1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sâu hại cây lương thực - lúa, bắp, khoai : Sâu hại cây lúa part 2 ppt

5 289 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 182,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại cỏ sau đây được thu thập trong và chung quanh ruộng lúa để thử khả năng tấn công và gây hại của SPM trong điều kiện nhà lưới.. Ảnh hưởng của mực nước ruộng đến sự phát triển mật

Trang 1

3 Đặc tính sinh học và sinh thái của SPM

3.1 Đặc điểm hình thái và vòng đời

Bướm, ấu trùng,

phao gồm 2

miếng lá ghép

lại và triệu

chứng bẹ trên

thân cây lúa non

bị đục

Trứng có dạng tròn hơi dẹp, lúc mới đẻ có màu trắng trong, khi sắp nở thì chuyển sang màu vàng nhạt Trứng SPM được đẻ vào ban đêm Trứng được đẻ thành cụm hoặc thành hàng ở ngay phần bẹ của lá lúa Thời gian trứng từ 4-5 ngày

Ấu trùng SPM có 5 tuổi Sâu mới nở có màu trắng ngà, đầu màu nâu nhạt, dài khoảng 1,5 mm, phât triển từ 5-7 ngày Sang tuổi 2, sâu chuyển dần từ màu trắng ngà sang màu nâu nhạt, phần đầu hơi đậm hơn phần đuôi và dài từ 4-5mm, thời gian phát triển từ 4-5 ngày Tuổi 3, sâu vẫn có màu vàng nhạt, phần đầu vẫn sậm hơn phần đuôi, chiều dài sâu từ 9-10mm, thời gian tuổi 3 từ 3-4 ngày Tuổi 4 của sâu chuyển từ màu trắng ngà sang màu vàng sậm và bóng, mình sâu mập mạp dài khoảng 12-13mm, có thời gian tuổi 4 từ 3-5 ngày Tuổi 5, đầu có màu đen, mình vàng sậm, mập mạp, cứng chắt có chiều dài từ 16-18mm, thời gian tuổi 5 từ 4-5 ngày

Sau khi phát triển đầy đủ, sâu bò xuống sát gốc lúa, nhả tơ dán chặt một đầu phao lại để làm nhộng Nhộng có chiều dài từ 10-12mm, rộng 4mm, lúc đầu có màu trắng ngà, khi sắp vũ hóa thì chuyển sang màu nâu sậm Thời gian làm nhộng từ 6-7 ngày

Trang 2

Thành trùng là loài bướm nhỏ, màu vàng nâu gần giống như sâu cuốn lá nhỏ,

giữa cánh có 2 đốm nâu lớn, cuối cánh có rìa nâu đen viền trắng Con cái có màu nâu

nhạt dài từ 11-12mm và thường có kích thước lớn hơn con đực Con đực có màu đậm,

dài từ 7-8mm và có nhiều vân trắng chay ngoằn ngoèo trên cánh Bướm thường đậu

ở mặt dưới của phiến lá, cánh xếp dạng hình tam giác đều, đặc biệt là đầu luôn quay

ngược xuống phía dưới Các kết quả này cho thấy SPM thuộc họ Pyralidae (Lepidoptera) và chưa thể định danh tới loài do chưa có tài liệu nào công bố

3.2 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Thành trùng thường đậu ở mặt dưới tán của bụi lúa Thành trùng sẽ bắt cặp

sau khi vũ hóa từ 1-2 ngày Từ 2-3 ngày sau khi bắt cặp thành trùng sẽ đẻ trứng

Trứng được đẻ thành hàng trên phần bẹ lá lúa Phao của sâu non là 2 mảnh ghép lại,

dẹp và không chứa nước trong phao như loài Nymphula depunctalis

Sâu non tuổi 1-2 chỉ ăn lá là chủ yếu, nhưng từ tuổi 3 trở đi thì vừa ăn lá vừa

đục vào thân cây lúa, làm lúa chậm phát triển và chết nhanh sau đó

Sâu thường tấn công rất sớm trên những ruộng bị ngập nước

Sâu tuổi nhỏ cạp nhu mô và cắn thủng lá lúa nhiều chổ làm lá lúa bị rách răng

cưa ở 2 bên mép lá, lá lúa dễ bị gãy nằm dài xuống mặt nước Sâu từ tuổi 3 trở đi sẽ

đục vào thân lúa nhiều chổ làm lá lúa bị héo vàng hoặc thân lúa bị chết đọt, lúa bị

lùn, chậm phát triển và sẽ chết nhanh sau đó

Các loại cỏ sau đây được thu thập trong và chung quanh ruộng lúa để thử khả

năng tấn công và gây hại của SPM trong điều kiện nhà lưới Kết quả cho thấy chúng

cũng bị tấn công ở các mức độ khác nhau: Cỏ lồng vực nước (cỏ gạo)

Echinochloa colona, cỏ lồng vực tía nhỏ (E glaberescens), cỏ đuôi phụng (Leptochloa

chinensis), cỏ túc hình nhỏ (Digitaria ciliaris), cỏ túc hình lớn (D setigera), cỏ cú

(Cyperus rotundus) Ngoài ra, trong quá làm thí nghiệm và đi điều tra chúng tôi còn

thấy SPM cũng có thể sinh sống được trên lúa rài, lúa chét và cả lúa cỏ

4 Ảnh hưởng của mực nước ruộng đến sự phát triển mật số

Trước khi điều chỉnh mực nước ruộng, vào 17 ngày sau khi gieo, mật số SPM

đếm được ở các nghiệm thức biến thiên từ 35 đến 39 con/m2, không khác biệt về

phân tích thống kê Vào 3 ngày sau điều chỉnh mực nước (20 NSKS) thì mật số sâu ở

nghiệm thức rút can nước giảm một cách có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác còn

giữ một lớp nước trong ruộng lúa Sự khác biệt này tiếp tục cho đến 29 ngày sau khi

gieo khi không còn sâu phao trong ruộng rút cạn nước trong khi tất cả các nghiệm

thức khác vẫn còn mật số sâu khá cao ( mặc dù có giảm do sâu bắt đầu hoá nhộng)

và không khác biệt có ý nghĩa với nhau

Trang 3

Cũng tương tự, tỉ lệ cây lúa bị SPM gây hại cũng thấp nhất ở nghiệm thức rút cạn nước so với các nghiệm thức khác Giữa các nghiệm thức còn lại thì ở mực nước thấp (2-3 cm) tỉ lệ cây bị hại thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với các mước nước khác sâu hơn Càng về sau thì tỉ lệ cây bị hại giảm thấp dần do cây phục hồi hoặc sâu đã dần hoá nhộng

Kết quả của thí nghiệm này cho thấy SPM thích nghi với điều kiện ruộng bị ngập nước, càng sâu càng thích hợp, và nếu có điều kiện rút cạn nước nhay từ khi sâu mới xuất hiện thì có thể hạn chế được thiệt hại

Diễn biến mật số SPM (con/m2) trong ruộng lúa có điều chỉnh mực nước khác nhau Vĩnh Long, 2002*

Mật số sâu hại ở các ngày sau khi sạ Mực nước ruộng

Xâm xấp nước

2-3 cm

5-10 cm

> 10 cm

Ruộng nông dân

35,80 36,30 38,30 35,20 37,00

22,80 a 34,93 b 36,80 b 36,40 b 36,00 b

6,87 a 32,93 b 38,20 b 37,60 b 33,90 b

2,70 a 32,30 b 34,80 b 38,10 b 34,80 b

0, 00 a 23,80 b 24,10 b 27,10 b 25,93 b

CV(%)

Ý nghĩa F tính

6,20

ns

7,64

**

9,76

**

11,37

**

12,02

**

* Trên từng cột, các số trung bình theo sau bời cùng một chử thì không khác biệt có ý nghĩa theo DMRT

Diễn biến tỷ lệ cây lúa bị SPM tấn công trong ruộng lúa có điều chỉnh mực nước khác nhau Vĩnh Long, 2002*

Tỷ lệ cây lúa bị SPM tấn công ở các NSKS (%) Mực nước ruộng

Xâm xấp nước

2-3 cm

5-10 cm

> 10 cm

Ruộng nông dân

21,0 20,4 20,3 23,8 23,1

15,7 a 27,4 b 46,1 c 48,6 c 43,4 c

3,3 a 41,3 b 63,7 c 72,9 c 63,9 c

0,0 a 44,7 b 73,7 c 88,4 c 67,6 c

0, 0 a 35,1 b 63,5 c 71,1 c 47,9 c

CV(%)

Ý nghia F tính

5,34

ns

6,13

**

11,35

**

7,97

**

11,83

**

* Trên từng cột, các số trung bình theo sau bời cùng một chử thì không khác biệt có ý nghĩa theo DMRT

Trang 4

5 Biện pháp phòng trị

Tránh để nước ngập sâu trong giai đoạn đầu của ruộng lúa để hạn chế sự phát triển mật số của SPM Khi phát hiện sâu gây hại thì nên rút cạn nước trong ruộng ra để hạn chế sự lây lan của sâu, vì khi mực nước trong ruộng lúa càng cao thì sự xuất hiện và gây hại của SPM càng nặng

Các loại thuốc trừ sâu Decis 2,5EC, Pace 75SP, Regent 800WG và Vibasu

40ND, đều có thể phòng trị được đối tượng này Đặc biệt, thuốc Regent 800WG có tính lưu dẫn mạnh, cho hiệu quả cao và nhanh nhất, kế đó là các loại thuốc nhóm lân hữu cơ như Pace 75SP hay Vibasu 40ND Tuy nhiên, đây là những loại thuốc có độc tính cao, có thể tiêu diệt cả các loài thiên địch có ích cũng như các loài thủy sản trên ruộng

BÙ LẠCH (BỌ TRĨ)

- Tên khoa học: Stenchaetothrips oryzae (Bagnall),

còn có tên là Thrips oryzae (Matsumura) hay Baliothrips biformis (Bagnall)

- Họ Thripidae, Bộ Thysanoptera

1 Phân bố Bù lạch xuất hiện ở Afghanistan, Ấn Độ, Burma, Campuchea, Đại Hàn,

Indonesia, Lào, Malaysia, miền Nam nước Nhật, Philippines, Sri - Lanka, Thái Lan và Việt Nam

2 Ký chủ Ngoài lúa, bù lạch còn gây hại cây bắp, cỏ Phalaris, Imperata và nhiều loại

cỏ lá hẹp khác

3 Đặc điểm hình thái và sinh học

Bù lạch rất nhỏ, dài từ 1 - 1,5 mm, màu nâu đen hoặc màu nâu đỏ Hai đôi cánh

hẹp, mang nhiều lông như lông chim trĩ nên còn có tên là “bọ trĩ”, xếp dọc trên lưng

khi nghỉ Thành trùng cái đẻ khoảng 12 - 14 trứng, nhiều nhất là 25 - 30 trứng Đa số bù lạch sinh sản theo phương thức đơn tính, tỉ lệ cái/đực thường rất lớn (trên 95%) Tuổi thọ của thành trùng cái từ 15 - 30 ngày

Trứng hình bầu dục, dài từ 0,20 - 0,25 mm, màu trắng trong, chuyển sang vàng khi sắp nở, thời gian ủ trứng từ 3 - 5 ngày

Ấu trùng có màu vàng nhạt, lớn đủ sức dài khoảng 1 mm, hình dạng giống thành trùng nhưng không cánh Ấu trùng có 4 tuổi, phát triển từ 6 - 14 ngày Trước khi hóa nhộng ấu trùng trải qua thời kỳ tiền nhộng từ 2 - 3 ngày, màu nâu đậm Sau đó sang giai đoạn nhộng từ 3 - 6 ngày

Trang 5

Bù lạch hại lúa Stenchaetothrips oryzae (Bagnall): a.Thành trùng, b Trứng c Âúu

trùng, d Giai đoạn tiền nhộng và nhộng (Theo Reissig và ctv., 1986)

4 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Thành trùng rất linh hoạt, có thể bay một khoảng xa vào ban ngày để tìm ruộng lúa mới Khi bị khuấy động thành trùng thường nhanh nhẹn nhảy đi chỗ khác lẫn trốn hay rơi xuống đất Bù Lạch thích hoạt động vào những ngày trời râm mát hoặc ban đêm, trời nắng thường ẩn trong lá non hay chóp lá cuốn lại Thành trùng cái thích đẻ trứng ở những đám lúa, mạ hoặc cỏ dại xanh tốt

Trứng được đẻ vào lá non nhất, ở mặt đối diện với thân cây lúa, một số ít được đẻ trên lá đã mở Thành trùng cái cắt mô của phiến lá bằng bộ phận đẻ trứng bén nhọn xong đẻ từng trứng vào các vết cắt, trứng chỉ gắn 1/2 vào mô lá

Ấu trùng sau khi nở thường sống tập trung nhiều con trong lá non Khi lá nở ra hoàn toàn, ấu trùng chuyển vào đầu chóp lá non còn cuốn lại Với mật số từ 1 - 2 con trên một cây, chóp lá non có thể bị cuốn; 5 con trên một cây, chóp lá có thể bị cuốn từ

1 - 3 cm và nếu mật số nhiều hơn 10 con trên một cây lá có thể bị cuốn toàn bộ và héo khô Khi lúa đứng cái, lá ngừng phát triển, một số ấu trùng có thể chui vào bên trong hạt

Thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa lá lúa, nhất là lá non Lá lúa bị bù lạch gây hại thường có sọc trắng bạc dọc theo gân, chóp bị cuốn lại và bù lạch sống bên trong chóp lá cuốn lại, trời mát mới bò ra ngoài

Với đặc tính sinh sống là thường ẩn mình trong chóp lá cuốn lại nên bù lạch chỉ thích tấn công trên các ruộng lúa bị khô, lá lúa cuốn lại; nếu ruộng đầy đủ nước, lá lúa mở ra, bù lạch không còn chỗ trú ẩn nên dễ bị chết

Ngày đăng: 24/07/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm