1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường đại học hoa kì hiện nay

56 507 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường đại học hoa kì hiện nay
Trường học Trường Đại học Hoa Kỳ
Chuyên ngành Mô hình đào tạo tín chỉ
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 790,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế đã có nhiều tác giả của Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề xung quanh việc đào tạo theo mô hình tín chỉ bậc Đại học của Hoa Kỳ nhưng đa số những phân tích ấy thườ

Trang 1

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5

2.1 Ý nghĩa lý luận 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

3 Đối tượng, khách thể, mẫu phạm nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Khách thể nghiên cứu 6

3.3 Phạm vi nghiên cứu 6

3.3.1 Không gian nghiên cứu 6

3.3.2 Thời gian nghiên cứu 6

3.3.2 Phạm vi vấn đề nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4.1 Mục đích nghiên cứu 6

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5.Câu hỏi nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 7

6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Khung lí thuyết 8

NỘI DUNG CHÍNH 10

Chương 1: Những cơ sở để tiến hành nghiên cứu mô hình đào tạo theo tín chỉ bậc Đại học Hoa Kì hiện nay 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Cơ sở triết học 10

1.1.2 Cơ sở Xã hội học 11

1.1.2.1 Thuyết lựa chọn duy lí 11

1.1.2.2 Mô hình lý tưởng – ideal type của Mark Weber 12

1.1.3 Khái niệm công cụ 12

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 15

Trang 2

2

1.2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 15

1.2.1.2 Những nghiên cứu trong nước 16

1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 20

1.2.2.1 Địa bàn Hoa Kì 20

1.2.2.2 Các trường Đại học của Hoa Kì 22

Chương 2 Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì 25

2.1 Mô hình đào tạo tín chỉ Hoa Kỳ ra đời sớm và có sự phát triển mạnh mẽ đến ngày nay 25

2.1.1 Hệ thống tín chỉ Đại học Hoa Kỳ hiện nay 26

2.1.1.1 Giờ tín chỉ trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ 26

2.1.1.2 Hệ thống môn học tự chọn trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ 27

2.1.1.3 Chương trình đào tạo chuyên nghành phong phú và chất lượng 28

2.1.2 Phương pháp dạy và học trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ 30

2.1.3 Cách thức tính điểm- hành trình ghi nhận trí tuệ của sinh viên trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ 32

2.1.4 Kết quả và phần thưởng 35

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới mô hình đào tạo tín chỉ tại các Trường Đại học Hoa Kì 37

2.3 Mô hình đào tạo theo tín chỉ đã mang lại chất lượng cao cho giáo dục bậc Đại học Hoa Kì 42

2.3.1 Chất lượng giáo dục tổng quan của các trường Đại học Hoa Kì 42

2.3.2 Chất lượng cụ thể trong dạy và học tại các trường Đại học của Hoa Kỳ 45

2.4 Mô hình đào tạo Đại học theo tín chỉ của Hoa kỳ có ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới trong đó có Việt Nam 47

KẾT LUẬN 50

Trang 3

kì một quốc gia nào trên thế giới Ở Việt Nam, từ lâu, giáo dục đã được coi trọng “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và hiện tại Việt Nam nằm trong top những quốc gia đầu tư ngân sách nhiều nhất cho Giáo dục, “chiếm 20% GDP” năm 2010

nhat-the-gioi-11154100.html) Năm 2011 tổng dự toán chi ngân sách nhà nước 2011 của Bộ GD-ĐT là một con số rất lớn “5.081,6 tỷ đồng” (http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/nam-2011-du-toan-chi-ngan-sach-nganh-giao-duc-hon-5-ngan-ty-dong-446702.htm ) Có thể nói mọi sự so sánh đều là khập khiễng, tuy nhiên nếu đặt một cái nhìn bao quát thì chúng ta thấy được nền giáo dục của nước nhà vẫn chưa có bước phát triển nhảy vọt so với các nước khác trên Thế giới, đặc biệt là các nước phát triển

(http://www.tinmoi.vn/Viet-Nam-thuoc-nhom-nuoc-co-ty-le-chi-cho-giao-duc-cao-ở phương Tây như Hoa Kì

Trong toàn bộ hệ thống giáo dục, giáo dục Đại học được xem là một trong những bậc học quan trọng nhất hiện nay Giáo dục Đại học không chỉ thể hiện sự trưởng thành của người học về mức độ tri thức, mà còn là cơ hội để người học đạt được các mục tiêu nghề nghiệp cá nhân và hiệu quả kinh tế Giáo dục Đại học không chỉ cải tiến chất lượng cuộc sống của từng cá nhân nói riêng mà giáo dục đại học có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với xã hội nói chung Nó mở ra cánh cửa hiểu biết của chúng

ta đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại, và nó cho phép chúng ta đóng góp vào sự giàu mạnh của cộng đồng và dân tộc Như vậy giáo dục Đại học không phải chỉ

là lợi ích tư (private benefit), mà còn là lợi ích công vô cùng quý báu (public good) Một trong các chỉ số của một xã hội thịnh vượng là khi các công dân của xã hội đó tìm

Trang 4

4

kiếm cơ hội giáo dục tốt hơn Ngày nay, sinh viên tốt nghiệp đại học luôn được các nhà lãnh đạo trong các doanh nghiệp, công ty tư nhân và chính phủ luôn hướng đến, quan tâm Điều này giúp cho sinh viên phát huy mức độ hiệu quả của những gì họ học được ở đại học và cho phép họ phục vụ cho quyền lợi của dân tộc, và rộng lớn hơn, cho cả thế giới

Hoa Kì là một quốc gia rộng lớn với lịch sử phát triển giáo dục chưa thực sự lâu đời tuy nhiên nơi đây lại là cái nôi của mô hình đào tạo theo tín chỉ ở bậc Đại học - một mô hình khá phổ biến hiện nay đã và đang mang lại hiệu quả cao cho không chỉ nền giáo dục của bản thân Hoa Kì mà còn nhiều nước trên thế giới Thêm vào đó, mô hình đào tại tín chỉ bậc đại học của Hoa Kì cũng nhận được nhiều sự quan tâm, đánh giá của dư luận trên khắp thế giới, tính cập nhật cũng được diễn ra đều đặn, biểu hiện

ở nhiều bài báo trên các trang báo in, báo mạng

Vượt ra ngoài biên giới nước Mĩ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp dụng mạnh

mẽ trước hết ở các nước Tây Âu và sau đó lan rộng ra các nước khác trên toàn thế giới

trong đó có Việt Nam Theo công văn số: Số: 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo

dục và Đào tạo về quyết định “Về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” thì ngày 30/8/2007 Quy chế đào tạo đại học

và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ chính thức được khởi động

(http://www.moet.gov.vn/?page=6.12&type=documents&view=17325) Tuy nhiên, từ

đó đến nay mô hình đào tạo theo tín chỉ ở VN hiện nay còn khá nhiều bất cập gây khó khăn cho cả các nhà quản lí, cán bộ, giảng viên và người học

Trên thực tế đã có nhiều tác giả của Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề xung quanh việc đào tạo theo mô hình tín chỉ bậc Đại học của Hoa Kỳ nhưng

đa số những phân tích ấy thường làm nổi bật một số khía cạnh về mô hình đó tiêu biểu như những khó khăn, thách thức trong áp dụng mô hình đào tạo mới tại các trường Đại học Vì vậy, chúng tôi nhận thấy rằng, việc đi sâu tìm hiểu toàn bộ những nét cơ bản của mô hình đào tạo tín chỉ Hoa Kì là một vấn đề không mới nhưng không kém phần quan trọng cần được lưu tâm Bởi đây là nơi khởi nguồn, cũng là nơi mà có nền giáo dục dựa và mô hình tín chỉ mạnh nhất thế giới

Trang 5

5

Vì tất cả những lí do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Mô hình đào tạo tín chỉ tại

các trường đại học Hoa Kì hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp trường State University

of New York at Stony Brook; University of Massachusetts; University of California, Berkeley) với mong muốn có cái nhìn khái quát hơn, toàn diện hơn về mô hình đào tạo

tín chỉ bậc Đại học ở Hoa Kì Từ đó so sánh, nhận định và đưa ra một số góp ý để nâng cao hiệu quả đào tạo theo mô hình tín chỉ bậc Đại học ở Việt Nam

2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những phát hiện được rút ra từ nghiên cứu này góp phần đem lại thông tin về:

mô hình đào tạo tín chỉ tại các các trường Đại học Hoa Kỳ hiện nay, các nhân tố tác động đến mô hình ấy Từ đó chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng của nó đến chất lượng giáo dục Đại học của Hoa Kỳ, đến giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới trong đó có Việt Nam, nhằm cũng chỉ ra mặt được và mặt chưa được trong việc áp dụng mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học ở nước ta

Thêm vào đó, nghiên cứu này còn có ý nghĩa đối với bản thân chúng tôi -

những người nghiên cứu Nó tạo cơ hội cho chúng tôi rèn luyện kĩ năng vận dụng những kiến thức được học trong nhà trường cả về lí luận lẫn phương pháp vào thực tiễn để tìm ra hướng giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể, góp phần trau dồi, nâng cao

Trang 6

6

năng lực bản thân và tích lũy kinh nghiệm cho việc làm nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp sau này

3 Đối tượng, khách thể, mẫu phạm nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì hiện nay (Nghiên cứu

trường hợp trường State University of New York at Stony Brook; University of

Massachusetts; University of California, Berkeley)

3.2 Khách thể nghiên cứu

Du học sinh Việt Nam ở một số trường đại học Hoa Kì

Nghiên cứu sinh của Việt Nam đang học tập, làm việc tại các trường Đại học của Hoa Kì

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu

sau:

 Mô tả sơ lược lịch sử hình thành, phát triển và thực trạng đào tạo của mô hình tín chỉ bậc Đại học Hoa Kì

Trang 7

7

 Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới mô hình đào tạo tín chỉ tại các Trường Đại học Hoa Kì

 Tìm hiểu kết quả mà mô hình đào tạo tín chỉ của các trường đại học Hoa Kì đem lại

và tác động của kết quả đó tới nền giáo dục cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của Hoa Kì

 Phân tích những ảnh hưởng của mô hình đào tạo tín chỉ của các trường đại học Hoa

Kì tới nền giáo dục đại học của các nước khác trong đó có Việt Nam

5.Câu hỏi nghiên cứu

 Mô hình đào tạo theo tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kỳ ra đời, phát triển ra sao? Và hiện nay diễn ra như thế nào?

 Các nhân tố nào tác động đến mô hình đào tạo tín chỉ ở Đại học Hoa Kỳ?

 Mô hình đào tạo tín chỉ có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng giáo dục của Hoa Kỳ?

 Mô hình đào tạo Đại học theo tín chỉ của Hoa kỳ có ảnh hưởng ra sao đến nền

giáo dục của các quốc gia khác trên thế giới?

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Chúng tôi tiến hành thu thập thông tin thông qua các tài liệu thứ cấp Đó là các nghiên cứu về mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kỳ, cụ thể là các công trình nghiên cứu của các Giáo sư, Tiến sĩ trong và ngoài nước về vấn đề, các bài báo trên các tạp chí chuyên nghành Giáo dục học, Xã hội học; Các quyết định do Chính phủ Việt Nam ban hành có liên quan

Ngoài ra nghiên cứu còn thu thập các thông tin từ tài liệu thứ cấp: các bài báo trên các trang mạng: vietnamnet.con; 24h.com; Wikipedia.com; ceea.ier.edu.vn/

vietnamexpress.com; http://www.eecs.berkeley.edu/; http://www.stonybrook.edu/; http://www.umb.edu/

Trang 8

8

6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn với 6 trường hợp, trong đó có 5 sinh viên, và 1 nghiên cứu sinh Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ Do khoảng cách địạ lý không thể gặp mặt trực tiếp nên chúng tôi tiến hành phỏng vân sâu qua Yahoo- 1 công cụ tiện ích của Interner (có webcam để theo dõi hình ảnh các đối tượng được phỏng vấn Thời lượng tiến hành phỏng vấn từ 30 đến 40 phút)

Cơ cấu phỏng vấn sâu:

Cơ cấu theo giới tính 5 nam 1 nữ

Cơ cấu theo bậc học Đại học: 5 người Sau đại học (nghiên cứu sinh):

1người

7 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết là: “Khẳng định một sự kiện mà việc kiểm chứng nó vẫn còn để ngỏ” [16, tr 161]

Ở đề tài này chúng tôi đưa ra 4 giả thuyết

 Mô hình đào tạo tín chỉ Đại học Hoa Kỳ ra đời sớm và có sự phát triển mạnh

mẽ đến ngày nay

 Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mô hình đào tạo tín chỉ bậc Đại học Hoa Kỳ

 Mô hình đào tạo theo tín chỉ đã mang lại chất lượng cao cho giáo dục bậc Đại

học Hoa Kì

 Mô hình này đã ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục của nhiều quốc gia khác

trên Thế giới đặc biệt là Việt Nam

8 Khung lí thuyết

Trang 9

9

Điều kiện Kinh tế- Xã hội Hoa Kì

Mô hình đào tạo tín chỉ bậc Đại học ở Hoa Kì

Chất lượng giáo dục bậc Đại học của Hoa Kì

Giáo dục bậc Đại học của các nước khác trên thế giới

Trang 10

10

NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: Những cơ sở để tiến hành nghiên cứu mô hình đào tạo theo tín

chỉ bậc Đại học Hoa Kì hiện nay

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở triết học

Quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng của Các Mác được sử dụng như kim chỉ nan, xuyêt suốt toàn bộ nội dung của đề tài để làm cơ sở cho việc xem xét và giải thích các sự kiện xã hội trong các mối quan hệ biện chứng và trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội

Xét ở phạm vi đề tài này chúng tôi áp dụng một trong những quy luật rất quan trọng của chủ nghĩa Duy vật biện chứng này đó là “Quy luật phủ định của phủ định”:

“Là quy luật về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của mọi vận động, phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Đó là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ “phủ định của phủ định” [1, tr 99] Mô hình đào tạo theo tín chỉ bậc Đại học

Hoa Kì có nền tảng, nền móng đặt cơ sở cho sự phát triển hiện tại và trong tương lai Trong quá trình đó những “cái cũ” sẽ bị phủ định và được thay thế bằng “cái mới” và

“cái mới” đó sẽ tiếp tục được phủ định trong tương lai để tạo nên một mô hình đào tạo năng động nhất, chất lượng nhất và hiệu quả nhất

Ngoài ra còn có các quan điểm, quy luật khác của Chủ nghĩa Duy Vật biện chứng được áp dụng trong giải thích các kết quả nghiên cứu

Trang 11

11

1.1.2 Cơ sở Xã hội học

1.1.2.1 Thuyết lựa chọn duy lí

Cơ sở Xã hội học của đề tài là Lý thuyết “Thuyết lựa chọn duy lí” có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỉ 18-19 khi mà một số nhà triết học đã từng cho rằng bản chất của con người là vị kỉ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tráng nỗi khổ đau; còn các nhà kinh tế học thì nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, động cơ lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Thuyết lựa chọn duy lí được phát triển mạnh mẽ qua thời gian với các quan điểm của nhiều tác giả như Marx, Homans, Jone Elster, Marschal…

Thuyết lựa chọn duy lí được phát triển mạnh trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết“cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích Có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu” (Theo Lê Ngọc Hùng, Lịch sử lí thuyết xã hội học hiện đại) Áp dụng

vào trong đề tài nghiên cứu ta thấy rằng: Hoa Kì luôn tư duy, nghiên cứu các cách thức, các phương thức quản lí, học tập để sử dụng tối đa nguồn lực nhân tài, tạo sự phát triển về bề sâu cho chất lượng giáo dục Điều đó thể hiện rõ ở việc họ đã sáng tạo

ra mô hình đào tạo theo tín chỉ bậc Đại học và mô hình này đã mang lại kết quả tối đa với chi phí tối thiểu cho nền giáo dục Đại Học Hoa Kì

Một trong những nhà Xã hội học đi theo trường phái của Thuyết lựa chọn duy lý là Homans, ông đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lí gồm các định đề cơ bản về hành vi người:

Trang 12

12

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu chúng tôi đã áp dụng được các định đề này vào trong giải thích hành động dạy- học, quản lý theo mô hình đào tạo tín tại các trường Đại học của Hoa Kì,

1.1.2.2 Mô hình lý tưởng – ideal type của Mark Weber

Mô hình lý tưởng hay còn gọi là loại hình lý tưởng là công cụ khái niệm không chỉ để mô tả mà còn để phân tích và nhấn mạnh những thuộc tính, những đặc trưng chung cơ bản quan trọng nhất của hiện tượng hay sự kiện lịch sử xã hội Mô hình đào tạo theo tín chỉ bậc Đại học của Mỹ ban đầu cũng là một mô hình lý tưởng, chỉ là những ý tưởng, khái niệm trừu tượng của quỹ Canergie, nhưng sau đó nó được mở rộng, áp dụng, triển khai và phát triển bởi các trường Đại học và dần dần nó trở thành

mô hình tối ưu nhất trong đào tạo bậc Đại học hiện nay Mô hình này còn được mở rộng, ảnh hưởng đến các quốc gia khác trên thế giới Và họ xem mô hình đào tạo theo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ là mô hình mẫu, mô hình lý tưởng để họ học hỏi và phát triển, nâng cao phương thức đào tạo của nước mình trong đó có Việt Nam

1.1.3 Khái niệm công cụ

 Tín chỉ

Có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm

1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường

để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị

Trang 13

13

bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần”

Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ và thực tế đào tạo của đơn vị, tín chỉ theo cách hiểu của ĐHQGHN được cụ thể hóa như

sau: “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học

mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên1); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn” Và đây cũng chính là khái niệm mà chúng tôi vận dụng

trong việc nghiên cứu

(http://dt.ussh.edu.vn/index.php?Itemid=91&id=194:phuongthucdaotaotheotinchi&opt

ion=com_content&view=article)

 Đào tạo theo học chế tín chỉ

Hay còn gọi là “Mô hình đào tạo tín chỉ”: “Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo

sự tích lũy kiến thức của sinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên không đăng ký sẽ không có lịch học Để làm được việc đó sinh viên phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niên giám, sổ tay sinh viên, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên nghiệp… để có thể có được đăng ký lịch học cho từng học kỳ cho phù hợp (phù hợp ở đây là phù hợp với quy định của nhà trường và phù hợp với sức học của sinh viên) Sinh viên đã phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự Ưu điểm của cách tổ chức này là sinh viên có quyền lựa chọn, sinh viên không những được lựa chọn các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển

Trang 14

14

ngành nghề sau này Trong thời gian học chính khóa có thể học thêm ngoại ngữ, tin học (học bằng 2) Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với sinh viên tự học là vấn đề quan trọng nhất, sinh viên phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả sinh viên phải tự đọc tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc

cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn

đề liên quan đều phải được đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay Hình thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (lấy người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học làm cốt”

(http://dt.ussh.edu.vn/index.php?Itemid=91&id=194:phuongthucdaotaotheotinchi&option=com_content&view=article)

Qua định nghĩa trên cùng với việc tìm hiểu các nghiên cứu chúng tôi xem xét mô hình tín chỉ bậc đại học Hoa Kì hiện nay dựa trên các yếu tố: hệ thống tín chỉ; phương pháp dạy- học; Phương thức tính điểm; Kết quả và phần thưởng

 Sinh viên

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học Nguồn gốc của từ sinh viên được hiểu theo nghĩa tiếng Pháp étudiant: người nghiên cứu Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, cũng đồng nghĩa như vậy Danh từ étudiant của tiếng Pháp phát sinh từ danh từ mẹ là étude (sự nghiên cứu), ngữ nguyên ở tiếng La Tinh là studium nghĩa là: sự vận dụng trí não

để học hỏi hiểu biết và đào sâu một vấn đề

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Sinh_vi%C3%AAn)

 Đại học (University)

Là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa học trong nhiều các lĩnh vực ngành nghề Các

Trang 15

15

trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học

(http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu trên thế giới về mô hình đào tạo tín chỉ của các trường Đại học

của Hoa Kì là rất đa dạng và phong phú Có thể kể đến công trình nghiên cứu về “Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì: Lịch sử phát triển, đinh nghĩa và cơ chế hoạt động” của PGS.TS Cary J Treseler- Trường đại học California (UC)- Davis- Hoa

