Năm 1933 ông J.JB.Denss , một chuyên viên chè người Hà Lan, nguyên giám đốc viện nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java(indonexia), cố vấn các công ty chè Đông dương thời Pháp, sau khi đi khảo sát chè cổ Tham vè tại xã Cao Bộ (huyên Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) đã viết về nguồn gốc cây chè trên thế giới …Trong đó có viết : ”Điểm cần chú ý là ở những nơi mà con người tìm thấy cây chè, bao giờ cũng ở cạnh con sông lớn, nhất là sông Dương Tử, sông Tsi Kiang ở T rung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và ở Bắc Kỳ ( Việt Nam ), sông MêKông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương …
Trang 1ĐỀ TÀI : CÂY CHÈ CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÈ
1.1.Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây chè
1.1.1.Nguồn gốc
Năm 1933 ông J.JB.Denss , một chuyên viên chè người Hà Lan, nguyên giám đốc viện
nghiên cứu chè Buitenzorg ở Java(indonexia), cố vấn các công ty chè Đông dương thời Pháp,
sau khi đi khảo sát chè cổ Tham vè tại xã Cao Bộ (huyên Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) đã viết về
nguồn gốc cây chè trên thế giới …Trong đó có viết : ”Điểm cần chú ý là ở những nơi mà con
người tìm thấy cây chè, bao giờ cũng ở cạnh con sông lớn, nhất là sông Dương Tử, sông Tsi
Kiang ở T rung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và ở Bắc Kỳ ( Việt Nam ), sông MêKông ở Vân
Nam, Thái Lan và Đông Dương … tất cả những con sông đó đều bắt nguồn từ dãy núi phía
đông Tây Tạng.” Vì lý do này Ông cho là nguồn gốc cây chè là từ dãy núi này phân tán đi. Năm 1976, Demukhatze viện sỹ thông tấn viện hàn lâm khoa học Liên Xô nghiên cứu sự
tiến hoá của cây chè bằng cánh phân tích chất cafein trong chè mọc hoang rã và chè do con
người trồng ở các vùng khác nhau trên thế giới trong đó có các vùng chè cổ ở Việt Nam
(suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An, …) Tác giả đã kết luận : Cây chè cổ Việt Nam
tổng hợp các chất cafein đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam Trung Quốc và như vậy các
chất cafein phức tạp ở cây chè Vân Nam nhiều hơn ở cây chè Việt Nam Do đó tác giả đã đề
xuất sơ đồ tiến hoá cây chè như sau : Camelia chè Việt Nam – chè Vân Nam lá to – chè Trung Quốc – chè Assam ấn Độ. Qua phân tích nhiều nhà khoa học cho rằng Việt Nam là một trong những nôi của cây chè . Ngoài những giống chè có sẵn trên đồi núi từ những giống “ chè rừng ” như chè tuyết san Việt Nam đã nhập khẩu thêm một số giống mới từ Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản. 1.1.2. Lịch sử cây chè tại Việt Nam Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè vườn hộ
Trang 2Sự phát triển của cây Chè Việt Nam
Thời kỳ trước năm 1882
Từ xa xưa, người Việt Nam trồng chè dưới 2 loại
hình: Chè vườn hộ gia đình uống lá chè tươi, tại vùng
chè dồng bằng sông Hồng ở Hà đông, chè đồi ở Nghệ
An. Chè rừng vùng núi, uống chè mạn, lên men một
nửa, như vùng Hà Giang, Bắc Hà
Thời kỳ 18821945 Ngoài 2 loại chè trên, xuất hiện mới 2 loại chè công nghiệp; chè đen công nghệ truyền
thống OTD, và chè xanh sao chảo Trung Quốc Bắt đầu phát triển những đồn điền chè lớn tư
bản Pháp với thiết bị công nghệ hiện đại Người dân Việt Nam, sản xuất chè xanh tại hộ gia
đình và tiểu doanh điền Chè đen xuất khẩu sang thị trường Tây Âu, chè xanh sang thị trường
Bắc Phi là chủ yếu. Diện tích chè cả nước là 13305 ha, sản lượng 6.000 tấn chè khô/năm. Thời kỳ độc lập (1945 nay) Sau 1954, Nhà nước xây dựng các Nông trường quốc doanh và Hợp tác xã nông nghiệp
trồng chè; chè đen OTD xuất khẩu sang Liên Xô Đông Âu, và chè xanh xuất khẩu sang
Trung Quốc. Đến hết năm 2002, tổng diện tích chè là 108.000 ha, trong đó có 87.000 ha chè kinh
doanh Tổng số lượng chè sản xuất 98.000 tấn, trong đó xuất khẩu 72.000 tấn đạt 82 triệu USD.
1.2. Phân bố và phân loại
Theo phân loại của nhà phân loại thực vật Hà Lan Cohen Stuart (1918) và nhà nông học
Trang 3Mặc dù Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè, nhưng giá bán lại chỉ bằng một nửa so với mặt bằng giá chung trên thế giới. ( 14/10/2010).
Trong 9 tháng đầu năm, sản lượng xuất khẩu chè ước đạt gần 100 nghìn tấn, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2008; kim ngạch xuất khẩu 126 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm
Trang 4Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càng được mở rộng Theo dự đoán của FAO (1967), nếu lấy năm 1961 - 1963 là 100% thì năm 1975 yêu cầu
về chè hàng năm của thế giới sẽ tăng 2,2 - 2,7% và sản xuất chè tăng 3,2%
Ở nước ta, chè là một trong những cây có giá trị xuất khẩu cao Căn cứ vào năng suất bình quân đã đạt được năm 1969 của khu vực nông trường quốc doanh (42,39 tạ
búp/ha), nếu chỉ đứng về mặt xuất khẩu mà xét thì một ha chè của khu vực nông
trường quốc doanh so với một số cây công nghiệp dài ngày của cùng khu vực này bằng hơn 5 lần một ha cà phê, gần 10 lần một ha sả Nếu năng suất chè đạt 100 tạ búp/ha
thì xuất khẩu có thể thu được đủ để nhập 46 tạ phân hóa học, hoặc 3,1 tạ bông, hoặc
25 - 30 tạ bột mì Như vậy một ha chè có năng suất 100 tạ búp có giá trị xuất khẩu
ngang với 200 tấn than
Tình hình xuất khẩu trong những năm gần đây rất khả quan Tuy Việt Nam không phải là
Trang 5nơi tập trung các nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới như Ấn Độ, Sri Lanka và Kenya, nhưng thị
phần thế giới của Việt Nam tương đối cao (1.5%) Đặc biệt, nhàng chè đã đạt mức tăng
trưởng xuất khẩu cao với tỉ lệ tăng bình quân hàng năm gần 15% về giá trị từ năm 1999 đến
năm 2003 Theo số liệu thống kê của Việt Nam, xuất khẩu chè đạt trên 60 triệu đô năm
2003 Con số này cao hơn khá nhiều so với thống kê thương mại thế giới, thống kê này bỏ
qua Iraq (một đối tác buôn bán quan trọng) và ước tính xuất khẩu chè có giá trị 40 triệu đô,
với các thị trường chính là Đài Loan, Nga và Đức. Nhà xuất khẩu chè Việt Nam đã gặp phải những thay đổi cơ bản về địa lý của các nước
đối tác chính(Liên bang Xô Viết, và Iraq) khiến cho nhập khẩu giảm mạnh Đến năm 1991,
Việt Nam xuất khẩu chè sơ chế sang Liên bang Xô Viết và Đông Âu, tại đây, chè được chế
biến và đóng gói lại trước khi bán Sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, thị trường ngoài nước
của Việt Nam được mở rộng. Việt Nam đã xuất chè tới hơn 50 thị trường tính đến đầu năm 2004, tuy 80% lượng xuất khẩu là sang Iraq, Đài Loan, Ấn Độ,
Pakistan và Nga. Irad là một trong các khách hàng lớn của chè Việt Nam. 1.4.1Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam ngày càng tăng cho nên xuất khẩu chè Việt Nam ngày
một tăng thị trường mở rộng hiện nay chúng ta có quan hệ xuất khẩu chè với khoảng 30 nước
trên thế giới. Xuất khẩu chè Việt Nam phân theo sản phẩm ( HS ) Ðvt: nghìn USD HS Sản phẩm 2007 2008 2009 2010 Tổng xuất khẩu hàng hóa
của việt nam 48.561.343 62.685.130 57.096.274 72.236.665 Xuất khẩu chè của việt
nam 133.497 147.326 180.219 200.537 090240 Chè đen khác ( đã ủ
men) và chè đen khác đã
ủ men một phần 67.929 82.652 110.398 112.874 090220 Chè xanh khác ( chưa ủ
men)
Trang 6090230 Chè đen( đã ủ men) và
chè đã ủ men một phần 7.369 8.407 11.185 6.639 090210 Chè xanh ( chưa ủ men)
đóng gói sẵn 4.561 7.125 3.192 5.577 Chè 2009 2010 2011 2012 3/2013 Giá trị xuất khẩu 179.5 200 204 224.6 43.6 Tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước (%) 28.4 11.4 2.0 10.1 4.3 Sản xuất chè ở Việt Nam tăng ấn tượng vào những năm 90, việc mở rộng diện tích trồng
chè góp phần nhiều hơn việc nâng cao sản lượng Tính đến năm 2003, toàn bộ diện tích trồng
chè của Việt Nam là 99,000 ha, trong đó 70% là của các hộ sản xuất nhỏ%, còn xấp xỉ 30%
là của nhà nước và các liên doanh Tỉ lệ nắm giữ của các hộ tiểu chủ tăng mạnh từ năm 1995,
khi họ được phân đất theo Nghị định 01 Từ năm 1990 đến 2003, sản lượng tăng trung bình
7%/năm, diện tích và lợi nhuận cũng tăng 3.5% và 3.1% mỗi năm Sản lượng sụt giảm vào
năm 2003, khi thị trường tan rã do cuộc chiến ở Irad, nhưng dự đoán sẽ tăng kỉ lục vào năm
2004.
