1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đào tạo tín chỉ và các lợi thế

40 471 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào tạo tín chỉ và các lợi thế
Trường học Trường Đại học Hòa Bình
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2009
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 337 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào tạo tín chỉ và các lợi thế

Trang 1

Đào tạo theo

tín chỉ

Trường Đại học Hòa Bình

Tháng 5 - 2009

Trang 2

4 lợi thế của đào tạo theo tín chỉ

Lợi thế thứ nhất là

Sinh viên có thể chủ động về thời gian, bố trí việc hòan

thành chương trình theo năng lực của mình Phần cứng bắt buộc và phần mềm do sinh viên lựa chọn (dài ra với sinh viên yếu, ngắn lại với sinh viên giỏi)

Lợi thế thứ hai là,

khi điều kiện kinh tế không cho phép các em được tiếp tục theo học thì sinh viên có thể hoàn toàn được phép kéo dài chương trình học (trong một khoảng thời gian theo quy định riêng từng trường) mà không bị ảnh hưởng gì khi các

em quay lại tiếp tục chương trình học.

Trang 3

3 lợi thế của đào tạo theo tín chỉ

Lợi thế thứ ba

Sinh viên còn có thể chuyển đổi chuyên ngành mình đang theo học một cách khá dễ dàng và không phải học lại từ đầu Nếu biết sắp xếp những tín chỉ giống nhau giữa hai ngành một cách hợp lý, sinh viên có thể hoàn toàn tốt

nghiệp được hai chương trình học trong một thời gian

giảm đáng kể so với hình thức đào tạo theo niên chế.Ví dụ như sinh viên có thể có hai bằng marketing và kế toán mà chỉ cần phải học thêm khoảng 5 tháng.

Trang 4

Những điểm quan trọng hơn của hệ tín chỉ là

Lợi thế thứ tư

- nhấn mạnh tính đa dạng của nền tri thức,

- đề cao phương pháp để tìm hiểu thế giới (vật chất và tinh thần) hơn là những kiến thức cụ thể hoặc những thông tin

cụ thể trong những lĩnh vực nào đó

Trên cơ sở đó, cho phép sinh viên có những sự lựa chọn

chương trình học theo sở thích của mình (nhưng không hoàn toàn tùy ý mà phải theo một số quy tắc)

Tín chỉ = Dân chủ hóa nhà trường

Trang 5

Một điểm nổi bật của các trường ĐH dạy theo

hệ tín chỉ ở Mỹ là sự đa dạng, phong phú

của các môn học khác nhau Ở ĐH Ohio,

tổng số các môn học khác nhau có thể tìm thấy trong niên giám là khoảng 5 nghìn

môn [iii] ; ở các trường ĐH lớn khác của

Mỹ số lượng các môn học có trong niên

giám cũng nhiều tương tự.

Trang 6

Tất nhiên, không phải năm học nào tất cả các môn đó cũng được dạy Có những môn 2, 3 hoặc 4 năm mới dạy một lần, với số lượng sinh viên rất ít, và có những môn năm nào

cũng có hàng chục lớp với hàng nghìn sinh viên Sinh viên trong một lớp ít hay nhiều, phần lớn là do tính chất của

môn học đó chứ không phải do chất lượng giảng dạy của giảng viên.

Nhiều trường ĐH lớn ở Mỹ có những lớp có 400-500 sinh viên, thậm chí có lớp hơn 1000 sinh viên [iv] , trong khi đó cũng có những lớp chỉ có 3 sinh viên Số sinh viên trong lớp nhiều hay ít còn phụ thuộc vào thời gian học có thuận tiện cho đa số sinh viên hay không, giảng viên cho điểm dễ hay khó, v.v

Trang 7

Các trường ĐH ở Mỹ không trả lương cho giảng viên dựa trên số lượng sinh viên vì, trên thực tế, thời gian giảng bài cho 1000 sinh viên cũng bằng thời gian giảng bài cho 3 sinh viên Việc đánh giá sinh viên (chấm bài, cho điểm,…)

trong những lớp có đông sinh viên thường được phân công cho các sinh viên cao học.

Có thể, những giảng viên dạy những lớp lớn sẽ được cho thêm điểm (và như vậy là thêm một chút lương) vào các kỳ đánh giá hàng năm, sẽ được xem xét để giảm bớt số lớp

phải dạy (ví dụ, chỉ phải dạy 1 lớp thay cho 2 lớp).

Trang 8

Nói tóm lại, các công việc giảng dạy được phân công một cách công bằng nhất có thể, và tiêu chuẩn quan trọng nhất

là giảng viên đó cần phải dành bao nhiêu thời gian cho

công việc giảng dạy của mình.

