1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế thủy lợi - Chương 8 pot

17 196 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 351,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích hạch toán và phân tích kinh tế nó không giống nhau về mục tiêu, cho nên ý nghĩa của vốn đầu tư, giá cả, hiệu ích công trình, vận hành phí, về mặt ý nghĩa nó cũng có điểm khác b

Trang 1

Chương VIII

Phân tích tài vụ, tính nhạy cảm

lỗ lãi và biến lượng

i phân tích tài vụ (phân tích hạch toán)

1 Chỉ tiêu cơ bản của phân tích tài vụ:

Phân tích tài vụ còn có thể gọi là phân tích hạch toán

Phân tích hạch toán và phân tích kinh tế nó không giống nhau về mục tiêu, cho nên ý nghĩa của vốn đầu tư, giá cả, hiệu ích công trình, vận hành phí,

về mặt ý nghĩa nó cũng có điểm khác biệt

a Vốn đầu tư: Trong phân tích tài vụ vốn đầu tư chỉ xem xét hạch toán

của khoản vốn đầu tư vào công trình đó, mà không xem xét đến nguồn vốn

đầu tư để đưa lại hiệu ích kinh tế cao Phân tích tài vụ là chỉ hạch toán sử dụng nguồn vốn đó như thế nào cho tốt

b Chi phí quản lý vận hành: Trong phân tích tài vụ thì chi phí vận

hành bao gồm chi phí nguyên nhiên liệu, duy tu sửa chữa, chi phí bảo hiểm, thuế khoá Còn trong phân tích kinh tế không có hạng mục thuế và bảo hiểm

c Hiệu ích công trình: Trong phân tích tài vụ, hiệu ích công trình là

phần hiệu ích thu thực tế do công trình đó tạo ra sản phẩm, ví dụ:

- Đối với trạm thuỷ điện: Là phần điện lượng được bán ra cho các hộ tiêu thụ

- Đối với công trình cấp nước: Là tiền thu về từ việc cung cấp nước cho các hộ dùng nước

- Đối với công trình tưới, có đặc điểm riêng nên chỉ tính phần thu thuỷ lợi phí về phần thuế NN được thu tăng thêm do phần tác động của công trình

Trang 2

d Về giá cả: Trong phân tích tài vụ, giá cả được tính theo giá hiện

hành

e Lãi suất: Về lãi suất trong phân tích tài vụ phụ thuộc vào nguồn cấp

vốn

- Do Nhà nước cấp vốn - không tính lãi tức

- Do vay của Ngân hàng thuộc Nhà nước thì lãi suất thu quy định của Nhà nước

- Vốn nước ngoài: Lãi tức tính theo hiệp định được ký kết

2 Đánh giá chỉ tiêu hiệu quả trong hạch toán:

Hiệu quả hạch toán của công trình thuỷ lợi gồm thời gian hoàn trả vốn, suất thu hồi nội bộ, hạch toán chỉ số chi phí về hiệu ích, hạch toán lợi ích thu lợi đầu tư

a Thời gian thu hồi vốn: Chỉ tiêu này phản ánh năng lực hoàn trả vốn

xây dựng công trình Thời gian hoàn vốn của một công trình phải nhỏ hơn thời

gian hoàn vốn quy định của Nhà nước (tuỳ theo loại công trình)

Khi công trình bắt đầu vận hành có hiệu ích, thì hàng năm phải lấy hiệu ích để trả lãi vốn vay, phần còn lại được trả phần vốn gốc

Hàng năm phải tiến hành hạch toán nếu thời gian hoàn trả vốn bé hơn niên hạn quy định đạt theo yêu cầu hạch toán

b Suất thu hồi nội bộ: Suất thu hồi nội bộ của phân tích hạch toán và

phân tích kinh tế là giống nhau Nếu suất thu hồi nội bộ lớn hơn lãi suất vay vốn để quản lý, xây dựng thì về mặt hạch toán là hợp lý

c Tỷ số hiệu ích và chi phí vận hành: Hạch toán phần hiệu ích và chi

phí vận hành lập tỷ số giữa hiệu ích và chi phí Trên nguyên tắc tính toán cũng giống với phân tích kinh tế về phần này

d Tỷ số giữa hiệu ích và vốn đầu tư: Tỷ số giữa hiệu ích và vốn đầu tư

Trang 3

C B

EC= ư

EC: Tỷ số giữa hiệu ích và vốn đầu tư

B : Hiệu ích thu về

C : Vận hành phí (quản lý phí)

K : Vốn đầu tư

Việc hạch toán kinh tế trong quản lý khai thác nó bảo đảm tính thực tế trong xây dựng Nếu dùng phương pháp phân tích tĩnh thì không phản ánh đúng tình hình thực tế Cái chúng ta tưởng là được nhưng thực tế vẫn chưa được

Ví dụ: Dưới đây là 1 thí dụ về phân tích hạch toán để xác định thời gian

thu hồi vốn của một trạm thuỷ điện có 3 tổ máy

- Tổng vốn đầu tư : 36.300 triệu đồng

Vốn vay có lãi suất i = 3%, vay trong 5 năm theo điều kiện vay lãi suất

đơn

Năm thứ nhất vay : 5.000 triệu đồng

Năm thứ 2 : 12.000 triệu đồng

Năm thứ 3 : 12.500 triệu đồng

Năm thứ 4 : 5.300 triệu đồng

Năm thứ 5 : 1.500 triệu đồng

- Năm thứ 4 công trình khai thác tổ máy thứ 1

- Năm thứ 5 công trình xây dựng xong

- Từ năm thứ 6 trở đi công trình hoạt động ổn định

- Lãi suất trong thời gian khai thác i = 6% (lãi suất ghép)

Trong bảng:

Trang 4

Cột 2: Lãi tức (Vốn vay x i %)

Cột 3: Vốn nợ cuối năm (3) = (1) + (2)

Cột 4: Hiệu ích thực: Tiền bán điện sau khi đã khấu trừ chi phí sản xuất

và lợi nhuận Cột 5: Lãi tức của thời kỳ vận hành trạm thuỷ điện

31045 x 6% = 1863 Cột 6: Giá trị phần vốn trả được trong năm

(6) = (4) - (5) Cột 7: Vốn còn nợ ở cuối năm

(7) = (7) năm trước - (6) Qua bảng hạch toán ta thấy: Đến cuối năm thứ 18 còn nợ 2500 triệu

đồng, nhưng sang năm thứ 19 thì do lợi ích thực có thể trả được 3824 triệu >

2500 triệu

Vậy sau khi hoàn trả toàn bộ vốn ở năm thứ 19 còn thừa được 1324 triệu đồng

Như vậy thời gian hoàn trả vốn khoảng T = 18,5 năm

Nếu tính từ khi công trình bắt đầu khai thác thì T = 15,5 năm

Cũng ví dụ trên nếu dùng phương pháp phân tích tĩnh thì thời gian hoàn vốn chỉ khoảng 12 năm (ở năm thứ 12 tính từ khởi công)

Trang 5

Bảng 8.1 Tính toán thời gian thu hồi vốn

Đơn vị tính: Triệu đồng

Giai

đoạn

H.mục

Năm

Vốn

đầu t−

R

Lãi suất

i = 3%

Vốn nợ cuối năm

Hiệu ích thực

Lãi tức

i = 6%

Giá trị vốn

đ−ợc trả

Vốn còn

nợ khi cộng dồn

Giai

đoạn

thi

công

Giai

đoạn

khai

thác

thu

hồi

vốn

đầu

t−

Trang 6

ii phân tích tính nhạy cảm

Khi xây dựng một công trình thì được xác định trên điều kiện cụ thể lúc

đó (từ các số liệu, căn cứ đầu tư ) Nhưng theo thời gian điều kiện hoàn cảnh thay đổi, yêu cầu của xã hội, giá cả sản phẩm thay đổi Khi thay đổi như thế

sẽ kéo theo các chỉ tiêu kinh tế cũng thay đổi Thậm chí có trường hợp chỉ cần

1 yếu tố thay đổi dẫn đến phương án nguyên là hợp lý trở thành bất hợp lý Đó chính là tính nhạy cảm

Mục đích phân tích tính nhạy cảm là xem xét sự thay đổi của các yếu tố chủ yếu, khi có 1 yếu tố nào đó bị thay đổi

Trong thực hiện dự án nêu phân tích tính nhạy cảm để chủ động chọn phương án hợp lý

ở một số nước, người ta đưa vào quy phạm phạm vi thay đổi các yếu tố

để phân tích tính nhạy cảm Ví dụ như:

- Vốn đầu tư phạm vi thay đổi là ± (10 ữ 20%)

- Thời hạn thi công: Sớm hoặc muộn 1 - 2 năm

Các bước thực hiện:

- Phải chọn nhân tố nào ảnh hưởng tương đối lớn đến hiệu ích, vốn đầu tư công trình để phân tích tính nhạy cảm

- Xác định phạm vi ảnh hưởng của nó đến các yếu tố khác

- Từ sự phân tích sẽ có quyết sách trong vấn đề đầu tư

Ví dụ: ở một công trình tưới đã chọn được phương án cơ bản có:

- Vốn đầu tư : 500 triệu đồng

- Hiệu ích bình quân năm : 80 triệu đồng

- Hiệu ích kinh tế : 12,805 triệu đồng

Trang 7

- Chi phí quản lý vận hành : 20 triệu đồng

- Tỷ số hiệu ích chi phí B/C = 1,19

Để phân tích tính nhạy cảm, người ta tính toán cho các trường hợp sau:

+ Vốn đầu tư: Cho tăng 10%, Cho giảm 10%

+ Hiệu ích tưới: Cho tăng 10%, Cho giảm 15%

Cho giảm 20%

+ Vận hành phí Cho tăng 20%, Cho giảm 10%

Sau đó người ta tính các yếu tố khác cho các trường hợp trên (Xem

bảng 8.2)

Qua kết quả tính toán thấy rằng: Tỷ số hiệu ích chi phí và hiệu ích thực

rất nhạy cảm với hiệu ích chung Nếu hiệu ích chung giảm 20% thì

B0 = -3,195 < 0 và B/c = 0,95 < 1

Lúc này phương án coi như bị phủ định

Bảng 8-2 Kết quả tính toán tính nhạy cảm ở công trình tưới

(ĐVT: 10 6 đồng)

Sự thay đổi của vốn đầu tư

Sự thay đổi của hiệu ích tưới

Sự thay đổi của vận hành phí Các chỉ tiêu

(Tính triệu đồng)

Phương

án cơ

bản Tăng

10%

Giảm 10%

Tăng 10%

Giảm 15%

Giảm 20%

Tăng 20%

Giảm 10%

Hiệu ích tưới bình

Hiệu ích thực B0 12,805 80,86 17,53 20,81 0,805 -3,195 8,805 14,805

Tỷ số hiệu ích và

Trang 8

iIi phân tích lãi lỗ

Bất kỳ một đơn vị nhận thầu nào thì vẫn đặt mục tiêu là thu nhiều lợi nhuận Ví dụ khi thầu một công trình thuỷ lợi nào đó, ở đó có thể thi công bằng thủ công và cũng có thể thi công bằng cơ giới Thi công thủ công thì kéo dài thời gian, nhưng đầu tư ít, còn thi công cơ giới thì làm nhanh, hiệu suất cao nhưng đầu tư nhiều Vậy phải phân tích sử dụng cơ giới ở mức độ nào thì

đem lại lãi nhiều nhất

Đối với đơn vị quản lý khai thác cũng phải tìm biện pháp kỹ thuật nào

để có lợi nhất

Đó chính là vấn đề phân tích lãi lỗ Việc đầu tư nghiên cứu phân tích lãi

lỗ là giá thành sản phẩm

1 Khái niệm về giá thành:

a Giá trị cố định thực hiện sản phẩm F:

Giá trị cố định thực hiện sản phẩm là phần chi phí tính vào giá thành, phần chi phí này đã được quy định, dù sản phẩm làm ra nhiều hay ít thì đơn vị quản lý cũng phải chi ra

Ví dụ như: - Chi phí khấu hao cơ bản

- Khấu hao thiết bị máy móc

- Chi phí hành chính sự nghiệp

Phần chi phí này là chi phí đã được cố định phải tính vào giá thành sản phẩm, nên phần này gọi là giá thành cố định

b Chi phí khả biến thực hiện sản phẩm (Vx)

Giá trị khả biến là phần chi phí có liên quan đến số lượng sản phẩm bao gồm nguyên nhiên liệu, tiền lượng công nhân Nếu muốn có sản phẩm nhiều thì phải có tiền lương cho công nhân làm nhiều, phải có nhiều nguyên nhiên liệu và ngược lại

Trang 9

c Tổng giá trị thực hiện sản phẩm C:

Tổng giá trị C là bao gồm có

giá trị cố định và giá trị khả biến

C = F + Vx Trong công thức trên x là số

lượng sản phẩm từ công thức trên ta

có thể xác định F và C như sau:

V =

1 2

1 2 C x

C C

ư

ư

F = C1 - Vx1 hoặc F = C2 - Vx2

Trong nhiều trường hợp quan

hệ giữa giá chi phí và sản lượng là

quan hệ phi tuyến theo dạng

C = Cx2 + bx + a

d Giá thành bình quân:

Giá thành bình quân xác định theo công thức:

x

Vx F x

C

e Giá trị tăng lượng:

Giá trị tăng lượng tức là phần gia tăng của tổng chi phí khi sản xuất tăng thêm 1 đơn vị sản phẩm

- Đối với quan hệ tuyến tính nó chính là V

- Đối với quan hệ phi tuyến là:

cx 2 b dx

) cx bx a ( d dx

F

Vx

C2 C1 F

Chi phí thực hiện sản phẩm

Sản phẩm

Giá

thành

x Sản phẩm

a + bx + cx2

Trang 10

Giá trị tăng lượng là một khái niệm cần thiết để phân tích lãi lỗ trong xây dựng và sản xuất

Ví dụ: Có 1 đơn vị đến đặt hàng cho xưởng bêtông cấu kiện yêu cầu

sản xuất cho họ 2400 sản phẩm với giá 100.000 đồng cho 1 sản phẩm Sau đó

họ đặt mua tiếp thêm 600 sản phẩm nữa, nhưng họ đề nghị với giá 80.000đ/ sản phẩm Như vậy xưởng bêtông phải hạch toán mới quyết định có bán thêm

600 sản phẩm đó hay không?

Qua hạch toán:

- Nếu chỉ sản xuất 2400 sản phẩm thì giá thành xuất xưởng là 85.000đ/ sản phẩm

- Nếu sản xuất (2400 + 600) = 3000 sản phẩm thì giá thành xuất xưởng

là 81.000đ/cái

Nếu phán đoán đơn thuần thì thấy giá 80.000đ/sản phẩm là không thể bán được Nhưng nếu phân tích về tăng lượng thì thấy rằng việc bán thêm 600 sản phẩm là có lợi, bởi vì:

- Nếu chỉ bán 2400 sản phẩm thì chi phí thực hiện là:

2400 x 85000 = 204 triệu đồng

- Nếu bán 3000 sản phẩm thì chi phí thực hiện là:

3000 x 81000 = 243 triệu đồng

- Do tăng thêm 600 sản phẩm nên chi phí phải tăng là:

243 - 204 = 39 triệu đồng

- Như vật giá trị tăng lượng là:

=

600

39000000

= 65000 đ/sp

- Phần lợi nhuận của một sản phẩm là:

80000 - 65000 = 15000 đ/sản phẩm

Trang 11

Phần lợi nhuận này cũng bằng phần lợi nhuận bán 2400 sản phẩm tức là:

100000 - 85000 = 15.000đ/sản phẩm

Do đó việc phân tích tăng l−ợng là một việc làm rất cần thiết trong phân tích hạch toán kinh tế

2 Phân tích lãi lỗ:

Trong một đơn vị sản xuất (hoặc quản lý), nếu số thu nhiều hơn chi thì

có lãi Số thu ít hơn số thu thì bị lỗ

Gọi P là lợi nhuận của xí nghiệp

R : Hiệu ích hạch toán thu về

C : Chi phí sản xuất

P = R - C Hiệu ích thu về R đ−ợc tính theo giá thành bán sản phẩm:

R = r x

r : Giá bán sản phẩm

x : Số l−ợng sản phẩm Phần tổng chi phí sản xuất

C = F + Vx Biểu diễn C = f(x)

Và R = f(x) là trục toạ độ sẽ tìm

đ−ợc điểm A tại vị trí x = x0, ở đó P = 0

(tức chi phí bằng hiệu ích)

Điểm x = x0 là điểm cân bằng lãi lỗ Qua đó ta thấy:

- Quy mô của xí nghiệp phải đủ lớn thì số sản phẩm sản xuất v−ợt quá

C R'

x

C = F + Vx

x0

R = r x

A

Trang 12

- Nhưng nếu xí nghiệp quá lớn do sản xuất nhiều sản phẩm cần nguồn nhiên liệu lớn, hoặc thời gian làm việc trong ngày của công nhân cũng phải tăng, hoặc sản phẩm quá nhiều sẽ đưa đến mất cân bằng giá bán sẽ bị hạ Do

đó cần phải xem xét một cách cẩn thận

Quy mô sản xuất của 1 xí nghiệp

nó chỉ nằm ở một vùng hợp lý nhất định

Trường hợp theo hình vẽ bên thì

quy mô hợp lý là:

x0 < x < x'0

Iv phân tích biến lượng (marginal analyis)

1 Khái niệm:

Phân tích biến lượng là một phương pháp phân tích kinh tế thường dùng

để đưa vào xem xét quyết sách kinh tế Biến lượng chi phí sản xuất chính là độ dốc của đường cong tổng chi phí, nó biểu thị sự gia tăng của chi phí khi sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm Biến lượng hiệu ích là sự gia tăng của hiệu ích kinh tế khi đầu tư thêm 1 đơn vị

Như vậy biến lượng chính là đạo hàm của hàm số tổng chi phí hoặc hiệu ích biến lượng được biểu thị như sau:

MC =

x

y

hoặc MC =

dx dy

y = f(x) là hàm số chi phí hoặc hàm số hiệu ích

a Biến lượng chi phí:

Ví dụ: Ta lập được quan hệ giữa

dung tích hồ (tính theo triệu m3) và vốn

đầu tư xây dựng và chi phí vận hành

như hình vẽ

Chi phí (triệu

đồng)

Dung tích hồ W (triệu M 3 )

∆x ∆y

∆ y

∆x A

TC

Đường biến lượng chi phí MC

Đường cong tổng chi phí

x

x0

R = f(x)

x'0

C = f(x)

Vùng quy mô sản xuất hợp lý

C R

Trang 13

Qua đường cong TC = f(w) tức y = f(x), thấy rằng cùng tăng thêm một triệu m3, nhưng có vị trí chi phí tăng thêm nhiều hơn, có chỗ ít hơn Tuỳ theo

đặc điểm xây dựng mà độ dốc đường cong khác nhau

Biến lượng chi phí MC =

x

y

hoặc

dx

) x ( df

= f'(x)

Qua đường cong MC ta thấy tại điểm A đạt trị số nhỏ nhất Từ kết quả quả này giúp cho các cấp hữu quan quyết định phương án đầu tư

b Biến lượng hiệu ích:

Biến lượng hiệu ích

được xác định trên đường

cong quan hệ giữa hiệu ích

với chỉ tiêu tạo ra hiệu ích Ví

dụ giữa mức tưới và năng suất

cây trồng

Nếu tăng thêm 1000m3 nước tưới ở vị trí x bé thì năng suất tăng khá cao, nhưng nếu để tăng thêm mức độ nào đó, thì nước tưới ảnh hưởng ít đến năng suất cây trồng

M =

x

y

= f'(x)

Biến lượng hiệu ích càng lớn thì càng có lợi

2 ứng dụng phân tích biến lượng trong tính toán kinh tế thuỷ lợi:

a Cân bằng chỉ tiêu biến lượng để chọn phương án:

Chi phí và hiệu ích nó sẽ biến đổi tuỳ theo quy mô công trình Chọn công trình được chọn là công trình có hiệu ích lớn nhất Ngưới ta thường dùng phương pháp phân tích biến lượng để chọn phương án

Ví dụ: Ta có quan hệ chi phí và hiệu ích của hồ chứa nước như hình

103

y Năng suất (T/ha)

∆N ∆N

Mức tưới (m3/ha)

Trang 14

B = f(v)

Và tiếp tuyến là: MB và MC

Khi MB = MC thì tìm được

dung tích hồ chứa V , cho hiệu ích

lớn nhất

b Chọn phương án khi

dx

dy

= 0:

Trong khi chọn phương án xây dựng công trình có thể xảy ra 2 trường hợp:

- Hai phương án có hiệu ích như nhau, thì phân tích để chọn phương án

có chi phí nhỏ nhất

- Hai phương án có chi phí như nhau, thì phân tích để chọn phương án

có lợi ích nhất

Nếu chi phí và hiệu ích được biểu diễn dưới dạng hàm số tương đối giản

đơn và không có thêm điều kiện ràng buộc nào, thì người ta thường dùng

phương pháp

dx

dy = 0 để chọn phương án

Ví dụ: Để chọn 1 phương án phòng lũ cho hạ lưu với tần suất lũ P =

1%, người ta chọn 2 biện pháp đã thực hiện

- Biện pháp I: Xây 1 kho nước phòng lũ ở thượng lưu sông, để giữ 1

phần nước lũ khi lũ cao

- Biện pháp II: Xây dựng đê sông để bảo vệ thành phố và khu công

nghiệp Đê này có nhiệm vụ ngăn phần lưu lượng ở hồ chứa không trữ hết phải xả xuống hạ lưu

(triệu m3)

B

C (Triệu

đồng)

V0

đường chi phí

C ~ V

đường quan hệ hiệu ích

B ~ V

MB

MC

Ngày đăng: 24/07/2014, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 8.1 Tính toán thời gian thu hồi vốn - Kinh tế thủy lợi - Chương 8 pot
Bảng 8.1 Tính toán thời gian thu hồi vốn (Trang 5)
Bảng 8-2. Kết quả tính toán tính nhạy cảm ở công trình t−ới - Kinh tế thủy lợi - Chương 8 pot
Bảng 8 2. Kết quả tính toán tính nhạy cảm ở công trình t−ới (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN