nhiên, để tạo thuận lợi tối đa vàphối hợp hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm quyền liên quan thì cầnthiết ứng dụng trong môi trường CNTT và các mẫu dữ liệu đã được chuẩn hóađược các đối tác có liên quan chấp nhận Trong trường hợp này, các nước cầnphải sử dụng những CMQT được công nhận rộng rãi như Hệ thống mô tả vàhài hòa mã hàng hóa, Mô hình dữ liệu WCO và sử dụng CNTT, viễn thông ởmức độ cao

- Tích hợp các thủ tục hải quan

Tích hợp là giải pháp CNTT được Hải quan EU xây dựng và phát triển nhằmcung cấp một nơi giao tiếp duy nhất về thông tin và dịch vụ cho người sửdụng (người khai, các hãng vận tải, các cơ quan quản lý ), qua đó người sử

Trang 22

dụng có thể khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, sử dụng nhiều dịch

vụ của các hệ thống phần mềm khác nhau một cách tập trung, thống nhất.Thông qua cổng điện tử này, người sử dụng chỉ cần sử dụng một địa điểm (điqua một cửa) là có thể khai thác các thông tin và dịch vụ, mặt khác cơ quanhải quan cũng chỉ cần quản lý, theo dõi tất cả các thông tin điều hành củamình tại một nơi duy nhất

- Thực hiện Quản lý rủi ro

“Rủi ro có nghĩa là khả năng một điều gì đó sẽ xảy ra, ngăn chặn việc ápdụng các biện pháp xử lý của cộng đồng hoặc của quốc gia liên quan đến đối

xử hàng hóa của Hải quan” Để giảm thiểu việc xảy ra các rủi ro, cơ quan hảiquan có thể sử dụng QLRR như một kỹ thuật để đưa ra các ưu tiên và phân bổhiệu quả hơn các nguồn lực cần thiết cho việc duy trì sự cân bằng giữa kiểmsoát và tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp Vì vậy QLRR có thể đượcđịnh nghĩa như một kỹ thuật để xác định có hệ thống và thực hiện tất cả cácbiện pháp cần thiết để giới hạn khả năng rủi ro xảy ra Các chiến lược QLRRquốc tế và quốc gia có thể được thực hiện hiệu quả bằng cách thu thập dữliệu, thông tin; phân tích dữ liệu và đánh giá rủi ro, mô tả hành động và theodõi các kết quả đầu ra

Quan niệm về hải quan điện tử:

Trên cơ sở khái luận hải quan điện tử tại dự thảo Bộ luật hải quan của

EU, các hoạt động quản lý nhà nước, hải quan điện tử ở Việt Nam được xácđịnh là một bộ phận của Chính phủ điện tử Trong đề án “Một số vấn đề lýluận và thực tiễn áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng và thực hiện thủ

tục hải quan điện tử ở Việt Nam” có quan điểm “Thủ tục Hải quan điện tử là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục quản lý thuế) được thực hiện bằng phương tiện điện tử” nhưng đây mới chỉ là một phần của “Hải quan điện tử”.

Trang 23

Có quan niệm khác cho là :“Hải quan điện tử là phương thức tổ chức, quản lý của ngành Hải quan thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan để quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan theo quy định của pháp luật, đảm bảo đơn giản, hài hoà, thống nhất và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế”

Trên phương diện cá nhân, tôi cũng đồng ý với quan niệm này Nó cũngphù hợp với xu hướng phát triển hải quan điện tử ở các nước, với những vấn

đề đưa ra trong Bộ luật hải quan EU Đồng thời phù hợp với thực tiễn pháttriển HQĐT ở Việt Nam

Các yếu tố của hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay là: Hệ thống hải quanđiện tử được kết nối với các bộ phận khác của Chính phủ điện tử (cổng điện

tử của Hải quan đã được kết nối với các cổng điện tử của cơ quan nhà nướckhác); Sử dụng hệ thống CNTT, tăng cường mức độ tự động hóa để xử lý mọihoạt động của ngành Hải quan: từ các hoạt động nghiệp vụ tới hoạt động hànhchính thông thường; Áp dụng các kỹ thuật quản lý hải quan hiện đại nhưQLRR, quản lý sự thay đổi vào tất cả các khâu nghiệp vụ hải quan Ngoài racòn có một số yếu tố hỗ trợ như: Hệ thống pháp luật hải quan hiện đại, đượcđơn giản và minh bạch hóa; Đơn giản hóa hệ thống chứng từ; hiện đại hóa,hài hòa hóa các quy trình, thủ tục; Chính sách quản lý nguồn nhân lực hiệuquả; Định hướng theo việc xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và

cơ chế một cửa khu vực

Một số thuật ngữ được dùng trong Hải quan điện tử:

- Thủ tục hải quan điện tử: là thủ tục hải quan trong đó việc khai báo, tiếp

nhận, xử lý thông tin khai hải quan, ra quyết định được thực hiện thông qua

Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan

Trang 24

- Thông điệp dữ liệu điện tử hải quan: Là thông tin được tạo ra, gửi đi,được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử theo định dạng chuẩn đểthực hiện thủ tục hải quan điện tử.