Tất nhiên, ở những trường chỉ có một vài nghìn sinh viên, với dăm bảy chục giảng viên, thì cuốn niên giám của họ

mỏng hơn nhiều, và họ không thể có nhiều môn học như ở các trường lớn được Hệ quả là sinh viên có ít lựa chọn

hơn

Nhưng điều đó không thật quan trọng, miễn là sinh viên vẫn được tự chọn, tự xây dựng cho mình một chương trình học vừa đáp ứng được sở thích riêng, trong phạm vi có thể, vừa đáp ứng được các yêu cầu của giáo dục kiến thức đại cương và yêu cầu chuyên ngành

Trang 9

Thực tế là ở Mỹ có rất nhiều trường ĐH nhỏ có số lượng sinh viên và giảng viên không nhiều, không có nhiều lựa chọn các môn học, nhưng có chất lượng giảng dạy rất tốt.

Trang 10

Hạn chế của đào tạo theo tín chỉ

Bên cạnh 4 mặt lợi trên thì với phương thức đào tạo tín

chỉ, nếu áp dụng đại trà ngay trong thời gian này cũng có một vài hạn chế chưa thể khắc phục như tổ chức đoàn thể,

tổ chức lớp học có thể bị phá vỡ khi sinh viên hoàn toàn

chủ động trong cách học cũng như thời gian học

Cùng đó, việc đăng ký, lựa chọn các tín chỉ phù hợp đối với sinh viên không phải là dễ dàng gì, sinh viên phải có khả năng tự chủ cao trong việc sắp xếp lộ trình học tập…

Trang 11

Hệ tín chỉ và các yêu cầu tối thiểu

trường Nói vắn tắt, một môn học có 1, 2 hoặc 3 giờ giảng dạy chính thức trong một tuần thì có 1, 2 hoặc 3 TC

15 tuần học và 1 tuần thi Nhưng cũng có nhiều trường dạy theo học kỳ quarter, bao gồm 10 tuần học và 1 tuần thi Vì thế, một

TC của trường dạy theo quarter bằng 2/3 của một TC của

trường dạy theo semester

Nam, về cơ bản, cũng như sự khác biệt giữa semester và quarter, hay là giữa TC Mỹ và TC châu Âu Ngay ở Mỹ, cũng có trường sử dụng đơn vị đo lường khác thay cho TC, như ở ĐH

nhất là TC (semester); ví dụ, 1 half course ở Harvard tương

đương với 4 TC.

Trang 12

Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn,

thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội

dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ

Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 -

45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn

hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí

nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường.

Trang 13

Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần

đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

Trang 14

Chương trình đào tạo

hệ tín chỉ thường được gắn chặt với các yêu cầu tối thiểu bắt buộc về kiến thức đại cương (general education) và yêu cầu chuyên ngành Điều này không mới so với VN

Cho đến nay, các trường ĐH ở châu Âu và nhiều nước

khác không có yêu cầu về giáo dục kiến thức đại cương

trong chương trình ĐH (có những ngoại lệ) Họ cho rằng

sở dĩ ở Mỹ phải có yêu cầu giáo dục kiến thức đại cương là

vì giáo dục phổ thông ở Mỹ chất lượng kém, do đó sinh

viên ĐH phải mất một năm để học lại các kiến thức phổ

Trang 15

Ví dụ, chương trình kiến thức đại cương ở ĐH Harvard,

khoảng ¼ toàn bộ khối lượng các môn học mà một SV phải học để tốt nghiệp, và bao gồm các môn trong những lĩnh

vực: Văn hóa nước ngoài, Lịch sử, Văn học & Nghệ thuật, Luận đạo đức (moral reasoning), Luận tính toán

(quantitative reasoning), Khoa học, và Phân tích xã hội.

tương đương với 32 half-courses để tốt nghiệp (tương đương với 32x4 = 128 TC của các trường ĐH khác ở Mỹ), trong đó khoảng ½ các môn để thỏa mãn yêu cầu chuyên ngành,

khoảng ¼ các môn để thỏa mãn các yêu cầu về chương trình giáo dục kiến thức đại cương (chương trình lõi), còn lại là những môn được hoàn toàn tự chọn theo ý thích hoặc để

thỏa mãn yêu cầu của chuyên ngành phụ (minor).

Trang 16

Trường ĐH trang bị gì cho sinh viên?

Chỉ chú trọng đào tạo chuyên môn, vừa thừa vừa thiếu

sinh viên được tự do lựa chọn môn học theo ý thích của

mình nhưng phải tuân theo những quy tắc nhất định, tức

là phải thỏa mãn các yêu cầu của giáo dục kiến thức đại cương và các yêu cầu của chuyên ngành

Thực tế cho thấy khoa học và công nghệ phát triển rất

nhanh, và những gì sinh viên học được trong bốn năm ở trường ĐH chỉ là những phần cơ sở nhập môn của các

chuyên ngành học mà thôi

Trang 17

Vì vậy, thay vì tham vọng nhồi nhét các kiến thức chuyên ngành, điều có ích hơn là đạt được một sự cân bằng giữa học chuyên ngành và kiến thức đại cương, bao gồm cả việc rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng phân tích, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, truyền đạt thông tin, các kỹ năng mềm về các lĩnh vực làm việc độc lập cũng như làm theo nhóm, hợp tác tốt với đồng nghiệp, tâm lý học, v.v…

Điều đặc biệt quan trọng là phải làm sao để sinh viên xác định được là những kiến thức học được ở trường chỉ là

phần mở đầu thôi Nhưng đó là phần mở đầu rất quan

trọng, chuẩn bị cho họ kiến thức và kỹ năng để họ tiếp tục học suốt chặng đời tiếp theo, ngay từ những ngày tháng đầu tiên rời ghế nhà trường để đi vào cuộc sống.

Trang 18

Yêu cầu “đào tạo theo nhu cầu xã hội” là chính đáng, nhất

là trong điều kiện Việt Nam; chúng ta còn quá nghèo để có thể cho phép mình lãng phí đào tạo ra rồi không sử dụng được vào mục đích gì

Tuy nhiên, nhu cầu của các doanh nghiệp về lao động rất

đa dạng và thay đổi liên tục, cho nên nếu các doanh nghiệp muốn sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể hòa nhập ngay vào môi trường kinh doanh của họ thì chỉ có cách là họ tự

mở trường đại học của công ty họ.

Trên thực tế các công ty lớn ở Mỹ đều có các bộ phận đào tạo của công ty, chuyên giúp cho các nhân viên mới vào

làm quen nhanh với các quy trình và công cụ chuyên môn được sử dụng trong công ty Nhiều khi, các công ty này

hợp tác với các trường ĐH để đào tạo, hoặc outsource việc huấn luyện này cho các công ty chuyên về huấn luyện cho doanh nghiệp (corporate training companies).

Trang 19

Vì thế, cần xây dựng lại chương trình đào tạo sao cho đạt được sự cân bằng giữa kiến thức chuyên môn và kiến thức đại cương

Tuy nhiên, thời gian học của sinh viên chỉ hạn chế trong 4 năm và chương trình học không nên quá nặng nề, để

khuyến khích sinh viên tự học, tự nghiên cứu

Một đặc điểm nữa của giáo dục ĐH ở Việt Nam là cần phải chú trọng nhiều đến tiếng Anh Do đó, chương trình giáo dục kiến thức đại cương của các trường ĐH ở Việt Nam bao gồm chương trình triết học Max-Lenin hiện chiếm

khoảng 30% tổng sốTC mỗi sinh viên phải tích lũy

Tiếng Anh cũng có thể chiếm tới khoảng 10% tổng số tín chỉ nữa, còn lại là chương trình chuyên ngành (40%-60%

số TC)

Các môn tự chọn hoàn toàn theo sở thích cũng có thể đưa vào chương trình giáo dục đại cương.

Trang 20

Hệ tín chỉ =

“Xây dựng lại chương trình đào tạo”

việc xây dựng lại chương trình học khi chuyển sang hệ tín chỉ là điều bắt buộc phải làm.

Nói một cách ngắn gọn, xây dựng chương trình học theo hệ tín chỉ tức là xây dựng lại chương trình đào tạo và thể hiện thành một quyển niên giám cho trường ĐH

Nhưng không chỉ là một liệt kê các môn học, mà phải là

một quyển niên giám với đầy đủ chức năng của nó, để làm sao mỗi sinh viên đều có thể tìm thấy ở đó đầy đủ thông tin

về các môn học, về các yêu cầu để được nhập học, đăng ký học các môn, đăng ký chuyên ngành và tốt nghiệp, v.v…

Trang 21

Các trường ĐH ở Mỹ hàng năm đều có các niên giám

chương trình học cử nhân và cao học (undergraduate

catalog and graduate catalog) Các niên giám này đều được

in ra phát cho sinh viên và được để trên website của

trường Trong các niên giám này, tất cả các môn học trong trường được liệt kê đầy đủ, kèm theo các mã (code) của

các môn học này, các mô tả ngắn gọn về nội dung, các yêu cầu tiên quyết (prerequisite)

Nói chung, niên giám có thể thay đổi hàng năm, như thêm các môn học mới, bỏ các môn không còn phù hợp nữa,

thay đổi yêu cầu giáo dục kiến thức đại cương hay yêu cầu của các chương trình chuyên ngành

Trang 22

Cụ thể hơn, sau đây là liệt kê một số yêu cầu mà quyển niên giám phải có:

- Mỗi một môn học đều phải có tên môn học, mã, số TC, nội dung tóm tắt và yêu cầu tiên quyết;

- Phải có quy định cụ thể về chương trình giáo dục kiến thức đại cương và danh sách những môn nằm trong chương trình này;

- Phải có quy định cụ thể về yêu cầu của các trường con

(college) và các khoa (faculty), danh sách các chuyên ngành của các khoa (tên và mã của từng chuyên ngành), và các yêu cầu cụ thể của từng chuyên ngành (số TC cần phải học về

chuyên ngành, danh sách của các môn có thể lựa chọn, các hạn chế, một số lựa chọn mẫu để sinh viên tham khảo,…).