Trang 7Ngành chè Việt Nam mang định hướng xuất khẩu mạnh mẽ, với xuất khẩu chiếm 85%
sản lượng năm 2001/2002, tăng vượt bậc từ 30% năm 1991 Việt Nam sản xuất ba loại chè
chế biến – chè đen truyền thống (60%), chè đen Cut, Tear, and Curl (CTC) (7%) chè xanh
(33%) (Accenture 2000) Hầu hết chè được tiêu thụ trong nước là chè xanh; thực tế là 90%
chè xanh sản xuất ra được tiêu thụ trong nước (Accenture 2000) Chè xanh ướp hương nhài,
sen và các loại hoa thơm khác là phổ biến, chiếm khoảng 20% lượng tiêu thụ trong nước (Vo
Ngoc Hoai, 1998) Chè đen chỉ được tiêu dùng tại các thành phố lớn, và kể cả như vậy cũng
chỉ chiếm 1% tổng lượng tiêu thụ. 1.4.2.Tình hình thế giới Chè được sản xuất ở 28 nước, nhưng có tới hơn 100 nước tiêu thụ chè Chè là một trong
những loại đồ uống phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Từ lâu chè đã trở thành cây công
nghiệp chủ yếu của một số quốc gia. Thị trường chè thế giới với 1,4 triệu tấn, chủ yếu là Sri Lanka, Kenya, Trung Quốc và Ấn
Độ, chiếm khoảng 2/3 tổng lượng xuất khẩu Việt Nam nắm 2 3% thị phần thế giới, nhưng
có ưu thế hơn về chè xanh Việc có thêm nhiều nước trồng chè có thể làm tăng cung thế giới,
trong khi cầu tăng chậm Thị trường thế giới về chè và sản phẩm chè rất yếu, giảm 0.4%/năm
về giá trị từ năm 1999 đến năm 2003, và chỉ tăng 1%/năm về số lượng Đến năm 2003, giá
trị của thị trường khoảng 2480 triệu đô Các nước nhập khẩu nhiều nhất là Anh (10.8%),
Nga, Pakistan, Hoa Kỳ và Nhật Bản Trong đó chỉ có đạt mức tăng trưởng tích cực trong
vòng 5 năm qua Thị trường của chè đen lớn hơn 5 lần chè xanh nhưng trong những năm gần
đây, tình hình tăng trưởng thị trường của chè xanh đã tốt lên. 1.4.3.Sản lượng Mặc dù diện tích trong những năm gần dây có xu hướng giảm( giảm 0,4% năm) nhưng nhờ
có đầu tư vốn cũng như kỹ thuật để thâm canh tăng nhanh năng suất thu hoạch (23% năm), nên đến năm 2000 sản lượng chè thế giới lên tới 3 triệu tấn.
Trang 8Tỷ trọng thị trường xuất khảu chè năm 2012
Xuất khẩu chè thế giới thời gian qua tăng với tốc độ tương đối ổn định, bình quân 3%
So T2/12 (%) 2T/13
So 2T/12 (%)
Trang 9
1.5.Công dụng của cây chè
Chè là một cây công nghiệp dài ngày, trồng trọt một lần cho thu hoạch nhiều năm, từ
3050 năm. Người ta trồng chè để lấy búp chè có một tum và 23 lá . Từ lá chè tuỳ theo cách chế biến chè và công nghệ chế biến để cho ra các loại chè khác
nhau : chè xanh, chè đen , chè vàng , hoà tan … Chè có nhiều vitamin có giá trị dinh dưỡng và bảo vệ sức khoẻ, có tác dụng giải khát, bổ
dưỡng và kích thích hệ thần kinh trung ương, giúp tiêu hoá các chất mỡ, giảm được bệnh béo
phì, chống lão hoá … Do đó nước chè đã trở thành thứ nước uống của nhân loại Ngày nay,
hầu hết dân cư trên thế giới dùng nước chè làm nước uống hàng ngày Một số nước uống chè
thành tập quán và tạo ra được một nền văn hoá nguyên sơ là “ văn hoá trà” Ngoài để uống
người ta còn dùng nước chè xanh để rửa ráy các vết thương những chỗ lở loét, nhiễm trùng
trên cơ thể.Vì thế chè không những có tên trong danh mục giải khát mà còn có tên trong từ
điển y hoc, dược học.Người Nhật Bản khẳng định chè cứu người khỏi bị nhiễm xạ và gọi đó
là thứ nước uống của thời đại nguyên tử.ở vùng Tây Nam Trung Quốc thời cổ đại cùng khung
cảnh văn hoá với chúng ta đã dùng lá chè làm vật trao đổi ngang giá và thứ thuốc tiên.
Trang 10Chè có giá trị sử dụng và là hàng hoá có giá trị kinh tế cao, chè là một sản phẩm xuất khẩu
có giá trị trên thị trường thế giới.Thị trường trong nước đòi hỏi về chè ngày càng nhiều với
yêu cầu chất lượng ngày càng cao Chè là một cây có hiệu lực khai thác vùng đất đai rộng lớn
của trung du, miền núi, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái Cây chè
sống quanh năm và tương đối nhiều, tạo công ăn việc làm không những cho lao động chính
mà cả cho lao động phụ (người già, trẻ em), có tác dụng điều hoà lao động từ vùng đồng
bằng lên vùng trung du, miền núi thưa thớt. 1.6. Thành phần sinh hóa và đặc điểm hình thái của cây chè 1.6.1. Thành phần sinh hóa Phẩm chất của chè thành phẩm được quyết định do những thành phần hóa học của
nguyên liệu và kỹ thuật chế biến Thành phần sinh hóa của chè biến động rất phức tạp nó
phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu
hoạch Trên cơ sở nắm được những đặc điểm chủ yếu về mặt sinh hóa của nguyên liệu sẽ
đặt cơ sở cho một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao sản lượng đồng thời giữ vững và nâng
cao chất lượng của chè. Những thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè gồm có: 1.6.2 Nước: Nước là thành phần chủ yếu trong búp chè: nước có quan hệ đến quá trình biến đổi sinh
hóa trong búp chè và đến sự hoạt động của các men, là chất quan trọng không thể thiếu
được để duy trì sự sống của cây Hàm lượng nước trong búp chè thay đổi tùy theo giống,
tuổi cây, đất đai, kỹ thuật canh tác, thời gian hái và tiêu chuẩn hái v.v Trong búp chè (tôm
+ 3 lá) hàm lượng nước thường có từ 75 82% Để tránh khỏi sự hao hụt những vật chất
trong búp chè qua quá trình bảo quản và vận chuyển, phải cố gắng tránh sự giảm bớt nước trong búp chè sau khi hái.
1.6.3.Tanin:
Trang 11Tanin là một trong những thành phần chủ yếu quyết định đến phẩm chất chè Tanin còn
gọi chung là hợp chất fenol, trong đó 90% là các dạng catechin Tỷ lệ các chất trong thành
phần hỗn hợp của tanin chè không giống nhau và tùy theo từng giống chè mà thay đổi.
Những hợp chất này dựa vào tính chất của chúng có thể phân thành: Dạng tan được trong este: phân tử lượng 320 360. Dạng tan trong nước hoặc xeton: phân tử lượng 420 450. Dạng kết hợp với protein (chỉ sau khi dùng dung dịch NaOH 0,5% để xử lý, mới có thể
hòa tan trong dung dịch). Các dạng catechin như epicatechin galat, epigalocatechin galat tham gia vào quá trình
sinh trưởng của cây. Về mặt phẩm chất chè, tanin giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo thành màu sắc, hương vị
của chè (nhất là đối với việc chế biến chè đen), vì vậy trong quá trình trồng trọt cần chú ý
nâng cao hàm lượng tanin trong nguyên liệu. Tanin được dùng trong y học để làm thuốc cầm máu, nó có khả năng tăng cường sức đề
kháng của thành huyết quản trong cơ thể động vật, tăng cường sự tích lũy và đồng hóa sinh
tố C. 1.6.4.Ancaloit: Trong chè có nhiều loại ancaloit nhưng nhiều nhất là cafein Hàm lượng cafein ở trong
chè có từ 3 5% thường nhiều hơn cafein ở trong lá cà phê từ 2 3 lần Nó không có khả
năng phân ly ion H+ tức là không có tính axít mà chỉ là một kiềm yếu Cafein chỉ hòa tan
trong nước với tỷ lệ 1/46, rất dễ hòa tan trong dung môi clorofoc Cafein có tác dụng kích
thích hệ thần kinh trung ương, kích thích cơ năng hoạt động của tim, có tác dụng lợi tiểu.
Cafein rất bền vững trong chế biến Nó có khả năng kết hợp cới tanin để tạo thành hợp chất
tanat cafein có hương vị dễ chịu Theo tài liệu của Roberto, hợp chất tanat cafein được tạo
Trang 12thành chủ yếu từ cafein, teaflavin, tearubigin, teaflavingalat Ngoài ra còn có sự tham gia
của ECG và EGCG. 1.6.5.Protein và axít amin: Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp chứa N, phân bố không đều ở các phần của búp chè
và thay đổi tùy theo giống, thời vụ, điều kiện canh tác và các yếu tố khác Protein có thể
trực tiếp kết hợp với tanin, polifenol tạo ra những hợp chất không tan làm ảnh hưởng xấu
đến phẩm chất chè đen Do đặc điểm của việc chế biến chè xanh là diệt men ngay từ đầu,
nên hàm lượng tanin trong chè ít bị thay đổi và còn quá cao làm cho chè có vị đắng Protein
kết hợp với một phần tanin làm cho vị chát và đắng giảm đi Vì thế trong một chừng mực
nào đó, protein có lợi cho phẩm chất chè xanh. Ngày nay người ta đã tìm thấy trong chè có 17 axít amin, các axít amin này kết hợp với
đường và tanin tạo thành andehit có mùi thơm của chè đen và làm cho chè xanh khác 1.6.6.Gluxít và pectin: Trong lá chè chứa rất ít gluxít hòa tan, trong khi đó các gluxít không hòa tan lại chiếm
tỷ lệ lớn. Xenlulo và hemixenlulo cũng tăng lên theo tuổi của lá, vì vậy nguyên liệu càng
già chất lượng càng kém Hàm lượng đường hòa tan ở trong chè tuy ít nhưng rất quan trọng
đối với hương vị chè. Đường tác dụng với protein hoặc axít amin tạo nên các chất thơm. Pectin thuộc về nhóm gluxít và nó là hỗn hợp của các polixacarit khác nhau và những chất
tương tự chúng ở trong chè, pectin thường ở dạng hòa tan trong nước, tan trong axít oxalic,
tan trong amon oxalat Pectin tham gia vào việc tạo thành hương vị chè, làm cho chè có mùi
táo chín trong quá trình làm héo ở mức độ vừa phải, pectin làm cho chè dễ xoăn lại khi chế
biến nhưng nó có ảnh hưởng xấu đến quá trình bảo quản chè thành phẩm vì pectin dễ hút ẩm. 1.6.7.Diệp lục và các sắc tố khác gần nó: Trong lá chè có chứa diệp lục tố, carotin và xantofin Các sắc tố này biến động theo giống, theo mùa và các biện pháp kỹ thuật canh tác.
