1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 2009

18 661 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 611 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 2009 Chính sách tiền tệ là chính sách do ngân hàng trung ương thực thi trên cơ sở tăng hay giảm khối tiền tệ tùy theo tình hình kinh tế nhằm đạt những mục tiêu nhất định. Luật ngân hàng nhà nước năm 2003 xác định “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tếtài chính của nhà nước nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng và nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trang 1

BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN

Đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA

VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995 - 2009

GVHD : PGS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

Nhóm : 02, Lớp: KTPT đêm 1 _ Khoá 19 Danh sách nhóm:

LÊ HOÀNG NAM NGUYỄN NGỌC THUYẾT NGUYỄN DUY THỌ

NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

Trang 3

Đánh giá hiệu quả chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009

Phần Dẫn nhập

Chính sách tiền tệ là chính sách do ngân hàng trung ương thực thi trên cơ sở tăng hay giảm khối tiền tệ tùy theo tình hình kinh tế nhằm đạt những mục tiêu nhất định Luật ngân hàng nhà nước năm 2003 xác định “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế-tài chính của nhà nước nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng và nâng cao đời sống của nhân dân” Chính sách tiền tệ là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến các biến vĩ mô lớn khác như: việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Do đó, việc nắm vững kiến thức về chính sách tiền tệ thông qua các công cụ tác động của nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Trong khuôn khổ của môn học tài chính phát triển, nhóm chúng em chọn đề tài

“Đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009” Bài viết hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế đồng thời phân tích về hiệu quả chính sách tiền tệ của Việt Nam trong những năm vừa qua, đánh giá hiệu quả việc sử dụng, điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ Bài viết tập trung trả lời cho 2 câu hỏi sau đây thông qua những bằng chứng thực tế thu thập từ các nguồn dữ liệu Ngân hàng thế giới (WB) và tổ chức tài chính toàn cầu (IFS):

 Việc gia tăng cung tiền có ảnh hưởng đến xuất lượng của nền kinh tế và giá cả không?

 Việc tăng cung tiền ảnh hưởng đến các biến vĩ mô thông qua những kênh tác động như thế nào?

I Cở sở lý thuyết

I.1 Khung phân tích lý thuyết

Lý thuyết chỉ ra rằng việc gia tăng cung tiền sẽ dẫn đến gia tăng đường tổng cầu, thông qua nhiều kênh tác động, làm gia tăng xuất lượng của nền kinh tế Những kênh tác động này gồm có: lãi suất, tín dụng, tỉ giá hối đoái và giá hàng hóa (Mishkin, 1995) Việc xây dựng một khung phân tích để nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu học thuật của nhiều học giả nhưng đáng chú ý nhất là của Taylor (1995) Trong bài viết này ông đã thiết lập một khung phân tích thực nghiệm để phân tích

cơ chế tác động và chỉ ra những tác động chính sách Kể từ đó, nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế, tập trung nhiều vào trường hợp của Mỹ (Poddar, Sab, và Khatrachyan, 2006) Nhiều tác giả khác đã vận dụng khung

Trang 4

phân tích này vào trường hợp cụ thể của nước họ như Nhật Bản (Morsink và Bayoumi, 2001), Thái Lan (Disyatat và Vongsinsirikul, 2003)

Các kênh tác động của chính sách tiền tệ

1 Kênh lãi suất

Theo Miskhin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng sẽ dẫn đến việc lãi suất thực giảm, nghĩa là chi phí của việc vay vốn (cost of capital) giảm Lãi suất cho vay giảm sẽ kích thích đầu tư và tiêu dùng của hộ gia đình Nhờ vậy mà tổng sản phẩm của nền kinh tế sẽ gia tăng

2 Kênh tỉ giá hối đoái

Theo Miskhin (2006), việc gia tăng cung tiền sẽ làm lãi suất thực của nội tệ giảm, do

đó những khoản tiền gởi sẽ dịch chuyển sang ngoại tệ thay vì gởi bằng nội tệ Tỉ giá hối đoái do đó cũng sẽ tăng (đồng nội tệ mất giá) dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước sẽ rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, tạo lợi thế khi xuất khẩu Xuất khẩu ròng tăng sẽ làm tăng tổng xuất lượng của nền kinh tế

M   ir   e  NX   Y

3 Những kênh tài sản khác

Những kênh này tác động chủ yếu thông qua 2 hiệu ứng: Lý thuyết q về đầu tư của Tobin và hiệu ứng của cải (Miskhin, 1995) Nếu như cung tiền giảm, công chúng có ít tiền hơn và sẽ tìm cách cắt giảm chi tiêu, trong đó có tiền đầu tư trong thị trường chứng khoán Cầu chứng khoán sẽ giảm và giá cân bằng cũng sẽ giảm

Hiệu ứng của cải của tiêu dùng dựa trên mô hình về vòng đời của Modigliani (1971) Trong mô hình này, người tiêu dụng quyết định chi tiêu của sau khi cân nhắc về vòng đời của tài nguyên, bao gồm vốn nhân lực, vốn tư bản, tài sản tài chính (ở đây xem xét chủ yếu

là cổ phiếu) Khi giá cổ phiếu giảm, tài sản suy giảm cho nên tiêu dùng giảm

4 Kênh tín dụng

Theo Miskhin (1995), khi cung tiền giảm, tiền gởi vào ngân hàng giảm kéo theo lượng tiền mà ngân hàng cho vay cũng giảm Đầu tư cho nền kinh tế vì vậy mà cũng giảm theo Sản lượng của nền kinh tế sụt giảm

Trang 5

Vấn đề về bản cân đối kế toán ảnh hưởng thông qua giá trị trần của doanh nghiệp giảm

vì giá cổ phiếu giảm, với các vấn đề của thông tin bất cân xứng như lựa chọn nghịch và rủi

ro đạo đức Do đó ngân hàng sẽ giảm mức cho vay Đầu tư giảm và sản lượng của nền kinh

tế giảm

I.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ

1 Mục tiêu tiền tệ

a Điều hòa khối tiền tệ

Đây là mục tiêu giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tiền và hàng Nguyên tắc chung

để đạt được mục tiêu này là giữ nguyên, tăng hay giảm khối tiền tệ tùy theo tình hình nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái

b Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền

Giá trị quốc nội của đồng tiền chính là sức mua đối nội của nó thông qua giá cả hàng hóa trong nước Do đó muốn bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền, chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục đích ổn định vật giá nói chung Sự gia tăng hay sụt giảm quá mức của vật giá đều có tác động đến sự ổn định giá trị quốc nội của đồng tiền và là biểu hiện của sự thăng trầm kinh tế

c Ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền

Giá trị quốc ngoại của đồng tiền chính là sức mua đối ngoại của nó được đo lường bằng

tỉ giá hối đoái thả nổi Thực chất tỉ giá hối đoái thả nổi chính là giá cả đối ngoại của đồng tiền Bởi vậy sự biến động tỉ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua của đồng tiền, từ đó tác động ít hay nhiêu đến nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế đó Do vậy chính sách tiền tệ cũng cần nhắm đến mục tiêu ổn định tỉ giá hối đoái để góp phần vào việc ổn định nền kinh tế nói chung

2 Mục tiêu kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có ảnh hưởng đến lãi suất và số cầu tổng quát của nền kinh tế Từ đó tác động đến đầu tư gia tăng sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế

Trang 6

b Toàn dụng lao động Mục tiêu này đi đôi với tăng trưởng kinh tế Chính sách tiền tệ nhằm mở rộng và gia tăng khối tiền tệ để làm cho sức tiêu thụ tăng lên, vừa làm cho nhà sản xuất mở rộng đầu tư

để thu hút thêm nhân công

c Giảm thiểu những thăng trầnm của chu kì kinh tế

Sự phát triển kinh tế biến chuyển qua nhiều giai đoạn mang tính chất chu kì, có lúc tăng trưởng, có lúc ngừng trệ, có lúc suy thoái Những thăng trầm mang tính chất chu kì đó

có thể giảm bớt về cường độ hoặc rút ngắn về thời gian nhờ vào 1 chính sách tiền tệ thích hợp

 Mở rộng khối tiền trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn hồi phục

 Tiết chế khối tiền tệ để vừa kiểm soát lạm phát, vừa giữ nền kinh tế không rơi vào trì trệ

 Sớm chuyển nền kinh tế sang giai đoạn tăng trưởng với 1 tỉ lệ lạm phát hợp lí

II Những công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam

1 Công cụ lãi suất

Tại Việt Nam, công cụ lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền tệ được thực hiện qua ba loại lãi suất chính sau: Lãi suất cơ bản, Lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn (Tham khảo phụ lục 1: các loại lãi suất ở Việt Nam)

Ngân hàng nhà nước có thể đặt ra những điều kiện rộng rãi hay nghiêm ngặt đối với ngân hàng thương mại trong khi thực hiện chiết khấu hay tái chiết khấu nhằm hạn chế hoặc khuyến khích hoạt động tín dụng của ngân hàng thươg mại

Ngân hàng nhà nước có thể hạ thấp hay nâng cao mức lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu

để khuyến khích hay hạn chế ngân hàng thương mại vay mượn ở ngân hàng nhà nước

2 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở được ngân hàng nhà nước tổ chức vào tháng 7 năm 2000 Qua thời gian, nghiệp vụ này trở thành công cụ chính để quản lý tính thanh khoản của ngân hàng (năm 2002 chỉ chiếm 39%, nhưng sang năm 2003 đã chiếm 80%) Thông qua việc mua vào hoặc bán ra trái phiếu, ngân hàng nhà nước có thể làm tăng hoặc giảm dự trữ của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại qua đó có thể mở rộng hay thu hẹp hoạt động cho vay tín dụng

3 Tỉ lệ dự trữ bắt buộc

Từ thập niên 90, công cụ này đã được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau và từng được xem là 1 công cụ quan trọng trong quá khứ Hiện nay, tỉ lệ dự trữ bắt buộc tùy thuộc vào kì hạn của tiền gởi, phân khúc thị trường của ngân hàng thương mại và còn tùy thuộc vào tiền gởi là nội tệ hoặc ngoại tệ

Trang 7

4 Các công cụ khác

o Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất

o Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng nhà nước để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng nhà nước buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế

o Tỷ giá hối đoái: là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước

III Hiệu quả công cụ chính sách tiền tệ ở Việt Nam

1 Tăng trưởng – lạm phát

Kinh tế Việt Nam đã có những bước tăng trưởng mạnh và bền vững suốt trong giai đoạn 1995 – 2009 với tốc độ tăng trưởng trung bình trên 6,5%/năm Đặc biệt trong kế hoạch kinh tế 5 năm giai đoạn 2001 – 2005 nền kinh tế có những bước phát triển mạnh GDP tăng trưởng trung bình trên 7,4%/năm Đây được xem là mức tăng trưởng nhanh nhất của khu vực và của thế giới

Hình 1: Tăng trưởng GDP và mức lạm phát hàng năm của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009

Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng thế giới

Đi kèm với mới tăng trưởng đáng khích lệ là nêu trên là các thành quả về thu nhập bình quân đầu người được nâng lên, và công tác xoá đói giảm nghèo Từ mức 58,1% tỷ lệ nghèo tính trên đầu người (tính theo chuẩn nghèo quốc gia) năm 1993 đến năm 2008, con số này đã giảm xuống còn 14,5% Điều này có nghĩa gần ¾ hộ đói nghèo đã được xoá trong

Trang 8

15 năm Tuy nhiên, Việt Nam tính đến năm 2009, vẫn là một nước thu nhập thấp, và đang bắt đầu chuyển sang một mức mới (trung bình thấp) với mức thu nhập bình quân đầu người ngấp ngưỡng 1000 USD/người (tính theo phương pháp Atlas, Nguồn World bank)

Theo Mishkin (2006), có mối quan hệ mật thiết giữa tăng trưởng kinh tế và mức cung tiền của nền kinh tế, cụ thể thông qua kênh lãi suất và kênh tỷ giá mà thúc đẩy hoạt động đầu tư, tiêu dùng trong nước

Hình 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giai

đoạn 1996 – 2009

Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng thế giới Mức tăng trưởng trung bình của nền kinh tế 7,2%/năm trong suốt giai đoạn 1996 –

2009, cùng với mức lạm phát trung bình khá cao 7,56%/năm Đây là kết quả tất yếu của chính sách tăng trưởng cung tiền trong suốt giai đoạn trên 31%/năm Như vậy cứ tăng 4,1% lượng cung tiền sẽ làm tăng 1% tăng trưởng cho nền kinh tế và tạo ra mức lạm phát tăng 1% năm Ngoài ra, theo Hung (2006), tăng trưởng cung tiền có tác động mạnh đến tăng sản lượng đầu ra (đóng góp đến 44,24% với độ trễ 4 quý) và ít tác động đến việc tăng giá cả trong nước Điều này cũng phù hợp với dữ liệu thực tế Dữ liệu thống kê cho thấy không có mối quan hệ rõ ràng giữa việc tăng trưởng cung tiền và lạm phát Đặc biệt là trong gia đoạn trước khi thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 Trong giai đoạn này, dường như có mối quan hệ nghịch giữa tăng trưởng cung tiền và mức lạm phát Điều này một phần đượclý giải bởi cuộc khủng hoảng tài chính ở Thái Lan năm 1997, sau đó lan ra khu vực và thế giới Một điểm cần lưu ý, trong giai đoạn này nền tài chính Việt Nam chưa mở cửa hội nhập, do

Trang 9

vậy, mặc dù mức tăng trưởng cung tiền rất cao nhưng nền kinh tế vẫn tránh được các tác động của cuộc khủng hoảng và có thể duy trì được tỷ lệ lạm phát vừa phải (thậm chí giảm ở những năm sau đó: Hình 2)

Từ năm 2001 trở về sau, dữ liệu thu thập được cho thấy có mối quan hệ đồng biến giữa tăng mức cung tiền và mức lạm phát Có những thời điểm mức lạm phát tăng nhanh, tăng mạnh như năm 2004, 2008 Đây là những thời điểm nền kinh tế có những cú sốc như thiên tai, thời tiết làm tăng giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm và những biến động của nền kinh tế thế giới (khủng hoảng tín dụng ở Mỹ 2008, giá nhiên liệu, năng lượng tăng cao )

2 Vấn đề đô la hoá nền kinh tế trong nước

Khi quy mô thị trường tài chính mở rộng (M2/GDP tăng), vấn đề đô la hoá ngày càng có xu hướng bị thu hẹp

Hình 3: Thay đổi mức đô la hoá trong tương quan với mức cung tiền của nền kinh tế

Nguồn: World Bank và IFS Ghi chú: tỷ lệ đô la hoá được tính từ tỷ lệ phần trăm của phần tiền gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi trong nước, dữ liệu được tính từ tổ chức tài chính quốc tế (IFS)

Cùng với việc mở rộng thị trường, chính sách tiền tệ đã từng bước tăng dần tính độc lập trong việc điều hành các chính sách vĩ mô của mình Từ mức độ đô la hoá nghiêm trọng trong những năm 1995 – 2000 với mức trên dưới 50% tổng lượng tiền gửi trong nước, đến năm 2010 tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn dưới 22% Để có được sự hiệu quả này, một phần rất lớn là nhờ vào chính sách lãi suất linh hoạt, với các mức lãi suất huy động cho 2 đồng tiền khác nhau (lãi suất huy động VNĐ thường cao hơn lãi suất huy động đồng USD 4-5% tuỳ từng thời kỳ) Đây là một kết quả rất đáng khích lệ nhằm từng bước chuyển dần mối

Trang 10

quan hệ huy động – cho vay ngoại tệ sang mua – bán ngoại tệ (USD) để từ đó xây dựng một thị trường tiền tệ độc lập, hiệu quả

3 Vai trò của Lãi suất trong phát triển kinh tế, ổn định vĩ mô

Lãi suất cơ bản do NHNN Việt Nam công bố không phản ánh mối quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị trường, nó chỉ đóng vai trò tham chiếu cho các NHTM trong hoạt động huy động, cho vay của mình Do vậy, lãi suất không thích hợp được xem là đặc trưng của chính sách tiền tệ Việt Nam

Hình 4: Tăng trưởng cung tiền và thay đổi lãi suất

Nguồn: World bank, IFS

Ở đây, ta thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa mức cung tiền và lãi suất Khi mức cung tiền của nền kinh tế tăng lên thì lãi suất (cả huy động lẫn cho vay giảm xuống) thúc đẩy tăng đầu tư và phát triển kinh tế Trong suốt giai đoạn 1995 – 2005 nền kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng cao, cùng với mức lãi suất chấp nhận được (dưới 10%) Tuy nhiên, cũng theo hình trên trong giai đoạn 2005 trở về sau, ta thấy mối quan hệ này không thể hiện rõ, ngược lại, các lãi suất đều tăng cùng với mức cung tiền tăng Điều này có thể được lý giải do sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, đặc biệt là trong các thị trường Chứng khoán, bất động sản

đã tạo nên các cơn sốt chứng khoán, bất động sản năm 2007 – đầu năm 2008

Theo đồ thị trên, hiệu quả của các công cụ chính sách tiền tệ tỏ ra hiệu quả với việc kiểm soát lạm phát Lạm phát nhìn chung nhìn chung biến đổi theo hướng tích cực dưới tác động của các chính sách nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ Tuy nhiên, ở những thời điểm các thị trường (chứng khoán, bất động sản, đầu tư gián tiếp ) phát triển quá nóng thì việc kiểm soát

Ngày đăng: 07/11/2014, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tăng trưởng GDP và mức lạm phát hàng năm của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 - BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995  2009
Hình 1 Tăng trưởng GDP và mức lạm phát hàng năm của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 (Trang 7)
Hình 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giai - BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995  2009
Hình 2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giai (Trang 8)
Hình 3: Thay đổi mức đô la hoá trong tương quan với mức cung tiền của nền kinh tế - BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995  2009
Hình 3 Thay đổi mức đô la hoá trong tương quan với mức cung tiền của nền kinh tế (Trang 9)
Hình 4: Tăng trưởng cung tiền và thay đổi lãi suất - BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995  2009
Hình 4 Tăng trưởng cung tiền và thay đổi lãi suất (Trang 10)
Hình 5: Mối quan hệ giữa phát triển tín dụng và tỷ giá hối đoái - BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995  2009
Hình 5 Mối quan hệ giữa phát triển tín dụng và tỷ giá hối đoái (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w