Trang 23

Công việc xây dựng chương trình là một khối lượng công việc lớn và phải huy động rộng rãi các giảng viên trong

trường tham gia Từ việc tập hợp lại các môn hiện nay

đang dạy, cấp cho mỗi môn một mã hợp lý, viết một giới thiệu tóm tắt (không quá 200 chữ) cho từng môn, quy định yêu cầu tiên quyết, số TC,…, đến việc xây dựng chương trình giáo dục kiến thức đại cương, các chương trình của các khoa và các chuyên ngành

Trang 24

Ngoài ra, cần phải thiết kế thêm một số môn học bổ sung

để phục vụ cho hệ tín chỉ, để cung cấp thêm cho các

chương trình chuyên ngành và đặc biệt là cho các chương trình giáo dục kiến thức đại cương, để sinh viên thực sự được lựa chọn, cho dù còn là một lựa chọn hạn chế

Nếu không làm như thế, việc chuyển đổi từ hệ niên chế sang tín chỉ chẳng qua là đem cái khung tín chỉ đè lên cái

hệ niên chế mà thôi.

Trang 25

Xây dựng các chương trình học phải là công việc chung của đội ngũ giảng viên của toàn trường

Nói chung, các trường đều khuyến khích giảng viên đề

xuất các môn học mới Giảng viên nào cũng có quyền đề xuất môn học mới Có những quy định chi tiết về các thủ tục phải làm, theo các mẫu có sẵn, khi giảng viên muốn đề xuất một môn học mới, trong đó có tên gọi và mã của môn học, nội dung tóm tắt, sách giáo khoa sẽ sử dụng, v.v…

Nếu môn học được thông qua, nó sẽ được bổ sung vào niên giám và, tùy theo nhu cầu của sinh viên cũng như quyết định của trưởng khoa, có thể được dạy cho sinh viên Mặt khác, nếu một môn học nào quá lâu không được dạy, và trường cũng không còn giảng viên có thể dạy được môn đó nữa, thì các tiểu ban về chương trình học của các khoa có thể đề nghị bỏ ra khỏi niên giám

Trang 26

Để cho công việc tiến hành có hiệu quả, đúng tiến độ,

trường sẽ có một hội đồng chương trình phụ trách chung việc xây dựng các chương trình học Trong hội đồng

chương trình có các ban phụ trách chương trình giáo dục kiến thức đại cương và các chương trình chuyên môn,

Mỗi khoa phải có các ban xây dựng các chương trình

chuyên ngành

Cần phải xem đây là công việc thường xuyên là trách

nhiệm của mỗi giảng viên mà không phải là công việc có tính thời vụ, làm theo dự án.

Trang 27

Đánh giá kết quả học tập của sinh viên

Kết quả học tập được tính theo học phần và tín chỉ mà

không tính theo học phần và đơn vị học trình (thực ra

không có gì thay đổi lớn)

Thay đổi lớn nhất là xếp hạng theo chữ (A, B, C và D) mà không theo số (1 10) một sự thay đổi không nhất thiết phải có)

Loại đạt: A (8,5 - 10) Giỏi A=4

Trang 28

Xếp hạng năm đào tạo và học lực

tạo theo khối lượng kiến thức đã được tích lũy mà không theo thời gian học tại trường

Chỉ có hai loại: bình thường >2 và yếu <2

mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ:

ở học kỳ phụ.

Trang 29

Sinh viên đăng ký học

và đăng ký tốt nghiệp

Phần lớn các sinh viên đều chọn cho mình một chuyên

ngành (major) hoặc trường con (college or school) ngay khi nộp đơn vào trường, tuy nhiên điều này không bắt

buộc Nếu sinh viên chưa chọn cho mình một chuyên

ngành nào, thì họ được gọi là “chưa quyết định”

(undecided)

sinh viên có thể chọn trường con và ngành bất kỳ lúc nào trong hai năm đầu đại học, và phải chọn trước khi tích lũy được 90 TC (tức là khoảng gần ½ khối lượng TC tối thiểu

để tốt nghiệp)

Ngày đăng: 18/03/2013, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w