Trang 13Trong chè thành phẩm diệp lục tố có ảnh hưởng xấu tới phẩm chất của chè bởi vì làm
cho sản phẩm có màu xanh, mùi hăng, vị ngái. 1.6.8.Dầu thơm: Dầu thơm ở trong chè rất ít, hàm lượng của chúng trong lá chè tươi: 0,007% 0,009%
và trong chè bán thành phẩm: 0,024 0,025% Hàm lượng dầu thơm trong lá chè, được tăng
dần ở những địa hình cao, tuổi lá quá non chứa ít hương thơm Dầu thơm ảnh hưởng trực
tiếp đến hương vị của chè do hương thơm tự nhiên và do quá trình chế biến tạo thành như sự
lên men, ôxi hóa, tác dụng của độ nhiệt cao. Dầu thơm có tác dụng điều tiết sinh lý của cây để thích hợp với điều kiện bên ngoài (khi
độ nhiệt quá cao hay quá thấp) và ngăn cản những bức xạ có bước sóng ngắn, tác hại đến cây
chè Đối với cơ thể con người dầu thơm có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương làm
cho tinh thần minh mẫn, thoải mái dễ chịu nâng cao hiệu suất làm việc của các cơ năng
trong cơ thể. 1.6.9.Vitamin: Các loại vitamin có trong chè rất nhiều. Chính vì vậy giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng của chè rất cao. Theo các tài liệu của Trung Quốc, hàm lượng một số vitamin trong chè tính theo mg/1.000g chất khô như sau: Vitamin A: 54,6; B1: 0,70; B2: 12,20; PP: 47,0; C: 27,0 v.v
Đáng chú ý nhất là hàm lượng vitamin C ở trong chè, nhiều hơn trong cam chanh từ 3 đến 4 lần. Quá trình chế biến chè đen làm cho vitamin C giảm đi nhiều vì nó bị ôxi hóa, còn trong chè xanh thì nó giảm đi không đáng kể.
1.6.10. Men:
Men là nhân tố quan trọng của sự sống. Men quyết định chiều hướng phát triển của mọi phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể sinh vật và chúng là chất kích động tất cả các biến đổi hóa học.
Trang 14 Nhóm thủy phân: men amilaza, glucoxidaza, proteaza và một số men khác.
Nhóm ôxi hóa khử: Chủ yếu là hai loại men: peroxidaza và polifenoloxidaza.
1.6.11. Chất tro:
Các nguyên tố tro giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của cơ thể sống, chúng là
những nhân tố của sự thay đổi trạng thái các chất keo và ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao
đổi chất của tế bào Hàm lượng tro trong chè tươi từ 45% và trong chè khô từ 56%.
Trong chè, tro chia thành hai nhóm: hòa tan trong nước và không hòa tan trong nước Chè
thành phẩm loại tốt, hàm lượng tro ít hơn so với loại chè xấu nhưng tỷ lệ chất tro hòa tan lại nhiều hơn.
1.7. đặc diểm hình thái
1.7.1.Thân và cành:
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành. Do đặc điểm sinh trưởng và do hình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè ra làm ba loại: thân gỗ, thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi.
1. Đứng thẳng 2. Trung gian 3. Nằm ngang
Hình 1: Các dạng tán chè
Trang 15Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành, trên cành chia làm nhiều đốt Chiều dài
của đốt biến đổi rất nhiều (từ 1 10 cm) do giống và do điều kiện sinh trưởng Đốt chè dài
là một trong những biểu hiện giống chè có năng suất cao Từ thân chính, cành chè được
phân ra nhiều cấp: cành cấp 1, cấp 2, cấp 3 Hoạt động sinh trưởng của các cấp cành trên
tán chè rất khác nhau Theo lý luận phát dục giai đoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía
gốc của cây càng có giai đoạn phát dục non, sức sinh trưởng mạnh Còn những cành chè
càng ở phía trên ngọn (mặt tán) thì càng có giai đoạn phát dục già, sức sinh trưởng yếu, khả
năng ra hoa kết quả mạnh Những cành chè ở giữa tán hoặc trên mặt tán, hoạt động sinh
trưởng thường mạnh hơn các cành ở rìa tán và ở phía dưới tán. Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè Với số lượng càng thích hợp và cân đối
ở trên tán, cây chè cho sản lượng cao Vượt quá giới hạn đó, sản lượng không tăng và phẩm
cấp giảm xuống do búp mù nhiều Tương quan giữa mật độ cành và sản lượng búp là một
tương quan không chặt Theo Bakhơtatje, hệ số tương quan giữa mật độ cành với sản lượng
là r = 0,071. Trong sản xuất, cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành để áp dụng các biện pháp
kỹ thuật đốn, hái hợp lý mới có thể tạo ra trên tán chè nhiều búp, đặt cơ sở cho việc tăng
sản. 1.7.2. Mầm chè: Trên cây chè có những loại mầm: mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực Mầm dinh dưỡng phát triển thành cành lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa và quả.
Mầm dinh dưỡng gồm có:
Mầm đỉnh
Mầm nách
Mầm ngủ
Mầm bất định (mầm ở cổ rễ)
Trang 17xuân của cây Búp được hình thành từ các mầm đỉnh là các búp đợt 1, có thể là búp bình
thường hoặc búp mù. Mầm nách: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, phần lớn chúng ở trạng thái nghỉ do
sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đỉnh, mầm nách phát triển thành búp mới Tùy
theo vị trí của lá ở trên cành, khả năng phát triển thành búp và chất lượng búp ở các nách lá
rất khác nhau Những mầm ở nách lá phía trên thường hoạt động sinh trưởng mạnh hơn, do
đó cho búp có chất lượng tốt hơn các mầm ở nách lá phía dưới Những búp được hình thành
từ mầm nách của các lá năm trước gọi là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù. Mầm ngủ: Là những mầm nằm ở các bộ phận đã hóa gỗ của các cành một năm hoặc già
hơn Những mầm này kém phân hóa và phát triển hơn hai loại mầm trên, cho nên sự hình
thành búp sau khi đốn đòi hỏi một thời gian dài hơn Kỹ thuật đốn lửng, đốn đau, có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của mầm ngủ, tạo nên những cành chè mới, có giai đoạn phát
dục non, sức sinh trưởng mạnh Búp được hình thành từ mầm ngủ có thể là búp bình thuờng
hoặc búp mù. Mầm bất định: Vị trí của loại mầm này không cố định trên thân chè thường ở sát cổ rễ
Nó chỉ phát triển thành cành lá mới khi cây chè được đốn trẻ lại Trong trường hợp ấy cành
chè tựa như mọc ở dưới đất lên Búp được hình thành từ các mầm bất định cũng có hai
loại: búp bình thường và búp mù. Mầm sinh thực: Mầm sinh thực nằm ở nách lá Bình thường mỗi nách lá có hai mầm
sinh thực nhưng cũng có trường hợp số mầm sinh thực nhiều hơn và khi đó ở nách lá có
một chùm hoa Các mầm sinh thực cùng với mầm dinh dưỡng phát sinh trên cùng một trục,
mầm dinh dưỡng ở giữa, mầm sinh thực ở hai bên, vì vậy, quá trình sinh trưởng dinh dưỡng
và sinh trưởng sinh thực thường có những mâu thuẫn nhất định Khi mầm sinh thực phát
triển nhiều ở trên cành chè, thì quá trình sinh trưởng của các mầm dinh dưỡng yếu đi, do sự
tiêu hao các chất dinh dưỡng cho việc hình thành nụ hoa và quả Trong sản xuất chè búp cần
áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực.
Trang 18Búp chè là đoạn non của một cành chè Búp được hình thành từ các mầm dinh dưỡng,
gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai hoặc ba lá non Búp chè
trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong
của nó Kích thước của búp thay đổi tùy theo giống, loại và liều lượng phân bón, các khâu
kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt. Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng
suất và phẩm chất của chè Nghiên cứu của Bakhơtatje (1947) cho thấy tương quan giữa số
lượng búp trên một đơn vị diện tích và năng suất là một tương quan rất chặt chẽ r = 0,956. a) Búp bình thường b) Búp mù Hình 3: Búp chè Búp chè gồm có hai loại: búp bình thường và búp mù Búp bình thường (gồm có tôm + 2,
3 lá non), có trọng lượng bình quân 1 búp từ 1g đến 1,2g đối với giống chè Shan, từ 0,5 đến
0,6g đối với giống chè Trung du, búp càng non phẩm chất càng tốt Hệ số tương quan giữa
tỷ lệ phần trăm búp bình thường với hàm lượng tanin và cafein trong lá chè là r = 0,67 và r
= 0,48 Búp mù là búp phát triển không bình thường, trọng lượng bình quân của một búp
mù thường bằng khoảng 1/2 trọng lượng búp bình thường và phẩm chất thì thua kém rõ rệt.