- Chứng từ điện tử: Là chứng từ tạo ra theo quy định tại Khoản 1 Điều 3Chương I Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tửtrong lĩnh vực tài chính được sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

- Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan: Là hệ thống thông tin do Tổngcục Hải quan quản lý tập trung, thống nhất, sử dụng để thực hiện thủ tục hảiquan điện tử

- Hệ thống khai hải quan điện tử: Là hệ thống thông tin do người khai hảiquan quản lý, sử dụng để thực hiện thủ tục hải quan điện tử

- Hệ thống khai hải quan điện tử dự phòng: Là hệ thống thông tin doTổng cục Hải quan quản lý tại cơ quan hải quan, được sử dụng để người khaihải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử khi có sự cố ngoài Hệ thống xử lý

dữ liệu điện tử hải quan

1.1.2.2 Đặc điểm của hải quan điện tử

Xét về phương diện nghiệp vụ hải quan, hải quan điện tử mang hầu hếtcác đặc trưng nghiệp vụ của hải quan truyền thống đó là được thực hiện đốivới tất cả các loại hình quản lý hàng hóa, phương tiện vận tải, ở tất cả cáckhâu trước, trong, sau thông quan

Đặc điểm của hải quan điện tử là thực hiện quản lý hải quan theo phươngthức điện tử trên cơ sở sự ứng dụng nền tảng CNTT để từ thủ tục hải quantruyền thống, với một hệ thống đồ sộ các công việc được tiến hành thủ công vàcác loại chứng từ, giấy tờ phụ trợ đi kèm, trở thành một hoạt động nghiệp vụđược tự động hóa cao dựa trên các thông tin, chứng từ điện tử và phi giấy tờ

Sự khác biệt về phương thức quản lý hải quan thể hiện rõ hơn đặc điểmcủa hải quan điện tử qua các khía cạnh sau:

Trang 25

Đặc điểm Thủ tục HQ truyền thống Thủ tục HQ điện tử

1 Khai báo thông tin - Yêu cầu khai báo thông

tin trên các mẫu văn bản cố định

- Yêu cầu khai báo thông tin dưới dạng mã hóa vào

hệ thống máy tính

2 Hồ sơ hải quan - Là tập hợp các loại chứng

từ, giấy tờ nhằm chứng minh cho những thông tin

đã khai báo trên tờ khai hải quan

- Là tệp dữ liệu điện tử bao gồm các chỉ tiêu thông tin khai báo và chứng từ hỗ trợ được điện tử hóa

3 Phương thức tiếp

nhận khai báo

- Yêu cầu người khai hải quan phải trực tiếp đến văn phòng hải quan để nộp bộ

hồ sơ hải quan

- Cho phép người khai có thể gửi các chỉ tiêu thông tin qua mạng internet đến

hệ thống thông tin điện tử của cơ quan HQ

4 Cách thức xử lý

thông tin

- Yêu cầu công chức hải quan phải trực tiếp đọc từng chứng từ kèm theo tờ khai hải quan để so sánh, đối chiếu, kiểm tra tính chính xác, thống nhất của nội dung khai báo

- Hệ thống trực tiếp kiểm tra, đối chiếu một cách tự động hoặc bán tự động đối với các chỉ tiêu thông tin

5 Phương pháp Quản

lý rủi ro

- Phạm vi nhỏ, chưa thống nhất;

- Các tiêu chí ít được cập nhật và mang nhiều tính chủ quan

- Xây dựng bằng các bài toán kỹ thuật thống nhất,

rà soát tổng thể với phạm

vi lớn;

- Các tiêu chí thường xuyên cập nhật, thanh lọc sát thực tế.

6 Cách thức phản hồi

thông tin

- Yêu cầu sự hiện diện của

cả người khai hải quan và công chức hải quan, từ đó công chức hải quan thông báo, bằng miệng hoặc bằng văn bản, cho người khai hải quan về kết quả xử lý nghiệp vụ, cũng như hướng dẫn người khai hải quan tiếp tục thực hiện các bước

đi tiếp theo của quy trình thủ tục hải quan

- Phản hồi trực tiếp vào

hệ thống CNTT của người khai HQ thông qua các thông điệp, thông báo (message) điện tử.

- Người khai HQ được giao tiếp với cơ quan hải quan gián tiếp thông qua

hệ thống máy tính.

Trang 26

Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản trên hải quan điện tử đòi hỏi cơquan hải quan phải được trang bị một nền tảng CNTT đủ mạnh và bắt buộc sửdụng các kỹ thuật quản lý, trang thiết bị hiện đại Còn hải quan truyền thốngthì có thể sử dụng các ứng dụng CNTT, các kỹ thuật quản lý hoặc cũng có thểkhông hề sử dụng các phương tiện, công cụ này trong suốt quá trình làm thủtục hải quan

Hải quan điện tử và Hải quan truyền thống đều dựa trên những nguyêntắc cơ bản nhất, nền tảng nhất của thủ tục hải quan Đó là những hoạt độngnghiệp vụ nhằm quản lý sự ra vào hay xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tronglãnh thổ hải quan Các hoạt động đó có thể được thực hiện bằng các phươngthức khác nhau nhưng đều nhằm một mục đích tạo thuận lợi thương mại, thuthuế, bảo vệ quốc gia khỏi những nguy cơ tiềm ẩn đến từ các loại hàng hóa,phương tiện vận tải

Hải quan điện tử và Hải quan truyền thống có thể sử dụng cơ sở dữ liệuriêng biệt, dữ liệu của hải quan điện tử là cơ sở dữ liệu điện tử hóa, còn dữliệu của hải quan truyền thống là cơ sở dữ liệu lưu trên các chứng từ, tài liệugiấy, hoặc cũng có thể sử dụng cơ sở dữ liệu chung, điện tử hóa

Hải quan điện tử phải phụ thuộc nhiều vào năng lực hoạt động của hạtầng CNTT nên ở những khâu mà CNTT chưa đáp ứng hoặc xảy ra sự cố làmcho thủ tục hải quan điện tử không thể hoạt động được; khi đó, hải quantruyền thống chính là một “cứu cánh” thực sự hữu hiệu và hiệu quả Tuynhiên, một khi một quy trình thủ tục hải quan đã được bắt đầu vận hành theophương thức nào, điện tử hay thủ công, thì toàn bộ quy trình sẽ được “chạy”trên hệ thống riêng đó đến tận điểm – nội dung cuối cùng Một quy trìnhnghiệp vụ hải quan không thể “nhảy”, dù là 1 lần hay liên tục, từ hệ thốngđiện tử sang hệ thống thủ công, trừ phi chấm dứt trên một hệ thống và quaylại từ bước đầu trên hệ thống còn lại

Trang 27

Trên thực tế, mặc dù xu hướng toàn cầu hiện nay là thực hiện hải quanđiện tử, nhưng không có một quốc gia nào từ chối, phủ nhận hay hoàn toànloại bỏ sự tồn tại của hải quan thủ công Bởi vì đối với một số khâu, loại hình,trên những địa bàn nhất định; việc áp dụng thủ tục thủ công sẽ tiết kiệmnguồn lực và hiệu quả hơn rất nhiều so với thủ tục điện tử Ví dụ: thủ tục hảiquan đối với hàng hóa mua bán của cư dân biên giới đường bộ, thủ tục hảiquan ở những địa bàn có lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thấp

Ta có thể hình dung một cách rõ nét nhất về phương thức quản lý theohải quan điện tử với phương thức quản lý theo hải quan truyền thống bằng môhình minh hoạ dưới đây:

Trang 28

Hỡnh 1.1: PHƯƠNG THỨC QUẢN Lí HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU THEO

HẢI QUAN TRUYỀN THỐNG

Người Khai Hải quan

KIỂM TRA THỰC TẾ HÀNG HOÁ

THU Lệ PHí;

ĐểNG DẤU

“ĐÃ LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN”

Trả hồ sơ

CHO NGíềI KHAI HQ.

xanhvàng

- Điều chỉnh các quyết định;

- Xử lý

vi phạm; vớng mắc, nghi vấn

Hồ sơ vàng:

- Kiểm tra chi tiết, giá,thuế.

Trang 29

Hình 1.2: PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP

KHẨU THEO HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

Bước 1: Doanh nghiệp thực hiện tờ khai hải quan điện tử theo đúng tiêu chí

và khuôn dạng chuẩn

Bước 2: Doanh nghiệp gửi thông tin tới hệ thống của cơ quan hải quan.

Bước 3: Doanh nghiệp nhận thông tin phản hồi từ cơ quan hải quan về số tờ

khai hải quan, kết quả phân luồng và thực hiện một trong những nội dung sau:

- Luồng xanh: Miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hànghoá Lô hàng được cơ quan hải quan được chấp nhận thông quan thì chuyểnsang bước 4

- Luồng vàng: Kiểm tra hồ sơ hải quan Nếu được yêu cầu sửa đổi, bổsung hồ sơ hải quan thì doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu và xuất trình hồ

sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra Nếu lô hàng được chấp nhận thông

Trang 30

quan thì chuyển sang bước 4, nếu cơ quan hải quan yêu cầu kiểm tra thực tếhàng hoá thì chuyển sang bước 3.

- Luồng đỏ: Doanh nghiệp xuất trình hồ sơ giấy và hàng hoá để cơ quan

hải quan kiểm tra

Bước 4: Doanh nghiệp in tờ khai trên hệ thống của mình để đi lấy hàng.

Việc phân luồng tờ khai được thực hiện theo Quyết định số BTC ngày 22/06/2007, dựa vào các thông tin được lưu trữ trong cơ sở dữ liệucủa HQ, như: Thông tin cưỡng chế thuế; Thông tin vi phạm; Thông tin trị giáHQ; Chính sách mặt hàng (hàng thuộc diện quản lý, hàng phải nộp thuếngay…); Các thông tin tình báo khác

52/2007/QĐ-Qui trình phân luồng đối với tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu hiện naydựa trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro Việc chấm điểm để làm cơ sở cho việctiến hành phân luồng tờ khai được hệ thống thực hiện tự động dựa trên bộ tiêuchí quản lý rủi ro được xây dựng và áp dụng chung thống nhất trong phạm vitoàn ngành Cơ quan hải quan đã xây dựng một bộ tiêu chí với 150 tiêu chí((bộ tiêu chí này đang dần từng bước được bổ sung cho đầy đủ hơn và theođịnh hướng là phải đạt được khoảng 450 tiêu chí)

Khi người khai hải quan mở tờ khai hải quan, máy tính sẽ tự động tínhđiểm và phân loại mức độ rủi ro như cao, thấp, trung bình cho khai báo HQtheo từng tiêu chí như sau: Mức độ rủi ro của DN; Mức độ rủi ro hàng hoá;Mức độ rủi ro xuất xứ; Mức độ rủi ro loại hình; Mức độ rủi ro phương thứcthanh toán; Mức độ rủi ro tuyến đường vận chuyển; Mức độ rủi ro của nước

đi, nước đến; Mức độ rủi ro cảng đi, cảng đến

Các tiêu chí trong bộ tiêu chí này được xây dựng dựa trên công thức,được mã hoá và xây dựng cụ thể thành một phần mềm độc lập gọi là "RiskManagement" (viết tắt là RISKMAN) Khi DN tiến hành khai điện tử, cán bộ

HQ sẽ nhập các dữ liệu liên quan đến DN, đến lô hàng XNK vào phần mềm

Trang 31

Riskman, sau đó hệ thống phần mềm sẽ căn cứ dựa trên các bộ tiêu chí đểchấm điểm và sẽ đưa ra lệnh kiểm tra hình thức lô hàng đó được phân loạimức độ rủi ro tăng dần theo "luồng xanh", "luồng vàng" hay "luồng đỏ" Vềnguyên tắc, cán bộ công chức HQ tuân thủ theo lệnh kiểm tra hình thức màmáy tính đưa ra Tuy nhiên trong những trường hợp cán bộ HQ có cơ sở nghivấn về lô hàng XNK đó thì có quyền đề xuất chuyển hình thức phân luồng từ

"luồng xanh" chuyển sang "luồng vàng" hay "luồng đỏ"

* Khai HQ sẽ được phân vào luồng xanh khi đáp ứng một trong các trường hợp sau:

- Luật quy định miễn kiểm tra hồ sơ và thực tế hàng hoá

- Những hàng hoá có điểm rủi ro trong khoảng phân luồng xanh theo cáchtính của tiêu chí tính điểm

- Các trường hợp khác theo quy định của Tổng cục HQ phân luồng xanh

- Trên cơ sở xem xét đề xuất phân luồng vàng của các đơn vị nghiệp vụtrong ngành

- Đối với các thương nhân đặc biệt

- Đối với lô hàng của các DN tuân thủ pháp luật HQ

* Khai HQ sẽ phân vào luồng vàng khi đáp ứng một trong các trường hợp sau:

- Luật quy định phải kiểm tra hồ sơ HQ

- Các tờ khai HQ bị đánh giá có mức độ rủi ro trung bình trên cơ sở kếthợp giữa tiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn

- Các trường hợp do Tổng cục trưởng Tổng cục HQ và Chi cục trưởngquyết định phân luồng vàng

- Trên cơ sở xem xét đề xuất phân luồng vàng của các đơn vị nghiệp vụtrong ngành

- Theo tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên phân luồng vàng

Trang 32

* Khai HQ phân vào luồng đỏ trong những trường hợp sau:

- Luật, quy định phải kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hoá

- Các khai HQ bị đánh giá có mức độ rủi ro cao trên cơ sở kết hợp giữatiêu chí tính điểm và tiêu chí lựa chọn

- Các trường hợp khác theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục

HQ và Chi cục trưởng phải phân luồng đỏ

- Trên cơ sở xem xét đề xuất phân luồng đỏ của các đơn vị nghiệp vụtrong Ngành

- Theo tiêu chí lựa chọn ngẫu nhiên phân luồng đỏ

1.2 VAI TRÒ CỦA HQĐT TRONG LĨNH VỰC XNK HÀNG HOÁ; CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HQĐT

1.2.1 Vai trò của hải quan điện tử

Cơ quan Hải quan với vai trò là một trong những cơ quan tuyến đầu vềquản lý thương mại cần thiết phải trở thành một trong những cơ quan tiênphong trong việc áp dụng những mô hình, phương pháp quản lý mới nhằm tạothuận lợi cho thương mại

Vai trò của Hải quan ngày nay đã được mở rộng hơn Hải quan đã trởthành cơ quan có trách nhiệm chủ đạo trong việc tạo thuận lợi cho thươngmại, đảm bảo an ninh kinh tế và tăng nhanh lưu lượng lưu thông hàng hoá.Chính vì thế, hải quan điện tử có vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế đất

nước và có tính xã hội hóa cao Hiện đại hóa Hải quan theo hướng phát triển

hải quan điện tử là một trong những thước đo năng lực cạnh tranh đất nước vàcủa doanh nghiệp, tạo điều kiện hội nhập sâu vào kinh tế thế giới

1.2.1.1 Vai trò của HQĐT với hoạt động xuất nhập khẩu.

* Tạo thuận lợi thương mại: Hải quan có vai trò chủ chốt trong thương

mại quốc tế và tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp Khihàng hóa được dịch chuyển qua biên giới, chủ hàng phải cung cấp, xuất trình

Trang 33

thông tin, tài liệu, hàng hóa có thể bị kiểm tra thực tế Điều này sẽ làm phátsinh chi phí hành chính đối với các giao dịch thương mại, hải quan điện tửđược thực hiện với mục đích là giữ các chi phí này ở mức thấp mà không làmphát sinh rủi ro lớn đối với Hải quan Chính vì vậy, hải quan điện tử có vai tròrất quan trọng đối với thương mại quốc tế và được xác định là giữ vai tròquan trọng nhất trong các biện pháp tạo thuận lợi thương mại

Hải quan điện tử được thực hiện trên cơ sở áp dụng các chuẩn mực, thông

lệ về hải quan tốt nhất để chuẩn hóa, đơn giản và hài hòa hóa các quy trìnhnghiệp vụ của cơ quan hải quan với quy trình kinh doanh của doanh nghiệp

Do đó sẽ đảm bảo sự tuân thủ với các quy tắc thương mại quốc tế, không gâycản trở tới quá trình tiếp cận thị trường và tính cạnh tranh của hàng hóa,doanh nghiệp trên trường quốc tế;

* Tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp: Giảm chi phí và thời

gian, nhân lực: Với thủ tục hải quan điện tử, doanh nghiệp chỉ cần khai tờkhai điện tử và gửi đến cơ quan hải quan; làm thủ tục hải quan trong thời gianrất ngắn ngay cả khi khoảng cách giữa địa điểm làm thủ tục hải quan và trụ sởdoanh nghiệp rất xa nhau (mà không bị giới hạn bởi không gian địa lý

Đồng thời, thực hiện HQĐT giúp giảm thiểu các loại chứng từ, tài liệu vàcác thủ tục không cần thiết: Việc nộp, xuất trình nhiều loại chứng từ, tài liệucũng như việc thực hiện các thủ tục hành chính giữa doanh nghiệp với các cơquan quản lý nhà nước, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau chiếmnhiều thời gian và chi phí khá lớn đối với thương mại và ngân sách nhà nước.Các chứng từ, tài liệu điện tử và việc xử lý các chứng từ, tài liệu, hàng hóatrong thời gian ngắn và được sử dụng bộ chứng từ, tài liệu gốc xuất trình Hảiquan và các cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ làm giảm gánh nặng hành chính

và các chi phí, thời gian đối với chuỗi cung ứng TMQT Tại Singapore, trướckhi có hệ thống TradeNet; các doanh nghiệp Singapore thường phải nộp

Trang 34

khoảng 21 loại chứng từ tới 23 cơ quan khác nhau, quy trình xử lý thườngmất 15-20 ngày Sau khi áp dụng hệ thống TradeNet, các doanh nghiệp chỉphải nộp 2 loại chứng từ và nhận tất cả các chấp thuận cần thiết của chính phủtrong vòng 15 phút Với những ưu thế đó, việc thực hiện thương mại điện tử

đã “tiết kiệm 15% giá trị hàng hóa nhập khẩu; hệ thống này làm tăng tính hiệuquả và tiết kiệm được hơn 1 tỷ USD mỗi năm”, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp vừa và nhỏ có thể tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế

* Thúc đẩy tăng kim ngạch xuất nhập khẩu:

Các nước khi triển khai áp dụng hải quan điện tử đều nhìn nhận đượclợi ích to lớn mà hải quan điện tử mang lại Nó không những giúp quá trìnhquản lý hải quan được hiện đại, minh bạch, góp phần đảm bảo an ninh quốcgia,…mà nó còn có một vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động xuấtnhập khẩu Thực tế cho thấy, quốc gia nào triển khai áp dụng phương phápquản lý hải quan hiện đại thì tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu cũng caohơn trước (chẳng hạn như Singapore, Thái Lan,…)

Đối với Việt Nam, cùng với những chính sách tạo thuận lợi thương mạikhác thì từ khi áp dụng hải quan điện tử, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăngrất nhanh Nếu như năm 2004, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ là 58,5 tỷUSD thì đến năm 2008 đã tăng lên 143,4 tỷ USD, gấp gần 2,5 lần Thứ hạng

về kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trên thế giới đã được nâng lên.Theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vị trí ngoại thươnghàng hoá của Việt Nam năm 2008 đứng thứ 42 trên thế giới, trong đó xuấtkhẩu ở vị trí 51 và nhập khẩu là 41 và được đánh giá là quốc gia có mức tăngtrưởng xuất nhập khẩu tốt, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Đặcbiệt, Việt Nam trong danh sách 30 nhà xuất khẩu lớn nhất vào Hoa Kỳ trongnăm 2007 Không chỉ vậy, Việt Nam đã chính thức vượt qua Philippin vươnlên vị trí thứ 5 về xuất nhập khẩu trong khối ASEAN năm 2007

Trang 35

* Giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ hải quan và doanh nghiệp: Mối

quan hệ giữa các doanh nghiệp với Hải quan và các cơ quan quản lý biên giớikhác trở nên thuận tiện, thân thiện, minh bạch, đỡ tốn kém và hiệu quả hơnthông qua thiết lập thông tin trao đổi điện tử giữa các bên;

Bảo đảm sự bình đẳng và thúc đẩy sự cạnh tranh cho các chủ thể liênquan tới các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Khi thực hiện hải quan điện tử,các chính sách, quy trình được đơn giản, minh bạch, áp dụng một cách thốngnhất đối với các đối tượng tham gia thủ tục hải quan điện tử; doanh nghiệpđược tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, Do đó, các doanh nghiệpkhông bị phân biệt đối xử, được chủ động về thông tin do đó sẽ chủ độngđược các hoạt động kinh doanh của mình;

Bên cạnh đó, việc thực hiện hải quan điện tử làm cho doanh nghiệp dễdàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công do cơ quan hải quan cung cấp; baogồm truy xuất các thông tin về kinh doanh, tải các mẫu đơn, gia hạn giấyphép, đăng ký kinh doanh, xin cấp phép và nộp thuế… Các dịch vụ này sẽcho phép đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, hỗ trợ quá trình phê duyệtđối với các yêu cầu của doanh nghiệp, sẽ thúc đẩy kinh doanh phát triển đặcbiệt là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.1.2 Vai trò của HQĐT trong cải cách hành chính nói chung và cải cách, hiện đại hóa quản lý hải quan nói riêng

Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ về kinh tế, sự phát triển như vũ bãocủa khoa học và công nghệ thì hầu như tất cả các quốc gia đều nằm trong quátrình cải cách hành chính để phục vụ phát triển kinh tế xã hội Quá trình nàydiễn ra không chỉ ở các nước đang phát triển mà ở ngay các nước phát triểnnhư Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc quá trình này cũng đang được đẩymạnh thực hiện cho phù hợp với điều kiện mới Tất cả thành tựu cải cáchhành chính nhà nước của các nước đã và đang hình thành nên những nét

Trang 36

chung của nền hành chính hiện đại, bên cạnh những đặc điểm riêng của nềnhành chính mỗi nước

Nhận thức được những lợi ích của quản lý hành chính hiện đại, Hải quancác nước nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học vào hoạt động quản

lý hành chính và hoạt động nghiệp vụ Hầu hết các chương trình cải cách,hiện đại hóa quản lý của các cơ quan hải quan đều dựa trên 2 trụ cột: Áp dụngcác chuẩn mực quốc tế về quản lý hành chính nhà nước và quản lý nghiệp vụ;Ứng dụng CNTT và truyền thông vào quản lý hành chính nhà nước

Hiện đại hóa hải quan theo hướng phát triển hải quan điện tử giúp cho cơquan hải quan kiểm soát hiệu quả hơn; thông quan hiệu quả hơn; áp dụngthống nhất luật hải quan; thu thuế hiệu quả hơn; phân tích dữ liệu hiệu quảhơn; thống kê ngoại thương hiệu quả hơn ; Qua đó góp phần đẩy nhanh côngcuộc cải cách hành chính đất nước, giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà,tiết kiệm chi phí HQĐT còn làm tăng tính hiệu quả, dân chủ và minh bạch,giảm hiện tượng quan liêu, tạo dựng lòng tin của công dân đối với Chính phủ.Hải quan điện tử đem lại nhiều lợi ích cho cải cách thủ tục hành chính,hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước nói chung và trong lĩnh vực hải quannói riêng Tuy nhiên, sự tác động này không phải là mối quan hệ một chiều;

sự tác động của cải cách hành chính tới thủ tục hải quan điện tử mới là khâuthen chốt để hiện đại hóa hoạt động quản lý hải quan vì:

Thứ nhất: Ứng dụng CNTT chỉ phát huy được hiệu quả khi quy trình thủ

tục hải quan đã được đơn giản, hài hòa, minh bạch và chuẩn hóa Nếu hệthống hành chính vẫn còn các quan hệ, quy trình, thủ tục rườm rà, khôngminh bạch rõ ràng và còn chồng chéo giữa các cơ quan Nhà nước thì khôngthể viết các thuật toán, quy trình cho thủ tục hải quan điện tử được Mặt khác,cốt lõi của cải cách hành chính đối với ngành hải quan là cải thiện môi trườnglàm thủ tục hải quan, hoạt động của cơ quan hải quan đặc biệt là tính chuyên

Trang 37

nghiệp của đội ngũ công chức Cải cách hành chính là điều kiện tiên quyết để

áp dụng thủ tục hải quan điện tử

- Thứ hai: CNTT trong thực hiện hải quan điện tử xét cho cùng chỉ là

công cụ, phương tiện để cải cách hành chính, hiện đại hóa hoạt động quản lý;

nó chỉ đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa chứ không phải là khâu quyết định cho

sự thành công của cải cách hành chính

Chính vì những lý do trên mà để thực hiện thành công thủ tục hải quanđiện tử trước hết chính phủ mỗi nước cần thực hiện cải cách thủ tục hànhchính Đây là một trong những khâu then chốt quyết định tới thành công củacác dự án hiện đại hóa hải quan nói riêng và dự án chính phủ điện tử nóichung

1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển Hải quan điện tử

ty dịch vụ vận tải bây giờ phải có nghĩa vụ áp dụng nhiều hơn nữa công nghệthông tin

Trong các thoả thuận quốc tế cũng nhấn mạnh đến việc phải phê chuẩn

áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thương mại và vận tải đặc biệt làcác cuộc đàm phán của WTO Nhiều đề nghị của các nước thành viên WTOđưa ra trong các cuộc đàm phán liên quan đến các biện pháp tạo thuận lợithương mại thông qua việc áp dụng CNTT tại các cảng biển và cửa khẩu

Trang 38

đường bộ Bất cứ biện pháp nào nhằm đơn giản hóa thủ tục hoặc tăng cườngtính minh bạch bằng cách này hay cách khác, đều tích hợp CNTT Một số đềxuất yêu cầu việc phê chuẩn các giải pháp CNTT cụ thể chẳng hạn như đưa racác quy định liên quan đến thương mại trên mạng Internet, sử dụng chứng từđiện tử, tự động hóa quy trình thủ tục và cơ chế một cửa điện tử.

Các cuộc đàm phán WTO cũng đã đưa ra việc xây dựng “cơ chế đảmbảo rằng việc đề xuất và tính sẵn có các thông tin về thủ tục hải quan đến tất

cả các nước thành viên trên phương tiện thông tin đại chúng chính thức qua

đó có thể truy cập một cách nhanh chóng, kể cả ở dạng điện tử nếu có thể”

Có đề nghị cho rằng “các nước cung cấp các thông tin phải ở trạng thái sẵnsàng để các bên quan tâm có thể truy cập thông qua các phương tiện điện tửmiễn phí hoặc với một mức phí phù hợp với các chi phí cung cấp dịch vụ”, và

“Mỗi nước thành viên phải thông báo cho các nước khác biết thông qua banThư ký phương tiện để truy cập các thông tin được cung cấp ở dạng điện tử”

Ấn phẩm trên Internet được hiểu là “một phương pháp sẵn có cho các nướcthành viên đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến việc cung cấp thông tin

* Sự tiến bộ của công nghệ thông tin tạo điều kiện cho việc áp dụng phổ biến chứng từ điện tử trên toàn thế giới.

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cho phép các quốc gia và các đầu mốiquản lý hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia đó thuận lợi hơn trong việcchia sẻ và sử dụng chung thông tin Các công nghệ và kỹ thuật bảo mật chothông điệp điện tử như: watermarking, PKI, chữ ký số, phát triển cho phépviệc thực hiện hải quan điện tử dễ dàng và thuận lợi hơn Việc áp dụng côngnghệ thông tin giúp đẩy nhanh quá trình áp dụng cơ chế một cửa giữa cácquốc gia, giúp cho việc trao đổi thông tin diễn ra nhanh chóng và giúp các cơquan quản lý có thể ra các quyết định kịp thời, làm cho thương mại thôngthoáng hơn

Trang 39

*Việc sử sụng các chuẩn mực quốc tế trong chứng tử điện tử ngày càng phát triển.

Các tổ chức quốc tế liên quan (UN, WCO, WTO, ) ngày càng tiến xahơn trong việc chuẩn hoá các dữ liệu/ tiêu chuẩn Các tổ chức này luôn yêucầu và đòi hỏi các nước phải cung cấp và trao đổi thông tin theo các chuẩnmực nhưng ở những mức độ khác nhau Những thông tin này giúp các nước,các tổ chức hiểu hơn nền kinh tế mỗi nước, qua đó sẽ góp phần tạo thuận lợihơn trong hợp tác quốc tế và đảm bảo quyền lợi được đối xử bình đẳng củacác quốc gia.

Các quốc gia ngày càng đẩy mạnh sử dụng các chuẩn mực quốc tế trongcác chứng từ điện tử Để có thể đạt được một tập hợp các khuôn mẫu chung

và chứng từ điện tử, việc hài hòa hóa các chứng từ nhập khẩu và dữ liệu cầnthiết để giải phóng hàng hóa sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế, trong số đó baogồm Hiệp định trị giá hải quan WTO, Công ước HS, Hướng dẫn về mẫuchuẩn của Liên hợp quốc và Công ước Kyoto của WCO đóng vai trò quantrọng Cùng với đó bộ dữ liệu được xây dựng trong khuôn khổ của Mô hình

Dữ liệu Hải quan, UNEDIFACT và Mẫu chủ của Liên hợp quốc có thể đượcxem là các điểm/tiêu chuẩn tham chiếu cơ bản

Việc sử dụng các chuẩn mực quốc tế trong chứng từ điện tử có ý nghĩarất lớn để các hệ thống điện tử thay thế các thủ tục thủ công dựa trên giấy tờcủa cơ quan hải quan cũng như các cơ quan khác có liên quan đến công tácquản lý xuất nhập khẩu

* Nhu cầu giảm chi phí giao dịch/ thuận lợi hoá thương mại và cải cách hành chính nói chung

Hiện nay thương mại hiện đại đã thay thế cho thương mại truyền thống,giúp cho các doanh nghiệp không cần phải đến tận nơi cũng có thể tìm hiểu,xem xét và đàm phán ký kết các hợp đồng kinh doanh hay thực hiện các khai

Trang 40

báo hành chính với các cơ quan chức năng Điều này cho phép các quốc gia

và các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí đến mức tối đa, giảm thiểu thời giancần thiết bắt buộc cho một quy trình thủ tục hành chính

Quá trình cải cách và hiện đại hoá hải quan, tạo thuận lợi thương mạikhông năm ngoài qui trình cải cách hành chính của mỗi quốc gia Hiện đạihoá hải quan, áp dụng phương pháp quản lý mới với mục tiêu phát triển hảiquan điện tử sẽ tiết kiệm rất lớn các chi phí quản lý của cơ quan chức năngcũng như mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp

1.2.2.2 Các nhân tố chủ quan.

* Yêu cầu về hội nhập với thế giới của ngành Hải quan.

Ngành Hải quan đã và đang thực hiện các hoạt động của mình trong sựtác động của xu hướng toàn cầu hoá Xu hướng này yêu cầu hải quan phảithực hiện các hoạt động tuân thủ pháp luật trong một thế giới bị lấn át bởi tácđộng của toàn cầu hoá và các nhân tố phát sinh khác đe doạ tới an ninh quốcgia, bao gồm cả khủng bố, chiến tranh, bệnh dịch và sự bất ổn trong các điềukiện kinh tế hiện hành Cùng với đó, quá trình hội nhập ngày càng nhanh vàokinh tế thế giới và trở thành thành viên của các tổ chức như WTO, ASEAN,APEC và AFTA, WCO,…đòi hỏi Việt Nam phải có trách nhiệm thực hiệncác cam kết quốc tế Hải quan sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm đáp ứng rấtnhiều trong số những cam kết này

Việc hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới đưa đến những trách nhiệmphúc tạp hơn cho cơ quan hải quan Ngành hải quan không chỉ đảm bảo việctạo thuận lợi thương mại, thúc đẩy xuất nhập khẩu, tạo nguồn thu cho nhgânsách mà còn phải duy trì một mức độ an ninh cao để chống lại những đe doạkhủng bố, ma tuý, dịch bệnh và các khía cạnh tiêu cực khác của môi trươngquốc tế Chính vì thế, yêu cầu ngành Hải quan phải có những nỗ lực rất lớn đểhội nhập đảm bảo thực hiện cân đối giữa tạo thuận lợi thương mại mạnh hơn

và đảm bảo chiến lược quản lý và tuân thủ hiệu quả

Ngày đăng: 11/09/2014, 04:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU THEO  HẢI QUAN TRUYỀN THỐNG - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Hình 1.1 PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU THEO HẢI QUAN TRUYỀN THỐNG (Trang 32)
Hình 1.2: PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU THEO HẢI QUAN ĐIỆN TỬ - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Hình 1.2 PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU THEO HẢI QUAN ĐIỆN TỬ (Trang 33)
Hình 1.3: Hệ thống Trade Net của Hải quan Singapore - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Hình 1.3 Hệ thống Trade Net của Hải quan Singapore (Trang 49)
Bảng 2.1: Số lượng các cục, chi cục hải quan tham gia hải quan điện tử qua các giai đoạn (từ 2005 -2010) - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Bảng 2.1 Số lượng các cục, chi cục hải quan tham gia hải quan điện tử qua các giai đoạn (từ 2005 -2010) (Trang 67)
Bảng 2.4: Số lượng doanh nghiệp và số lượng tờ khai thực hiện HQĐT giai đoạn II (5 tháng đầu năm 2010) - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Bảng 2.4 Số lượng doanh nghiệp và số lượng tờ khai thực hiện HQĐT giai đoạn II (5 tháng đầu năm 2010) (Trang 77)
Hình 2.1: Mô hình Hải quan một cửa - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Hình 2.1 Mô hình Hải quan một cửa (Trang 85)
Hình 2.2: Thông quan điện tử theo mô hình 3 khối - phát triển hải quan điện tử nhằm thúc đẩy xuất nhập khẩu của việt nam trong giai đoạn hội nhập
Hình 2.2 Thông quan điện tử theo mô hình 3 khối (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w