Kì Trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ rõ lịch sử phát triển của mô hình đào tạo tín chỉ Đại học của Hoa Kì cũng như cơ chế hoạt động của nó Ngoài ra tác giả còn chỉ rõ các lợi ích mà mô hình này đem lại cho nền giáo dục bậc Đại học của Hoa Kì Đó là tính chất linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trường và việc làm của sinh viên cũng như cho phép thực hiện những cải tiến trong việc đào tạo, cả hai điều này đều là dấu hiệu ưu tú của hệ thống giáo dục Hoa Kì Và cũng chính nhờ vào mô hình đào tạo tín chỉ mà hệ thống giáo dục của Hoa Kì liên tục cao hơn các quốc gia khác Không một hệ thống nào cho phép khả năng linh hoạt và chuyển đổi lại có thể hoàn hảo, tập trung vào tiêu điểm chính của hệ thống tín chỉ: tạo ra một nền giáo dục đẳng cấp quốc

tế, đào tạo một lực lượng lao động dựa trên những điểm mạnh, mối quan tâm và

nguyện vọng của sinh viên

Bên cạnh nghiên cứu chi tiết của PGS TS Cary J Treseler- Trường đại học California (UC)- Davis- Hoa Kì còn có các bài báo, các công trình nghiên cứu khác có

mổ xẻ vấn đề hệ thống tín chỉ tại bậc Đại học của Hoa Kì như: C.W Brrow

Universities and the Capitalist Sate: Corporate Liberalism and the Reconstruction of American Higher Education, 1894-1928: Madison: University of Wisconsin

press.1990 đã cho rằng: Chủ nghĩa tự do đoàn thể trong nền giáo dục Hoa Kỳ thực sự quan trọng, cần thiết Và việc tái thiết Giáo dục Mỹ cần được xúc tiến cao hơn nữa Giáo sư G.dietrich đã nêu ra vai trò thiết thực, cần thiết của hệ thống tín chỉ trong giáo

dục Hoa Kỳ tại cuốn “”The emergence of the credit system in American education considered as a problem of social and intellectual history”(Sự xuất hiện của hệ thống

Trang 16

16

tín chỉ trong giáo dục Mỹ được coi là một vấn đề của lịch sử xã hội và trí tuệ)

American Association of University Professors Bulletin, 1955

1.2.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến và mới được áp dụng trong đào tạo đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây Chính sự mới mẻ của nó mà ở mỗi trường đại học khi áp dụng đều phải gặp những bất cập nhất định Nhằm hướng đến mục tiêu hoàn thiện nền giáo dục nước nhà, Bộ giáo dục và các trường đại học, cao đẳng, các cá nhân quan tâm đến lĩnh vực này trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm, ưu tiên cho mô hình đào tạo tín chỉ bậc

Đại học thể hiện ở các quy chế tiêu biểu: Quy chế 31/2001 QĐ BGD&ĐT “Về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp Đại học, cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ” đã quyết định bốn điều: Điều 1“Điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ”; Điều 2: “Việc áp dụng các qui định của Qui chế 04 đối với hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ”; Điều 3: “Tổ chức học theo học chế tín chỉ và đăng ký học của sinh viên” ; Điều 4: “Điều khoản thi hành” Như vậy tính từ năm 2001, Bộ

GD&ĐT đã quyết định tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy cho sinh viên theo học chế tín chỉ Và Bộ cũng đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, đến năm 2010 hoàn thiện chương trình đào tạo

mới này để thay thế cho phương thức đào tạo theo niên chế hiện nay Tiếp đó là Quy chế 43/2007/QĐ-BDG&ĐT đã đưa ra quyết định gồm ba điều và quy chế gồm năm chương, 29 điều về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” nhằm góp phần hoàn thiện mô hình đào tạo theo tín chỉ bậc Đại

học Việt Nam

Trong những năm vừa qua, có rất nhiều những hội thảo bàn về về phương thức đào

tạo theo mô hình tín chỉ được tổ chức ở các trường Đại học Đặc biệt vào 2006 “Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ” mang tầm cỡ quốc gia được tổ

chức tại Đà Nẵng Trong hội thảo này PGS.TS Nguyễn Văn Nhã – Trưởng ban đào

Trang 17

17

tạo Đại học quốc gia Hà Nội đã có bài viết: “Các giải pháp triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” đã đưa ra các giải pháp để nâng cao

chất lượng đào tạo trong học chế tín chỉ Còn TS Lê Văn Hảo – Trường Đại học Nha

Trang với bài viết “Tổ chức đào tạo đại theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaixia và so sánh với Việt Nam” đã phân tích một vài nét về nền giáo dục tại Malaixia như việc

phân loại môn học, thời gian học, thời gian cho các học kì, thời lượng tín chỉ… và so sánh với hoạt động đào tạo tại Việt Nam ở một số điểm: thời gian cho các học kì, thời lượng từng tín chỉ, khối lượng làm việc của sinh viên…

Không chỉ phân tích kinh nghiệm của Malaixia, kinh nghiệm trong đào tạo học chế tín chỉ của Hoa Kỳ được nhiều nhà giáo dục quan tâm, cũng trong hội thảo này TS Eli

Mazul & TS Phạm Thị Ly đã đưa bài viết: “Hệ thống đào tạo theo tín chỉ của Mĩ và những cải cách cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”, bài viết đã chỉ rõ những đặc

điểm trong hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ từ trong lịch sử đến thời kì hiện đại và đưa

ra những bài học trong việc ứng dụng trước đó của Trung Quốc và đưa ra cách thức ứng dụng ở Việt Nam

Không chỉ quan tâm đến những hoạt động trong lĩnh vực đào tạo chính quy, hội thảo cũng có những bài viết quan tâm đến lĩnh vực đào tạo văn bằng 2, không chính quy như ThS Phan Thị My với bài viết “Tiếp cận hệ thống tín chỉ trong đào tạo không chính quy”, đã phân tích lộ trình áp dụng hệ thống tín chỉ cho đào tạo không chính quy

Ngoài hội thảo trên còn rất nhiều các hội thảo khác như hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy theo học chế tín chỉ” của Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Thành phố

Hồ Chí Minh diễn ra vào năm 2008 với rất nhiều bài viết nhằm mục đích: nhận diện thực trạng giảng dạy, học tập ở trường sau năm năm tiến hành đào tạo theo học chế tín chỉ, tạo ra diễn đàn học tập, trao đổi, thảo luận những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ

Không chỉ có hội thảo, các bài nghiên cứu về mô hình đào tạo tín chỉ cũng xuất hiện khá nhiều trên các tạp chí với nhiều nội dung khác nhau.Tuy nhiên, các bài nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở một số những nhóm sau:

Trang 18

18

Nhóm thứ nhất là những bài nghiên cứu tập trung tìm hiểu về bản chất của tín chỉ cũng như sự ứng dụng nó ở Việt Nam Trong tạp chí khoa học số 3 năm 2010 PGS.TS Hoàng Văn Vân đã có bài viết: “Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp giảng dạy ở bậc đại học” Tác giả đã phân tích lịch sử

của giờ tín chỉ, bản chất của tín chỉ cũng như cách áp dụng vào Đại học Quốc gia, những lợi thế của phương thức đào tạo tín chỉ, một số hàm ý cho phương thức dạy và học ở bậc đại học

Trên trang web của Đại học quốc gia, GS.TS Lê Thạc Cán đã phân tích về “Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và học chế tín chỉ” Giáo sư đã

chỉ ra những thí nghiệm ứng dụng hình thức tổ chức theo chương trình định sẵn và theo học chế tín chỉ ở các quốc gia như Hoa Kì, Anh, Nga và Việt Nam để từ đó rút ra

sự khác biệt của hai chương trình này và ưu điểm cũng như những cách thức để áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ ở Việt Nam

Cũng phân tích về bản chất của học chế tín chỉ và việc áp dụng nó tại Việt Nam,

GS Lâm Quang Thiệp đã phân tích về “Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam” trong tạp chí khoa học số 3 năm 2007, trong bài viết này, giáo sư đã chỉ rõ sự ra

đời và lan toả của học chế tín chỉ, đặc điểm của học chế tín chỉ, các ưu điểm và nhược điểm của học chế tín chỉ cũng như cách khắc phục và việc áp dụng học chế tín chỉ ở nước ta trong tương quan so sánh với Hoa Kì và những giải pháp

Không những chỉ ra bản chất của học chế tín chỉ, PGS.TS Phan Quang Thế đã phân tích những điểm dễ và khó khi học theo hệ thống đào tạo tín chỉ trong bài viết

“Học theo tín chỉ, dễ và khó ở đâu” đăng trên web của Đại học Thái Nguyên

Sau khi áp dụng hình thức đào tạo này tai trường Đại học Hà Tĩnh, Th.S Nguyễn

Thị Hương Giang cũng có bài viết: “Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ”

đăng trên tạp chí giáo dục số 4, năm 2009 Tác giả đã phân tích lích sử của phương thức đào tạo tín chỉ, một số khái niệm cần lưu ý khi tiếp cận phương thức này cũng như nhấn mạnh đến nhữn lợi thế của phương thức đào tạo tín chỉ và những khó khăn của trường Đại học Hà Tĩnh khi chuyển sang phương thức đào tạo này

Trang 19

số môn học và hoạt động giáo dụng theo học chế tín chỉ” trên tạp chí giáo dục số 3

năm 2007, trong bài viết này tác giả đã phân tích về bản chất của phương pháp dạy học nhóm và những yêu cầu cần thiết để áp dụng phương pháp này trong học chế tín chỉ

TS Tôn Quang Cường đã phân tích về “Các hình thức tổ chức dạy học trong mối quan hệ với phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá trong đào tạo tín chỉ” trên trang web của Đaị học Hà Nội, để nhấn mạnh về mối quan hệ giữa các hình

thức tổ chức giảng dạy trong đào tạo tín chỉ với phương pháp kiểm tra đánh giá

Ngoài ra còn có hàng loạt các bài viết đăng trên các tạp chí về giáo dục, khoa học

xã hội nhấn mạnh đến kinh nghiệm của các quốc gia có nền giáo dục phát triển như: Hoa Kì, Trung Quốc… về phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Có thể kể đến một số bài viết của các tác giả như: GS Vũ Quốc Phóng – Trường Đại học Ohie của

Mĩ cũng đã phân tích về “Hệ tín chỉ: Từ đại học Mĩ đến đạihọc Việt Nam”, bài của TS Elis Mazuz và TS Phạm Thị Ly về: “Mục tiêu sư phạm của hệ thống đào tạo theo tín chỉ Mĩ và những gợi ý cho cải cách giáo dụcViệt Nam”

Nhóm thứ ba là các nghiên cứu về mô hình đào tạo tín chỉ Đạo học tại Hoa Kì cùng những bài học kinh nghiệm trong đào tạo rút ra từ mô hình đó Trong Tạp chí Giáo dục số 238 năm 2010 TS Phan Thanh Long đã công bố nghiên cứu “Bài học kinh nghiệm trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học của Hoa Kỳ” Bài viết đã chỉ

ra rằng đánh giá chất lượng là một quá trình quyết định giá trị của một hoạt động, một chương trình, một người hay một sản phẩm và quá trình này được tiến hành với mục đích là cung cấp thông tin về sự biến đổi và tiến bộ của sinh viên, tạo nên trách nhiệm giải trình đối với các cơ quan bên ngoài, đánh giá chương trình, phân tích tính hiệu quả trong chi tiêu và đặt ra các mục tiêu giáo dục

Trang 20

20

Trong tạp chí giáo dục số 268, tác giả Phạm Thị Thanh Hải đã có bài viết: “Một

số nội dung của công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa

Kì và kinh nghiệm đối với Việt Nam” Trong bài viết này, tác giả đã nêu rõ: cố vấn học

tập được xem là một mắt xích quan trọng trong sợi dây chuyền đào tạo theo học chế tín chỉ Cố vấn học tập cho sinh viên trong trường đại học có thể là giảng viên hoặc cán bộ chuyên môn Cố vấn học tập giúp đỡ sinh viên khi đăng kí học, học ngành hai, học tích luỹ lại các học phần bị điểm kém hoặc để cải thiện điểm trung bình chung tích luỹ Yêu cầu đối với cố vấn học tập đó là nắm vững về chương trình đào tạo và những yêu cầu cần phải đạt để có thể đạt được văn bằng Cố vấn học tập phải am hiểu chính sách, quy định của nhà nước, nhà trường để có thể hướng dẫn sinh viên thực hiện đúng quy chế, quy định liên quan, là chỗ dựa tinh thần của sinh viên trong học tập tại trường

Có thể nói rằng, những bài viết trên đây đã nêu rất rõ bản chất của phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ cũng như việc áp dụng học chế tín chỉ và sức lan toả của nó tại các trường Đại học ở Việt Nam đồng thời phân tích những kinh nghiệm của các quốc gia hay phương pháp giảng dạy và học tập Tuy nhiên, hệ thống tín chỉ được ra đời và phát triển sớm nhất, mạnh mẽ nhất ở Mĩ, nhưng những bài viết trên chỉ đi sâu vào những mô hình tín chỉ thực tế ở Việt nam, những thuận lợi, khó khăn mà việc áp dụng mô hình tín chỉ gặp phải, chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích mô hình tín chỉ đầu tiên – mô hình tín chỉ của Hoa Kì để hiểu sâu sắc được bản chất cũng như cơ chế vận hành của nó để từ đó đưa ra hướng đi phù hợp cho việc dạy và học theo hệ thống tín chỉ ở Việt Nam

1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.2.2.1 Địa bàn Hoa Kì

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (United

States of America); Tên thường gọi: Mỹ

Ngày quốc khánh: 4/7/1776 (Ngày Độc

lập khỏi Anh) Thủ đô: Washington D.C

Vị trí địa lý: nước Mỹ gồm 3 bộ phận

lãnh thổ Bộ phận lớn nhất gồm 48 bang, nằm giữa lục địa Bắc Mỹ: Bắc giáp Canada,

Trang 21

21

Nam giáp Mexico và Vịnh Mexico, Tây giáp Thái Bình Dương và Đông giáp Đại Tây Dương Bộ phận thứ hai là bang Alaska nằm ở Tây Bắc lục địa Bắc Mỹ: Đông giáp Canada, Bắc giáp biển Beaufort và Nam giáp biển Bering Bộ phận thứ ba là quần đảo Hawaii (bang Hawaii) nằm giữa Thái Bình Dương cách thành phố San Francisco khoảng 3.900km Diện tích: 9.826.675km2; đứng thứ 4 trên thế giới sau Nga, Canada

và Trung Quốc Dân số: 310.681.000 (con số ước lượng đến 2010) Dân tộc: Người da trắng (81,7%), người da đen (12,9%), người châu Á (4,2%), người da đỏ và thổ dân Alaska (1%), thổ dân Hawaii và thổ dân các quần đảo Thái Bình Dương (0,2%) Hành chính: Mỹ gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang 48 tiểu bang nằm lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và Mexico ở phía nam Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribbe và Thái Bình Dương Đơn vị tiền tệ: Đồng đôla Mỹ (USD)

Tôn giáo: Mỹ có nhiều tôn giáo Đạo Tin lành (52%), Đạo Thiên Chúa (24%), Đạo

Do Thái (1%), Hồi giáo (1%) Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh; một bộ phận nói tiếng Tây Ban Nha, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác (theo xuất xứ nguồn gốc)

Giáo dục Hoa Kỳ chủ yếu là nền giáo dục công do chính quyền liên bang, tiểu bang, và địa phương ở Hoa Kỳ điều hành và cung cấp tài chính Việc giáo dục trẻ em ở

độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc Một phần của giáo dục bắt buộc được thực hiện thông qua nền giáo dục công Giáo dục công có tính chất phổ cập ở cấp tiểu học và trung học Độ tuổi bắt buộc đi học thay đổi tùy theo tiểu bang, độ tuổi bắt đầu ở khoảng từ 5 đến 8 tuổi và độ tuổi có thể nghỉ học ở khoảng từ 14 đến 18 Các cấp học chính là nhà trẻ và trường mẫu giáo, trung học, Đại học và sau Đại học Có 98% dân số Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ,trong khi mức độ am hiểu về toán và khoa học bị xếp dưới mức trung bình so với các quốc gia phát triển khác Trong một nghiên cứu thực hiện vào những năm 2000, Jon Miller của Viện Đại học

Michigan State cho rằng "Hoa Kỳ có tỉ lệ dân số trưởng thành có hiểu biết căn bản về

Trang 22

22

khoa học cao hơn một chút so với tỉ lệ ở Nhật Bản hay các nước châu Âu"

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_K%E1%BB%B3)

1.2.2.2 Các trường Đại học của Hoa Kì

“State University of New York at Stony Brook(Đại học Stony Brook- SBU)

của Manhattan

York (SUNY), được coi là một tổ chức hàng đầu của hệ thống, và luôn được xếp hạng

là trường đại học công lập hàng đầu ở New York nhiều ấn phẩm Trường đại học là một trong 61 trường đại học nghiên cứu bao gồm các Hiệp hội các trường Đại học Mỹ (AAU), một tổ chức chỉ mời của các trường Đại học nghiên cứu hàng đầu ở Bắc Mỹ

Nó cũng đồng quản lý phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven theo hợp đồng thuộc thẩm quyền của Bộ Năng lượng Mỹ Trường Đại học được thành lập vào năm 1957

Hơn 24.500 sinh viên đang theo học tại cơ sở chính của năm 2010” (Tài liệu nhóm tự

dịch từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt trang web

http://en.wikipedia.org/wiki/Stony_Brook_University)

“Stony Brook của tầm với mở rộng khuôn viên 1039-acre của nó trên Bắc Long Island Shore-bao gồm các lĩnh vực học tập chính, một sân vận động 8300-chỗ ngồi và thể thao phức tạp và Stony Brook Y học Stony Brook Manhattan, một viên nghiên cứu

và phát triển, 4 vườn ươm kinh doanh bao gồm cả một tại calverton, New York, và trong khuôn viên trường Stony Brook Southampton East End của Long Island Stony Brook cũng đồng quản lý Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven, gia nhập Princeton, Đại học Chicago, Stanford, và Đại học California vào danh sách các tổ chức quan trọng liên quan đến một sự hợp tác nghiên cứu với một phòng thí nghiệm quốc gia

Và Stony Brook vẫn đang phát triển Đối với các sinh viên, các học giả, các chuyên gia y tế, các doanh nhân và tất cả các thành viên có giá trị tạo nên cộng đồng sôi động Stony Brook, đây là một trường đại học không chỉ của địa phương và quốc gia tuyệt

Trang 23

23

vời, nhưng một trong đó là việc tạo ra một tác động trên quy mô toàn cầu” (Tài liệu nhóm tự dịch từ trang web chính thức của trường:

http://www.stonybrook.edu/sb/aboutsb.shtml)

“University of Massachusetts Boston được công nhận trên toàn quốc như là một

mô hình xuất sắc cho các trường đại học công cộng đô thị Trong khuôn viên bờ sông danh lam thắng cảnh nằm bên cạnh John F

Kennedy Library, dễ dàng truy cập đến trung tâm thành phố Boston Khuôn viên lớn thứ hai trong hệ thống UMass, UMass Boston kết hợp một kinh nghiệm nhỏ đại học với các nguồn tài nguyên rộng lớn của một trường đại học nghiên cứu lớn Với tỷ lệ sinh viên-giảng viên 16:01, sinh viên dễ dàng tương tác với các giáo sư bởi vì hầu hết việc giảng dạy xảy ra ở quy mô lớp học nhỏ 93% giảng viên toàn thời gian giữ mức độ cao nhất trong các lĩnh vực của họ Học tập xuất sắc của UMass Boston được phản ánh qua số lượng sinh viên ngày càng tăng của gần 16.000 sinh viên đại học và sau đại học 9 của trường đại học các trường cao đẳng và các trường học cung cấp hơn 100 chương trình đại học và 50 chương trình sau đại học Chương trình Đại học phục vụ 300 học sinh phát triển mạnh thử thách trí tuệ Có

sự phong phú các khóa học thăm dò sâu hơn vào lý thuyết hoặc liên sâu hơn vào ứng dụng Vị trí của UMass Boston cung cấp một bối cảnh toàn cầu cho việc học tập của học sinh, và vị trí của nó trong một chính Mỹ thành phố cung cấp kết nối cho người sử dụng lao động trong các ngành công nghiệp như chăm sóc tài chính y tế,, công nghệ, dịch vụ, và giáo dục, cung cấp cho học sinh cơ hội để đạt được có giá trị trong trường học kinh nghiệm thông qua thực tập, clinicals, và các vị trí khác có liên quan đến nghề nghiệp Hơn 100 sinh viên tổ chức - bao gồm các câu lạc bộ, tạp chí văn học, báo, đài phát thanh , trưng bày nghệ thuật , và 16 NCAA Division III các đội thể thao - cung cấp một cuộc sống đại học phong phú Học sinh sống trên khắp Greater Boston và trong cộng đồng căn hộ chỉ cần bước từ trường, và tận hưởng các tiện nghi phong phú, văn hóa hấp dẫn, và các cơ hội giáo dục làm cho thành phố thị trấn đại học lớn nhất và tốt nhất trong cả nước” (tài liệu nhóm tự dịch từ trang web chính thức của trường: http://www.umb.edu/the_university/)

Trang 24

24

University of California, Berkeley: “Là

một viện đại học công lập nằm trong khu vực vịnh San Francisco, tại thành phố Berkeley, California Đây là viện đại học đầu tiên và nổi tiếng nhất của hệ thống Viện Đại học California (University of California), do đó được gọi tên truyền

thống là Cal (tên này được dùng nhiều trong các giải thể thao) Được thành lập năm

1868 do sáp nhập trường tư thục Trường Đại học California (College of California)

và trường công lập Trường Đại học Cơ khí, Mỏ, và Nông nghiệp (Agricultural,

Mining, and Mechanical Arts College), UC Berkeley đã có những đóng góp quan trọng về khoa học tự nhiên (với 66 giáo sư và cựu sinh viên đoạt các giải Nobel) và

các hoạt động xã hội (phong trào chống Chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1960)

Đại học Berkeley có hệ thống giáo dục bậc cử nhân rất đa dạng và được xem là trung tâm nghiên cứu của rất nhiều nghành học Viện đại học đạt nhiều thành tích về vật lý, hóa học và các ngành sinh học trong thế kỷ 20, như sáng chế ra máy cyclotron, cách

ly thành công vi khuẩn bại liệt ở người, phát triển khái niệm tia laser, giải thích

nguyên lý của quang hợp, thiết kế thí nghiệm chứng minh định lý Bell, tạo ra hệ điều hành BSD Unix, và phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học, trong đó có Plutonium,

Berkelium và Californium Viện đại học cũng đạt được nhiều giải thưởng về Toán, giải Nobel Kinh tế và giải Nobel Văn học Các nhà vật lý của Berkeley nằm trong nhóm khoa học gia phát triển Dự án Manhatttan chế tạo bom nguyên tử trong Thế chiến thứ

nhất và bom hiđrô không lâu sau đó Berkeley tham gia các cuộc thể thao giữa sinh

viên các trường với tên California Golden Bears (Những con gấu vàng của

California), đạt nhiều danh hiệu quốc gia trong các môn như bóng bầu dục Mỹ, bóng

rổ nam, bóng chày, bóng nước, v.v cũng như đã giành được hơn 100 huy chương Olympic Màu áo chính thức của trường và đội thể thao là màu xanh dương và màu vàng”

(http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_h%E1%BB%8Dc_California_t

%E1%BA%A1i_Berkeley)

Trang 25

25

Chương 2 Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì

2.1 Mô hình đào tạo tín chỉ Hoa Kỳ ra đời sớm và có sự phát triển mạnh

mẽ đến ngày nay

Qua bài viết của PGS.TS Cary J.Tresler, Trường Đại học California- Davis-

Hoa Kì “Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì: Lịch sử phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động” chúng ta khẳng định rằng mô hình đào tạo tín chỉ Hoa Kỳ

ra đời sớm và có sự phát triển mạnh mẽ đến ngày nay

Hoa kỳ là cái nôi đầu tiên tư duy và thực hiện mô hình đào tạo theo tín chỉ Vào cuối thế kỉ 19, hệ thống tín chỉ đã được áp dụng sâu rộng vào các trường Đại học của

Mỹ để khắc phục những vấn đề của giáo dục trung học Những nỗ lực này là do một tổ chức phi chính phủ rất có quyền lực và được tài trợ rất mạnh có tên là: Quỹ Carnergie- quỹ vì sự tiến bộ trong chất lượng giảng dạy Họ cho rằng phương pháp giảng dạy và phân bố thời gian đối với mọi môn học ở bậc phổ thông không phù hợp với đào tạo bậc Đại học, nó thiếu năng động và tạo nên sự trì trệ và cần được thay đổi bằng cách xác định độ dài thời gian cho từng môn học khác nhau dựa trên các đơn vị khác nhau Đơn vị này được gọi là đơn vị Carnergie do tổ chức Canergie lãnh đạo Để thúc đẩy các trường Đại học Hoa Kì nhân rộng mô hình “đơn vị” này Quỹ Canergie đã chi ra

10.000.000 USD cho các trường Đại học để thành lập các “quỹ học bổng cho các giáo sư”, những người không có lương hưu Đổi lại quỹ Canergie yêu cầu các trường phải

chấp nhận hệ thống “đơn vị” vào trong giảng dạy Hay nói cách khác quỹ Canergie đã dùng nguồn lực tài chính của mình như một cách để khuyến khích các trường chấp nhận cải cách theo lối mà Quỹ chủ trương Mô hình đào tạo tín chỉ được áp dụng sâu rộng và đã đem lại kết quả tuyệt vời, nó được xem là cơn gió làm thay đổi hệ thống đào tạo bậc Đại học ở Mỹ Sự thành công đó đã ảnh hưởng tới nhiều quốc gia khác trên thế giới Mô hình này nhanh chóng vượt ra khỏi biên giới nước Mỹ và được lan toả đến các nước khác trên thế giới : Anh , Pháp, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na uy,

Oxtraylia…

Hiện nay, người ta thường dùng từ “tín chỉ” hơn là “đơn vị” Hệ thống tín chỉ

trong các trường Đại học của Hoa Kì tiêu biểu là trường Stony Brook đòi hỏi phải

Trang 26

2.1.1 Hệ thống tín chỉ Đại học Hoa Kỳ hiện nay

Hệ thống tín chỉ bao gồm giờ tín chỉ, hệ thống môn học tự chọn, chương trình đào tạo chuyện nghành, đề cương môn học- nội dung học tập và một hợp đồng bất thành văn giữa Giáo viên và sinh viên

2.1.1.1 Giờ tín chỉ trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ

Tại trường Đại học Stony Brook tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc

cả trong và ngoài lớp học Một bài giảng tiêu biểu là 3 tín chỉ trong đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần, thường là 3 lần/1 tuần, mỗi lần 50 phút, cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1giờ trong lớp đòi hỏi 2-3 giờ chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học) Như vậy, tổng số khối lượng công việc của một tín chỉ là 3-4 giờ (kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài lớp học) Nhìn chung, một sinh viên đăng kí 15 tín chỉ cho một kì học

sẽ có 15 giờ lên lớp là khoảng 30-45 giờ làm việc ngoài lớp

“1 là lớp thường rất ngắn - chỉ từ 1-1,5

……

Trang 27

27

2 là tuy lớp ngắn nhưng nhiều - có lớp 3 buổi 1 tuần, có lớp 4 buổi”

(PVS P.Đ.H, sinh viên năm thứ nhất chuyên nghành Toán và Computer Science- Stony Brook University)

Thời gian cho một giờ tín chỉ ở Việt Nam cũng áp dụng giờ tín chỉ như Đại học

ở Hoa Kỳ khoảng 50 phút, tuy nhiên cách thức tổ chức giờ học lại khác nhau, ở Việt Nam các trường đại học sẽ tổ chức 1 lần lên lớp dạy và học cả 3 tiết trong 1 buổi thay

vì lên 3 lần vào 3 buổi để nhằm tiết kiệm thời gian, công sức đi lại cho giảng viên và học sinh Đây có thể xem là giải pháp phù hợp hoàn cảnh thực tế, do điều kiện giao thông tại Việt Nam chưa đáp ứng được việc di chuyển thuận lợi bất cứ lúc nào Còn số giờ làm việc ngoài lớp được quy định rõ ràng song hiệu quả chưa thực sự tốt, sinh viên vẫn còn có thái độ bàng quan, chưa có sự đầu tư cao độ

“Mình thấy giờ tự học ở Việt Nam mình là “giờ chơi”, nói thẳng thắn thì sinh viên đâu

có học gì đâu, giáo viên bảo về nhà tự học nhưng thực chất là sinh viên xem đó là một buổi nghỉ để đi chơi và cảm thấy thật là hạnh phúc Còn giáo viên thì bận những lý do này, lí do nọ rồi cũng chụp lại đó là giờ tự học cho sinh viên nghỉ, mình cũng được nghỉ Ôi, thật là… cả đôi bên cùng có lợi”

(PVS L.V T, sinh viên năm nhất University, Massachusetts )

2.1.1.2 Hệ thống môn học tự chọn trong mô hình đào tạo tín chỉ Bậc Đại học của Hoa Kỳ

Hệ thống môn học tự chọn (electives) được bắt đầu ở Đại học Harvard vào những năm 1880 nhằm kích thích sự tò mò, ham học của sinh viên Đó là cơ hội để sinh viên phân biệt bản thân mình với người khác, theo đuổi những mối quan tâm riêng của mình, xây dựng tương lai nghề nghiệp dựa trên thế mạnh và tài năng của

mình “Chẳng hạn sinh viên học nghành Khoa học thực phẩm có thể lựa chọn môn chế biến Thực phẩm hay cách làm rượu bia, hay khoa học về các giác quan liên quan đến thực phẩm bằng cách chọn một số tín chỉ chuyên nghành” [6, tr.62] Hầu hết các

Trang 28

(P.T.T nghiên cứu sinh năm thứ nhất, University of California, Berkeley Ngành

Materials Science and Engineering)

Trong khi đó các môn học tự chọn ở Việt Nam là rất hiếm, ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên còn được lựa chọn một vài môn học tự chọn ở bộ môn thể dục hoặc chuyên nghành, còn các trường Đại học khác gần như không có môn học tự chọn Các môn học được đưa ra trước và yêu cầu sinh viên phải tuân thủ Và khung biểu của các môn học được đưa ra dựa trên nền tảng có sẵn, hoặc học hỏi từ nước ngoài chứ chưa có sự đầu tư khảo sát, nghiên cứu thị trường xem cần giảng dạy những

gì cho phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội

“Đại học ở Việt Nam cũng mang tên gọi tín chỉ, nhưng chưa phát huy tinh thần tự do sáng tạo của cách học Nghĩa là, sinh viên ở VN chưa phải là người nắm thế chủ động trong việc thiết lập kế hoạch học, chương trình học cho bản thân cũng như lĩnh hội kiến thức Các môn học tự chọn chưa thực sự phong phú để sinh viên có thể theo đuổi

và tìm thấy được thế mạnh bản thân của mình ở đâu, xác đinh được mình là ai trong xã hội”

PVS T.V.B sinh viên năm thứ nhất Clark University, Massachusetts, Hoa Kỳ

2.1.1.3 Chương trình đào tạo chuyên nghành phong phú và chất lượng

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Tr 99- 100. NXB Chính trị Quốc Gia năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia năm 2010
2. GS Lâm Quang Thiệp. 2007“Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam”. Tạp chí khoa học số 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về học chế tín chỉ và việc áp dụng ở Việt Nam
3. GS.TS Lê Thạc Cán. “Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và học chế tín chỉ”. Trên trang web của Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định sẵn và học chế tín chỉ
4. Lê Ngọc Hùng. 2008. Lịch sử và lý thuyết Xã hội học. NXB Khoa học xã hội 5. PGS. TS Cary J.Tresler.2010.“ Hệ thống tín chỉ tại các trường Đại học Hoa Kì:Lịch sử phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động”. Tạp chí giáo dục số 229 ( kì 1- 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
6. PGS.TS Hoàng Văn Vân.2010.“Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp giảng dạy ở bậc đại học”. Tạp chí khoa học số 3 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức đào tạo theo tín chỉ: lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp giảng dạy ở bậc đại học
7. PGS.TS Nguyễn Văn Nhã.2006. “Các giải pháp triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nội”. “Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ” tại Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nộ"i”. “Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ
8. Phạm Thị Thanh Hải.2011.“Một số nội dung của công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa Kì và kinh nghiệm đối với Việt Nam”. tạp chí giáo dục số 268/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung của công tác cố vấn học tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Hoa Kì và kinh nghiệm đối với Việt Nam
9. Quy chế 31/2001 QĐ BGD&ĐT. “về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp Đại học, cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ” Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế 31/2001 QĐ BGD&ĐT. “"về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp Đại học, cao đẳng hệ chính qui theo học chế tín chỉ”
10. Th.S Nguyễn Thị Hương Giang. “Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ”. Tạp chí giáo dục số 4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về phương thức đào tạo theo tín chỉ
11. ThS Phan Thị My.2006.“Tiếp cận hệ thống tín chỉ trong đào tạo không chính quy. “Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ”. Hội thảo về phương thwucs đà tạo trong hệ thống tín chỉ tại Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hệ thống tín chỉ trong đào tạo không chính quy
Tác giả: ThS Phan Thị My
Nhà XB: Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ
Năm: 2006
12. TS Lê Văn Hảo – Trường Đại học Nha Trang đã viết “Tổ chức đào tạo đại theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaixia và so sánh với Việt Nam”. “Hội thảo về phương thức đào tạo trong hệ thống tín chỉ” tại Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức đào tạo đại theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Malaixia và so sánh với Việt Nam
Tác giả: TS Lê Văn Hảo
13. TS Ngô Thu Dung. “Phương pháp dạy học nhóm, một phương pháp tích hợp cần sử dụng trong giảng dạy và tổ chức một số môn học và hoạt động giáo dụng theo học chế tín chỉ”. Tạp chí giáo dục số 3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học nhóm, một phương pháp tích hợp cần sử dụng trong giảng dạy và tổ chức một số môn học và hoạt động giáo dụng theo học chế tín chỉ
Tác giả: TS Ngô Thu Dung
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2007
14. TS. Lê Văn Hảo. 2010. “Bảy nguyên tắc dạy tốt bậc Đại học của Hoa Kỳ”. Tạp chí Giáo dục số 248, kì 2- tháng 10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảy nguyên tắc dạy tốt bậc Đại học của Hoa Kỳ
15. TS.PhanThanh Long.“Bài học kinh nghiêm trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học của Hoa kì”. Tạp chí giáo dục số 238/ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học kinh nghiêm trong đánh giá chất lượng giáo dục đại học của Hoa kì
16. Từ điển “Xã hội học”. Tr 161.dịch nguyên bản từ tiếng Đức của Gunter Enruweit và Gisela Trommsdorff – người dịch Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hoài Bảo, NXB Thế giớiVà một số trang web như Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển “Xã hội học”
Tác giả: Gunter Enruweit, Gisela Trommsdorff, Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hoài Bảo
Nhà XB: NXB Thế giới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

 Mô hình đào tạo tín chỉ Đạihọc Hoa Kỳ ra đời sớm và có sự phát triển mạnh mẽ đến ngày nay - Mô hình đào tạo tín chỉ tại các trường đại học hoa kì hiện nay
h ình đào tạo tín chỉ Đạihọc Hoa Kỳ ra đời sớm và có sự phát triển mạnh mẽ đến ngày nay (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w