Trang 19Nguyên nhân xuất hiện búp mù rất phức tạp Một mặt do đặc điểm sinh vật học của cây
trồng, mặt khác do ảnh hưởng xấu của các điều kiện bên ngoài hoặc do biện pháp kỹ thuật
không thích hợp. Trên một cành chè nếu để sinh trưởng tự nhiên, một năm có 4 5 đợt sinh trưởng, nếu hái
búp liên tục thì có 6 7 đợt và trong điều kiện thâm canh có thể đạt 8 9 đợt sinh trưởng. Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống, tuổi cây chè,
điều kiện thời tiết khí hậu và các biện pháp kỹ thuật. 1.7.4.Lá chè: Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá Lá thường có nhiều thay đổi về hình dạng
tùy theo các loại giống khác nhau và trong các điều kiện ngoại cảnh khác nhau Lá chè có
gân rất rõ Những gân chính của lá chè thường không phát triển ra đến tận rìa lá Rìa lá chè
thường có răng cưa, hình dạng răng cưa trên lá chè khác nhau tùy theo giống Số đôi gân lá
là một trong những chỉ tiêu để phân biệt các giống chè. CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CÁCH CHĂM SÓC CÂY CHÈ 2.1.Phương pháp trồng trọt 2.1.1. Cách chọn giống cây Chọn giống chè có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thích ứng mạnh với điều kiện
đất trồng của địa phương. Là những giống có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu công nghệ chế biến hiện tại (chè đen, chè xanh, chè Ô long ) của thị trường.
Cùng với 20 năm đổi mới đất nước, trong nhiều năm qua công cuộc cách mạng giống cây trồng vật nuôi được đặc biệt chú trọng, chè cũng là một trong những cây trồng được quan tâm nên nhiều giống chè mới ưu thế thay thế dần những giống chè cũ năng suất thấp.
Trang 20Nhiều giống chè nhập nội đã sớm được đưa vào sản xuất đại trà và góp phần quan trọng cho một hướng sản xuất chè mới: chè chất lượng cao. Những giống chè này có năng suất cao hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn chè địa phương rất nhiều. Những giống chè này cũng đem lại một loại sản phẩm mới mà chỉ có ở một vùng thị trường (Đài Loan, Trung Quốc) nhưng có một sắc thái rất riêng biệt: chè Olong. Đó là các giống chè Kim Tuyên, Ngọc
Thuý, Tứ Quý, Olong Thanh Tâm, Olong trắng. Các giống chè này hiện nay không những chỉ phổ biến ở Lâm Đồng (diện tích hơn 1.500ha) mà được nhân ra rất nhiều địa phương khác và cũng đem lại những sắc thái riêng biệt của chủng loại giống.
Trong bộ giống chè hiện có ở Lâm Đồng, đã có được những nhóm giống chè có những đặc tính khác nhau: đa dạng về hình thức chế biến, phong phú về chất lượng đặc biệt… được nhập về từ nhiều nước khác nhau. Những giống này là những giống có nguồn gốc ưu tú. Do vậy việc đánh giá, chọn lọc và phóng thích kết hợp với những giống chè được chọn lọc, lai tạo được rút ra trong bộ giống của địa phương là cơ sở cho những vùng chuyên canh đặc sản trong tương lai.
Một số đề xuất trong công tác chọn lọc, phóng thích giống và hướng phát triển:
Việc lựa chọn được những giống tốt, năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện
Trang 21là rất quan trọng. Do vậy trong định hướng di nhập giống và nghiên cứu khảo nghiệm cần đi vào nghiên cứu những bộ giống chè đặc sản. Từ những bộ giống này đi tới phát triển sản phẩm trên thị trường:
Cần có thương hiệu riêng cho từng bộ giống, từng loại sản phẩm;
Tiếp tục khai thác sản phẩm truyền thống như chè xanh, chè đen nhưng cần chú trọng đến chất lượng ổn định ở mức cao, ngoại hình đẹp;
Đẩy mạnh công tác đa dạng sản phẩm: chè Olong, chè vàng;
Chú ý nghiên cứu những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của xã hội phát triển: sản chẩm chè túi lọc, chè hoà tan, chè xanh nguyên chất, chè thuốc (trong chè có nhiều chất là dược liệu quý), mỹ phẩm….
Đặc biệt cần khai thác chè thêm một hứơng mới là kẹo chè, bánh chè, cháo chè, cơm chè…
Việc đa dạng chủng loại giống là một làm cần thiết trong quy hoạch các vùng chuyên canh chè. Các vùng chuyên canh cần lưu ý là chế biến chè xanh; vùng chế biến chè đen; vùng chế biến chè Olong,… sự phát triển này phải được định hướng lâu dài và bền vững.
Bên cạnh đó việc an toàn sản phẩm cho người tiêu dùng là một vấn đề luôn phải quan tâm; chúng ta đã hội nhập vào thị trường thế giới: WTO (World trade organization) nên vấn đề cạnh tranh và uy tín sản phẩm là sự sống còn của sản phẩm, của thương hiệu. Do vậy công tác quản lý khuyến cáo, nâng cao trình độ dân trí phải thực sự là chương trình lâu dài, đều khắp
và có chất lượng của nhà nước.
Tóm lại, vấn đề giống chè trong những năm qua ở Lâm Đồng đã được quan tâm chú ý trong công tác nghiên cứu, di nhập từ nhiều nguồn khác nhau. Việc chọn lọc ra những giống thích nghi để trồng phổ biến gíup cho công tác sản xuất của ngành chè có những bước tiến
Trang 22Do vậy, trong những năm tới công tác tuyển chọn giống, nghiên cứu quy trình công nghệ nhằm đa dạng sản phẩm cần được đẩy mạnh và sự quan tâm đúng mức của nhiều cấp trung ương đến địa phương.
m
Hàng chè: Gồm nhiều cây chè trồng liền nhau thiết kế theo đường thẳng hay đường đồng mức.
Dưới 5 – 6 0 hàng chè thẳng, các hàng xép đưa ra rìa lô.
Trang 23Từ 15 25 0 trồng bậc thang hẹp 1 hàng chè theo đường bình độ, hàng xép để xen kẽ đều.
2.1.2.2.2. Thiết kế hệ thống đường:
Thiết kế hệ thống đường, đồi chè sử dụng thước chữ A và máy ngắm, trên mép đường có trồng cây bóng mát.
Đường vành đai: Đường bình độ khép kín, mặt đường rộng 3 m, nghiêng vào trong 6 70, mép ngoài trồng cây thưa.
Đường lô: Cắt ngang (đồi phẳng) hay cắt chéo hàng chè (đồi dốc) cách nhau 150 200 m, mặt đường rộng 3 4 m, không có rãnh thoát nước.
Đường chăm sóc: Trong lô chè, cách nhau 50 70 m, cắt ngang hay chéo hàng chè, mặt đường rộng: 1,2 1,3 m, độ dốc mặt đường: 10 110 , theo mặt đất tự nhiên, không có rãnh thoát nước.
2.1.2.2.3. Thiết kế các công trình khác
Hệ thống rãnh thoát nước: Rãnh ngăn không cho nước phía ngoài tràn vào khu chè gồm:
Rãnh theo sườn đồi: Thiết kế ở chỗ hợp thuỷ, từ trên xuống chân đồi, thoát nước chống xói mòn.
Rãnh ngang sườn đồi: Đưa nước dồn vào rãnh sườn đồi
Trang 24Trang 25
2.1.3.1. Làm cỏ:
Vụ xuân thời tiết ấm dần làm cỏ non mọc nhanh và nhiều, vì vậy cần phải diệt trừ cỏ dại ngay từ đầu bằng cách xới cỏ giữa 2 hàng chè đồng thời dùng tay nhổ cỏ quanh gốc chè.
Trang 26+ Kali Clorua: 200kg/ha, tương đương 7,5kg/sào.
Cách bón như sau: Tiến hành rạch hàng hoặc bón từng hốc theo rìa mép tán phía trên, rạch sâu 6 8cm, rải đều phân và lấp kín đất.
Để tạo tán chè thích hợp cho sử dụng hái chè bằng máy trong vụ hè và vụ thu, vụ xuân bà
con nên hái bằng tay (vị trí hái: cách vết đốn từ 12 15cm); sửa tán phẳng bằng máy để chè sinh trưởng đồng đều.
2.1.3.4. Phòng trừ sâu bệnh hại:
Trang 27Nương chè thường mắc một số sâu bệnh hại như: bệnh phồng lá chè gây hại từ tháng 3 4,
Chăm sóc: Dự trữ một lượng giống chè để trồng dặm bằng 10% số cây đã trồng Thường
trồng dặm vào tháng 89 và 23, chọn ngày râm mát, đất đủ ẩm để trồng Trồng dặm kích thước hố 30x30x30cm; bón 1kg phân chuồng hoai/hố; đặt bầu cây, lấp đất, lèn chặt, phủ đất mỏng lên trên, tủ gốc bằng cỏ rác.
Với chè kiến thiết cơ bản tuổi 23 có thể trồng dặm bằng bầu to với kích thước túi PE 18x25cm với tỉ lệ 3 phần đất + 1 phần phân (0,3kg P/C + 20g lân/bầu); chọn giống chè cùng nương chè trồng dặm 9 10 tháng tuổi, thời gian ươm 78 tháng
Thuỷ lợi là biện pháp kỹ thuật quan trọng hàng đầu trong việc cải tạo lại đất bạc màu Việc
tưới tiêu nước chủ động, khoa học bằng một hệ thống kênh mương hoàn chỉnh nhằm cải thiện độ phì đất bạc màu, tăng độ ẩm, cải thiện được các đặc tính lý hoá trong đất, làm cho đất tơi xốp hơn, khả năng kết dính tốt hơn, giữ nước tốt hơn, giúp hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt hơn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn.