Cây mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngọt, hệ số tiêu hoá cao là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ
Trang 1Cỏ Ruzi có thể sử dụng làm thức ăn xanh, cỏ khô hay cỏ ủ chua ựều tốt Cắt lứa ựầu 60 ngày sau khi trồng, các lứa sau cắt cách nhau 40 ngày Thu hoạch bằng cách cắt cao 5-10 cm cách mặt ựất và cắt sạch
1.1.2.4 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)
Cỏ lông Para là loài cỏ lâu năm thân có chiều hướng bò, có thể cao tới 1,5m Thân và lá ựều có lông ngắn Cánh cứng to rỗng ruột, ựốt dài 10-15cm, mắt 2 ựầu ựốt có màu trắng xanh Các mắt ở ựốt có khả năng ựâm chồi và rễ dài, lá dài ựầu nhọn như hình tim ở gốc Bẹ lá dài, lưỡi bẹ ngắn
Cỏ lông Para ưa khắ hậu nóng ẩm, phát triển rất mạnh ở chỗ ựất bùn lầy, chịu ựược ựất ngập nước chứ không chịu ựược khô hạn, là cây cỏ phổ biến ở hầu hết các vùng ựất không thoát nước và ngập úng
Năng suất xanh của cỏ lông Para ựạt 70-80 tấn/ha/năm, có nơi ựạt 90-100 tấn/ha/năm Cỏ lông Para có khả năng phát triển tốt vào vụ đông-Xuân nên nó chắnh là cây hoà thảo trồng cung cấp thức ăn xanh cho gia súc vào vụ này rất tốt
Lá cỏ Para có tắnh ngon miệng cao cho gia súc song phần thân và cỏ già tắnh ngon miệng giảm rõ rệt Giá trị dinh dưỡng của cỏ cao, giá trị CP diễn biến từ 14-20% và IVDMD từ 65-80% ở lá và 55-65% ở phần cành ngọn, giá trị này giảm xuống chỉ còn 35-45% ở ngọn già
Cỏ lông Para không chịu ựược giẫm ựạp do vậy chỉ nên trồng ựể thu cắt làm thức ăn xanh cho ăn tại chuồng hay ủ chua, cắt lứa ựầu 45-60 ngày sau khi gieo, các lứa sau cắt cách nhau 30-35 ngày, cắt 5-10 cm cách mặt ựất Cỏ trồng 1 lần có thể sử dụng ựến 4-5 năm
1.1.2.5 Cỏ Pangola (Digitaria decumbens)
Cỏ Pangola là loài cỏ hoà thảo lâu năm, cây thấp, có hướng ựổ rạp, thân cành nhỏ (0,2-0,3 cm) và bò ựan vào nhau tạo thành thảm Ở các ựốt thân, nhất
là các thân bò có vòng lông màu trắng xanh hay phớt tắm, lá cỏ xanh mượt và mềm, dài khoảng 6-7cm và rộng 0,6cm Mỗi nhánh có khoảng 10-12 lá Lá có lưỡi thìa chứ không có lông như các loài thuộc Cynodon (cỏ gà) Tỷ lệ thân và
lá tùy thuộc vào tuổi thu hoạch Nhìn chung, tỷ lệ lá giảm dần theo tuổi Tỷ lệ thân và lá lúc thu hoạch khoảng 60-70% và 30-40%
Trang 2Cỏ Pangola có biên ñộ sinh thái rộng Nhiệt ñộ lạnh (5-60C) và nóng
420C không bị tổn thất Nhiệt ñộ dưới 220C phát triển chậm và dưới 120C có thể ngừng phát triển Cỏ Pangola thích hợp với những vùng có lượng mưa khoảng 1000mm/năm Nó có thể chịu ẩm và ñất ngập nước tạm thời, mẫn cảm với sương muối Phát triển tốt trên nhiều loại ñất, từ ñất cát nghèo dinh dưỡng ñến ñất sét nặng Năng suất chất xanh của cỏ ñạt 60-80 tấn/ha/năm
Giá trị dinh dưỡng phụ thuộc rất lớn vào tuổi thu cắt, dinh dưỡng của ñất
và giống Hàm lượng CP nằm trong khoảng 9-14%, có thể lên tới 20% Giá trị IVDMD khoảng 45-70% Cỏ Pangola có hàm lượng Na cao khi so sánh với nhiều loại cỏ nhiệt ñới khác
Cỏ Pangola có thể sử dụng cho ñồng cỏ chăn thả hay cắt làm cỏ khô ñể
dự trữ Cắt lứa ñầu 80 ngày sau khi gieo, các lứa sau cắt cách nhau 50-60 ngày
1.1.2.6 Cỏ Setaria (Setaria sphacelata)
Giống cỏ họ hòa thảo lưu niên, thân bụi mọc thẳng ñứng, có ñộ cao ở mức trung bình Giống ñược lựa chọn cho vùng lạnh, ñất xấu, ngập úng tạm thời và hơi chua phèn Lá mềm và ñộ ngon miệng cao ở cả lá và thân Tất cả ñối tượng gia súc rất thích ăn (kể cả lợn) Tuy vậy, không nên dùng cho ngựa Trồng ñể thu cắt là chính, tuy nhiên có thể chăn thả nhẹ
Năng suất chất khô hàng năm ước tính từ 4-24 tấn/ha, phụ thuộc lớn vào
ñộ màu mỡ của ñất, phân bón và ñộ ẩm
Giá trị dinh dưỡng của cỏ Setaria: 1,36%N (8,5%CP), 0,33%P, 4,94%K; 0,20%Ca, 0,06%Na; 0,18% Mg ở cỏ có thời gian sinh trưởng 5 tuần
Hàm lượng ñộc tố Oxalate từ 4,5-6,7% trong chất khô ở cỏ 3 tuần tuổi
Vì hàm lượng Oxalate cao nên có thể là nguyên nhân dẫn ñến bệnh “ñầu to”
(Osteodystrophia fibrosa) ở ngựa và bệnh “sốt sữa”(Milk fever, Hypocalcaemia) vì làm giảm can xi huyết Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng làm
giảm ñộc tố Oxalate khi ñược ăn cỏ Setaria một cách từ từ
Khả năng sản xuất hạt kém, nhân giống dễ dàng bằng thân gốc
Cỏ có thể ñược bảo quản bằng cách phơi khô hoặc ủ chua
Các giống có triển vọng là Lampung, Nandi, Narok, Solander và
Splendida
Trang 31.1.2.7 Cỏ VA-06 (cỏ mắa)
Cỏ VA-06 (cỏ mắa) là tên viết tắt của tổ chức Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam (VARISME) nhập giống cỏ về nước năm 2006 (đào Lệ Hằng, 2007) VA-06 là dòng lai giữa giống cỏ voi và
cỏ ựuôi sói của châu Mỹ và ựược ựánh giá là vua của các loài cỏ Ngày 05/09/2007, Hội ựồng KHCN - Bộ NN và PTNN ựã ựánh giá tầm quan trọng của giống cỏ VA-06, coi ựây là một itến bộ kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao Hiện nay, giống cỏ này ựã ựược nhân rộng nhiều vùng sinh thái trong cả nước
đặc ựiểm
Cỏ VA-06 có hình dáng như cây trúc, thân thảo, cao lớn và dạng bụi Cây mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngọt, hệ số tiêu hoá cao là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ Cỏ VA-06 có tốc ựộ sinh trưởng nhanh, tái sinh mạnh, quanh năm Cây có thể cao 6m, ựường kắnh thân 2 Ờ 4cm, ựẻ khoẻ, một cây có thể cho từ 35 Ờ 60 nhánh Trồng ở TP Hồ Chắ Minh, ựường kắnh thân ở lứa cắt ựầu ựạt 1,97cm và tại vụ 1 ựạt 1,64cm; chiều cao sau 120 ngày trồng trung bình 2,93m và ở vụ 1 thu họach lúc 35 ngày, chiều cao 1,62m Hệ
số nhân giống ựến 500 lần sau một năm Bộ rể phát triển khoẻ, có thể dài 3 Ờ 5m, chịu hạn tốt VA-06 là loài thực vật C4 có khả năng quang hợp rất mạnh
Loài cỏ trồng ắt sâu bệnh, ựôi khi cũng bị bệnh thán thư, phấn trắng, sâu xám, sâu ựục thân hại mầm non, thân Biện pháp phòng trừ chủ yếu là giữ vườn cỏ thông thoáng hoặc dùng các biện pháp sinh học
Kỹ thuật trồng
Giống VA06 có thời gian ựẻ nhánh sớm, có sức sống khá mạnh, thắch nghi tốt với ựiều kiện trồng thâm canh Giống cỏ này trồng ựơn giản, chỉ việc tách chồi, hoặc cắt mắt ựể trồng Về cơ bản, trồng VA-06 giống với trồng cỏ voi Nhưng, do tốc ựộ sinh trưởng của cỏ này rất mạnh và khả năng tái sinh cao nên trồng thưa hơn: khoảng cách: 35cm x 65cm
Lượng phân phải nhiều hơn, bón lót cần: 500 - 700kg phân chuồng, 50
- 100kg lân, sau mỗi lần cắt cần bón thêm mỗi gốc 10g phân urê, lượng nước tưới cũng cần nhiều hơn, ựặc biệt phải ựịnh kỳ vun gốc ựể tránh ựổ
Trang 4được trồng trong mùa mưa, làm ựất kỹ, bón lót phân hữu cơ ựầy ựủ nên cây bén rễ tốt, phát triển nhanh thời gian ựẻ nhánh sớm, tạo nên ruộng trồng có
ựộ ựồng ựều cao Sau thu họach xới xáo, bón phân tưới nước
Năng suất
Trồng thử nghiệm ở một số tỉnh phắa Bắc cho thấy, khoảng 110 ngày sau trồng là có thể thu hoạch lần ựầu Các lần thu hoạch sau 35 - 40 ngày/lứa cắt Năng suất ựạt trung bình 50 Ờ 70tấn/ha/lần cắt Năng suất chất xanh có thể ựạt 500 tấn/ha/năm
Khả năng lưu gốc khá lâu 6 -7 năm, từ năm thứ 2 ựến năm thứ 6, là thời
kỳ cho năng suất cao nhất Hàng năm có thể thu hoạch ựược 8 Ờ 10 vụ
Chú ý: ựây là loại cây cần nước, nếu không tưới ựủ nước thì năng suất rất thấp
nhám của lá thấp, vì vây, gia súc thắch ăn loại cỏ này
Ngoài ra, VA-06 có thể dùng làm nguyên liệu giấy, làm gỗ ván nhân tạo, trồng nấm ăn và nấm dược liệu
Cỏ VA-06 có hàm lượng protein cao hơn nhiều giống cỏ hòa thảo ựang trồng phổ biến ở nước ta đó là ưu ựiểm lớn về giá trị dinh dưỡng Thành phần hóa học ựược trình bày ở bảng 5.1
Bảng 5.1 Thành phần hóa học của cỏ VA-06 tái sinh 35 ngày tuổi (%)
16,39 12,87 (11,16-14,7) 41,00 23,12
8,39
Nguồn:http://www.nongthon.net/apm/
1.1.2.8 Cây ngô (Zea may)
Ngô thuộc họ hoà thảo, là loại cây lương thực quan trọng ựứng hàng thứ hai sau lúa Cây ngô cũng là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia súc Ngô
là loại cây trồng không có khả năng chịu hạn hay ngập nước Khi gieo ngô ựể
Trang 5lấy cây thức ăn gia súc cần phải gieo dày hơn so với ngô dùng lấy hạt (lượng hạt ngô giống lớn hơn từ 10 ñến 15% Tức là, lượng hạt sử dụng khoảng 70kg cho một hecta hoặc 2,5kg cho một sào) và cần chọn giống ngô có chu kỳ thực vật ngắn, có khả năng thích ứng và chống chịu với các ñiều kiện ngoại cảnh,
có tổng khối lượng vật chất trên một ñơn vị diện tích lớn Năng suất chất xanh của ngô có thể ñạt 35-40 tấn/ha/vụ
Cây ngô có tính ngon miệng cao ñối với gia súc cả ở dạng xanh, ủ chua
và phơi khô Ngô ủ chua rất ngon miệng ñối với gia súc kể cả khi không có thức ăn bổ sung Cây ngô ủ chua có giá trị năng lượng cao (9-12 MJ ME/kgVCK), song hàm lượng protein thô lại thấp (7-8%) Tỷ lệ tiêu hoá ngô
ủ chua tăng lên bằng việc bổ sung u rê và rỉ mật Thân ngô già hàm lượng protein thấp 3,5 - 4%, vì vậy khi sử dụng cho gia súc chú ý bổ sung thêm nguồn thức ăn giàu protein Thân ngô ủ với u rê hàm lượng protein thô có thể ñạt 8-10% hoặc có thể ñạt 10-14% bằng việc bổ sung thêm cỏ họ ñậu chất lượng cao
Cho gia súc ăn ngô cả bắp với lượng nhiều có thể gây hội chứng axit dạ
cỏ, do quá trình lên men trong dạ cỏ nhanh, tạo nhiều axit lactic
Cây ngô có thể thu hoạch 80-90 ngày sau khi trồng ñể cho bò ăn xanh hay làm thức ăn ủ xanh
1.1.2.9 Cỏ Stylo (Stylosanthes guianensis)
Cỏ Stylo là loại cây bộ ñậu, lưu niên, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt ñới
Cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giàu ñạm ñể bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho bò Cỏ có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, có thể vừa gieo bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt ñộ không khí trong khoảng 20-350C Khi nhiệt ñộ dưới 50C hay trên 400C cây phát triển kém Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại cây chịu ñược khô hạn, không chịu ñược ñất bị úng ngập ðộ ẩm không khí thích hợp là 70-80%
Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại ñất, ngay cả
ở vùng ñất ñồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao nó còn ñược trồng ñể cải tạo và che phủ ñất, chống xói mòn
Trang 6Năng suất xanh ñạt 40-50 tấn/ha/năm
Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo khá cao, ñặc biệt là hàm lượng protein Giá trị CP khoảng 12-20%, IVDMD từ 52-60%, 0,2-0,6% P và 0,6 -1,6% Ca Thu hoạch cỏ Stylo lứa ñầu khoảng 3 tháng sau khi trồng, tức là lúc cỏ cao khoảng 60cm và thảm cỏ che phủ kín ñất Khi cắt lần ñầu nên cắt cách mặt ñất 10-20cm Cỏ dễ bị chết nếu cắt sát gốc do ñiểm tái sinh của các chồi non thường tập trung ở phần cao hơn Thu hoạch các lứa tiếp theo cứ sau 2-2,5 tháng, lúc cây cao 35-40cm Những lần cắt sau nên cắt ở ñộ cao hơn (>25cm)
ñể ñảm bảo việc tái sinh Chu kỳ kinh tế 4-5 năm
1.1.2.10 Cây dâu (Morus alba)
Cây Dâu ñược trồng nhiều nơi trên ñất nước ta không những là nguồn thức ăn của tằm mà còn là nguồn thức ăn tốt cho gia súc, gia cầm Cây dâu là
có khả năng phát triển tốt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau và ít bị bệnh Lá
và cành non cây dâu có hàm lượng dinh dưỡng cao, không có ñộc tố Hàm lượng protein thô từ 19,1 - 24,3 % ở lá và 20,0 - 23,2% ở cành non Hàm lượng protein tương ñương với các cây họ ñậu (cỏ Stylo), hàm lượng xơ trung tính (NDF) và xơ axít (ADF) thấp so với các cây thức ăn giàu ñạm khác Thành phần amino axit thiết yếu chiếm hơn 46% tổng amino axit Lượng canxi, phốt pho ở trong lá lần lượt là 1,6-2,8% và 0,32 - 0,6%, trong lá và cành non lần lượt là 1,6 - 2,8 và 0,33- 0,6% Thành phần các loại khoáng trong lá dâu và cành non cũng chịu ảnh hưởng bởi các giống và chế ñộ phân bón khác nhau Trong lá dâu hàm lượng tannin thấp, không làm ảnh hưởng lớn ñến quá trình phân giải chất khô trong dạ cỏ
Lá dâu là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị cho gia súc (trâu, bò,
dê, cừu, lợn) Dâu có thể sử dụng ở dạng tươi, khô hoặc ủ chua Lá dâu có hàm lượng hydratcarbon cao và hàm luợng xơ thấp nên có thể ủ chua mà không cần chất phụ gia, tuy nhiên, có thể ủ với rỉ mật 5% hoặc cám gạo 5%
Dê, bò rất thích ăn lá dâu ủ chua
Các kết quả ñánh giá ñược triển khai trên bò, dê và cừu cho thấy, bổ sung
lá dâu ñã làm tăng lượng ăn vào và tăng sức sản xuất (tăng trọng, sản lượng sữa) của gia súc Tỷ lệ tiêu hóa của lá dâu khá cao và nên bổ sung vào khẩu phần thức ăn giá trị thấp Vì vậy, lá dâu ñược thay thế cho thức ăn tinh ở bò
Trang 7sữa cho kết quả tốt Năng suất sữa không bị ảnh hưởng khi thay 75% thức ăn tinh bằng lá dâu Bò ñực ăn khẩu phần cơ sở là cỏ voi bổ sung lá dâu theo tỷ lệ 1,71 và 2,11% theo khối lượng cơ thể, mức tăng trọng tương ứng là 940 và
950 g/con/ngày Nuôi dê sữa bằng lá dâu và cỏ voi thì sản lượng sữa tăng từ 2,0 ñến 2,5 kg/con/ngày khi mức bổ sung tăng từ 1,0 ñến 2,6% so với khối lượng cơ thể Hàm lượng chất khô, protein và mỡ sữa tăng chút it khi tăng lá dâu
Lượng lá dâu trong khẩu phần ăn của trâu bò, dê, cừu nên ở mức 20-40% tính theo chất khô khẩu phần
1.1.2.11 Cây chè khổng lồ (Trichanthera gigantea)
Cây chè khổng lồ thuộc họ Acanthaceae và phụ họ Acanthoideae, có nguồn gốc từ chân ñồi Andean, Colombia và cũng có thể tìm thấy nhiều nơi trên thế giới ở dọc suối hoặc vùng ñầm lầy từ Costa Rica ñến Nam Mỹ Cây
Trichanthera gigantea phát triển tốt ở nhiều vùng sinh thái khác nhau của Việt
Nam, cho ñến nay ñã nhân rộng ra nhiều tỉnh ở nước ta và ñược người dân
chấp nhận do khả năng chống bệnh và côn trùng cao Cây Trichanthera gigantea có khả năng phát triển dưới tán cây, nên rất phù hợp với mô hình
canh tác hỗn hợp
Cây Trichanthera gigantea có thể ñược thu hoạch lần ñầu sau khi trồng
khoảng 8-10 tháng, cho sản lượng 15,6 ñến 16,7 tấn chất tươi/ha/lần cắt, với mật ñộ trồng 40000 cây/ha (0,5 X 0,5 m) Giá trị dinh dưỡng của lá cây
Trichanthera gigantea cho gia súc khá cao Hàm lượng protein thô trong
khoảng 15 - 22 % và hầu hết là protein thực, hàm lượng can xi cao hơn so với
các loại cây thức ăn khác Tuy vậy, tính ngon miệng của cây Trichanthera gigantea ñối với trâu bò không cao, ñối với dê, cừu ở mức trung bình, vì vậy
khi sử dụng cho gia súc nên dùng làm thức ăn bổ sung và trộn với các loại thức ăn khác
1.1.2.12 Cây dâm bụt (Hibiscus rosasinensis L.)
Cây dâm bụt thuộc họ Malvacae là cây trồng ñược sử dụng làm hàng rào
sống và là nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại có giá trị Dâm bụt có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt ở nhiều loại ñất khác nhau, ñặc biệt là có khả năng chịu hạn trong mùa khô ở khu vực miền Trung Dâm bụt có hàm lượng protein khá cao (17- 20%) và có tính ngon miệng cao ñối với gia súc nhai lại Cây có
Trang 8thể trồng bằng cành, nên rất dễ phát triển trong ñiều kiện nông hộ Năng suất phụ thuộc rất nhiều yếu tố, có thể ñạt 50-60 tấn/ha/năm nếu trồng với mật ñộ cây (0,3 x 1 m) Có thể cắt ñược 5-6 lứa/năm
Lá và cành non dâm bụt có thể sử dụng ở dạng tươi cho gia súc hoặc ủ chua Phương pháp ủ chua rất ñơn giản do trong lá dâm bụt có hàm lượng carbohydrates hoà tan cao nên không cần chất phụ gia, cũng có thể cho thêm 3-5% rỉ mật ñể tăng tính ngon miệng cho gia súc Chỉ cần chặt ngắn, phơi héo
và ủ yếm khí Ủ trong túi ni lông hoặc trong hố
Lượng lá dâm bụt tươi hoặc ủ trong khẩu phần gia súc nhai lại nên khoảng 20-40% Lá dâm bụt ñược xem là nguồn thức ăn bổ sung protein và carbohydrate hoà tan cho gia súc nhai lại Bổ sung lá dâm bụt cho gia súc khi nuôi bằng khẩu phần giàu xơ, nghèo dinh dưỡng ñã làm tăng quá trình phân giải, sinh tổng hợp protein vi sinh vật dạ cỏ
Kết quả phân tích thành phần hoá học và tỷ lệ tiêu hóa của cây dâu, dâm bụt và cây chè khổng lồ ñược trình bày ở bảng 5.2 và bảng 5.3
Bảng 5.2 Thành phần hoá học của các loại thức ăn (% VCK)
Nguồn: Nguyễn Xuân Bả (2006)
Bảng 5.3 Tỷ lệ tiêu hóa in vivo các loại thức ăn (%) trên cừu và dê
Tỷ lệ tiêu hóa in vivo
Loại thức ăn
Trang 9Lá và cành non dâm bụt 62,3 65,8 79,9
Nguồn: Nguyễn Xuân Bả (2006)
1.1.2.13 Cây keo dậu (Leucaena leucocephala)
Keo dậu là cây bụi, bộ ñậu có khả năng cố ñịnh ñạm, ñược coi là nguồn thức ăn tuyệt vời cho gia súc ở vùng nhiệt ñới Ở nước ta cây keo dậu ñã phát triển ở nhiều vùng khác nhau Tuy vậy, chúng chỉ phát triển tốt trên ñất trung tính hơi chua (pH = 6-7) Nhiều kết quả nghiên cứu ở nước ta cho biết năng suất keo dậu ñạt khoảng 50 tấn chất xanh/ha/năm Ưu ñiểm lớn của lá keo dậu làm thức ăn cho gia súc là hàm lượng protein cao (>20%) và giàu caroten Trong lá cây keo dậu có chất ñộc ñối gia súc, gia cầm ñó là mimosine, do vậy khi sử dung cho trâu bò không nên vượt quá 30% khẩu phần, cho dê, cừu không quá 50%, cho gia cầm không quá 5% và cho lợn không quá 10% Sử dụng lá keo dậu cho trâu bò có thể cho ăn tươi kết hợp với các loại thức ăn xơ thô khác, hoặc là làm bột keo dậu trong thành phần của bánh ña dinh dưỡng
1.2 Nguồn phụ phẩm giàu xơ từ trồng trọt
1.2.1 Rơm rạ
Rơm rạ là phụ phẩm của các cây lương thực như lúa nước, lúa cạn Nó là nguồn thức ăn dự trữ chủ yếu và phổ biến nhất của gia súc nhai lại ở nước ta Rơm là nguồn thức ăn tiềm năng cho ngành chăn nuôi trâu bò Cứ ước tính tỷ
lệ thóc/rơm rạ là 1:1 thì hàng năm chúng ta thu ñược một khối lượng rơm khổng lồ ñể phát triển chăn nuôi Nước ta có thể cấy ñược nhiều vụ lúa nên trong năm ta có thể thu ñược 2-3 vụ rơm rạ Tuỳ thuộc vào từng ñịa phương
mà mùa thu hoạch lúa có khác nhau Nếu thu hoạch vào mùa nắng thì thuận lợi cho việc phơi rơm Ngược lại, thu hoạch vào mùa mưa việc phơi rơm gặp rất nhiều khó khăn, rơm dễ bị thối mốc, chất lượng dinh dưỡng giảm sút rõ rệt Rơm phơi ñược nắng thì màu vàng tươi và có mùi thơm, gia súc nhai lại thích
ăn Rơm bị vấy bùn ñất và phân thì chất lượng bị giảm và con vật không thích
ăn
So với một số loại thức ăn tươi xanh, rơm là loại thức ăn có giá trị năng lượng trao ñổi cao hơn, nhưng hàm lượng NDF cao lên tới 60-70% trong chất
Trang 10khô Hàm lượng protein thấp (3-6%) và rất ít chất béo (1-2%) Ngoài ra, rơm nghèo carbohydrate dễ tiêu, vitamin và khoáng không cân ñối Tỷ lệ tiêu hóa chỉ vào khoảng 35-55% Lượng ăn vào của gia súc chỉ vào khoảng 1,5-1,7%
so với khối lượng cơ thể Giá trị dinh dưỡng và giá trị làm thức ăn của rơm rạ ñối với trâu bò thấp ðể nâng cao gía trị làm thức ăn, giá trị dinh dưỡng của rơm rạ chúng ta có thể theo hai hướng chính sau:
- Cải thiện môi trường dạ cỏ (thường sử dụng thức ăn bổ sung) ñể tối ña hóa quá trình sinh trưởng, phát triển của khu hệ vi sinh vật
- Thay ñổi tính chất vật lý và thành phần hóa học của rơm rạ thông qua
xử lý, chế biến (thường xử lý bằng phương pháp kiềm hóa)
1.2.2 Ngọn lá mía
Ngọn lá mía chiếm khoảng 20% tổng sinh khối của cây mía, còn phần lá
ở ngọn chiếm khoảng 10% Mía ñược xem là cây có năng suất sinh khối cao nhất so với các cây trồng khác Năng suất mía bình quân 50-60 tấn/ha thì mỗi
ha có trên 10-12 tấn ngọn mía Về lý thuyết số ngọn lá mía của mỗi ha này có thể nuôi ñược 4 con bò trong 4 tháng (cho mỗi con bò ăn 20-25 kg/ngày) Hiện nay, tại những vùng nguyên liệu mía ñường của nước ta, hàng năm lượng ngọn lá mía thải ra rất lớn, cần tận dụng ñể nuôi bò thịt Tuy vậy, khi sử dụng ngọn lá mía làm thức ăn cho trâu bò cũng có nhiều hạn chế:
Khi sử dụng ngọn lá mía cho gia súc cần bổ sung một số loại thức ăn khác (cám, urê ) ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa và tăng lượng ăn vào của gia súc
Trang 11và ngọn lá nên ñược cắt ngắn trước khi cho ăn Ngọn mía có thể ñược ủ chua, bằng cách băm nhỏ ngọn mía 3-4 cm rồi ủ yếm khí với rỉ mật, hay cám và 1% amôn sulphat
Bảng 5.4 Thành phần hóa học của các thành phần ngọn mía (%)
46
45 1,9 0,2
39 3,2 1,0
24
70 3,1 0,3
27 2,7 0,8
27
57 5,3 0,4
1.2.3 Thân cây ngô sau thu hoạch bắp
Ngô là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất ở nước ta Phụ phẩm cây ngô là nguồn thức ăn cho gia súc nhai lại có ý nghĩa lớn Hiện nay, ở nhiều vùng nông thôn nước ta ngô ñược trồng với mục ñích lấy hạt khô Lượng thân và lá ngô bỏ lại rất lớn, chủ yếu dùng phơi khô và ñun nấu, rất lãng phí Tuy vậy, nếu cây ngô già thì giá trị dinh dưỡng, giá trị làm làm thức
ăn thấp do cấu trúc màng tế bào thực vật của nó Vì vậy, việc xử lý ñể kéo dài thời gian bảo quản, tăng giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng thân cây ngô sau khi thu hoạch bắp là rất cần thiết Cây ngô sau khi thu bắp non (ngô bao tử hay bắp ngô luộc) có thể dùng làm nguồn thức ăn xanh rất tốt cho trâu bò Thành phần dinh dưỡng của cây ngô sau thu bắp non rất phù hợp với sinh lý tiêu hoá của trâu bò
Loại cây ngô chín sữa-chín sáp và ñã thu hết bắp (trong trường hợp trồng ngô lấy bắp ñem bán non) có thể ủ chua rất tốt Tiến hành cắt cây ngô vào chính ngày thu bắp, phơi héo cho khô bớt nếu có thể Kỹ thuật ủ chua cũng tương tự như trường hợp cây ngô làm thức ăn gia súc Bình thường cây ngô sau thu bắp non này có thể ủ chua không cần bổ sung chất phụ gia Tuy nhiên,
ñể ñảm bảo lên men an toàn khi không biết chính xác tỷ lệ vật chất khô, tỷ lệ ñường, không phơi tái ñược cây ngô nguyên liệu thì nên bổ sung một lượng rỉ mật ñường khoảng 2-4 lít/m3 hố ủ Cách làm như sau: hoà rỉ mật vào nước
Trang 12sạch theo tỷ lệ bằng nhau trong ô-doa rồi tưới ñều cho mỗi lớp 15 cm cây ngô
ñã thái nhỏ và ñã chất vào trong hố ủ trước khi nén chặt
Cây ngô già sau thu bắp có thể xử lý urê ñể kiềm hoá tương tự như ñối với rơm ñể làm thức ăn vụ ñông cho trâu bò
1.2.5 Ngọn lá sắn
Ngọn lá sắn ñược xem là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị cho gia súc nhai lại Hàm lượng protein cao 18-20% Tuy vậy, ngọn lá sắn (ñặc biệt là các giống sắn cao sản (KM 94) chứa ñộc tố cyanoglucoside làm gia súc chậm lớn hoặc có thể gây chết khi có hàm lượng cao Nấu chín ngọn lá sắn làm giảm bớt ñộc tố, nhưng tiêu tốn nhiều chất ñốt và lao ñộng Ủ chua ngọn
lá sắn có thể loại bỏ ñộc tố, lại dự trữ ñược lâu dài cho trâu bò ăn Lượng lá sắn ủ chua trong khẩu phần trâu bò nên ở mức 10 - 20% tính theo chất khô Có thể thu ngọn lá sắn (bẻ ñến phần còn lá xanh) trước khi thu hoạch củ 20-30 ngày không ảnh hưởng ñến năng suất và chất lượng củ sắn
1.3 Nguồn phụ phẩm từ chế biến
1.3.1 Phụ phẩm ngành rượu bia
Bã bia, bỗng rượu là phụ phẩm của chế biến bia, rượu ðây là loại thức
ăn rất tốt cho trâu bò các loại, ñặc biệt là bò ñang vắt sữa Bỗng rượu, bã bia là các loại thức ăn nhiều nước (75-80%), hàm lượng protein trong vật chất khô cao, giàu xơ dễ tiêu và vitamin B Bã bia có tác dụng kích thích tiêu hoá rất tốt
Trang 13Do vậy, các nhà chăn nuôi bò rất thích dùng các loại thức ăn này Thường người ta trộn bã bia, bã rượu với thức ăn tinh và cho bò ăn Tuy nhiên, không nên cho bò thịt ăn quá 10 kg bã bia/ngày
Bã bia dễ bị hư hỏng, vì vậy nên sử dụng dạng tươi và phải bảo quản tránh không khí Bã bia có thể bảo quản dưới 2 tuần nếu ñánh ñống, nén chặt
và ñậy kín Tuy nhiên, bã bia ướt không nên dự trữ với lượng lớn ðể dự trữ lâu hơn có thể thêm 2-3% rĩ mật
Bảng 5.5 Thành phần dinh dưỡng bã bia (g/kg vật chất khô)
Chất hữu cơ tiêu hóa
Năng lượng trao ñổi (MJ)
Protein tiêu hóa
244-300 184-262 155-204 61-99 36-45 552-643 10,5-12,0
1.3.2 Bã sắn
Cây sắn là cây lương thực ñược xếp thứ 2 ở nước ta về sản lượng Cả nước trồng khoảng 424 000 ha, với sản lượng 6,6 triệu tấn củ Hiện nay, các tỉnh khu vực miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi ) ñã có nhà máy chế biến tinh bột sắn ñi vào hoạt ñộng với công suất lớn Một số kết quả khảo sát cho thấy bình quân 1 nhà máy có thể sản xuất ra từ
100 – 150 tấn bã sắn/ngày ñêm Nguồn phụ phẩm này có thể làm thức ăn cho gia súc nhai lại tốt, nếu không khai thác sử dụng hợp lý thì bã sắn lại là nguy
cơ ô nhiễm môi trường rất cao Bã sắn chứa nhiều tinh bột nhưng lại nghèo chất ñạm Bã sắn tươi có vị hơi chua, bò thích ăn song khi sử dụng lưu ý rằng trong bã sắn có HCN là chất ñộc ñối với trâu bò, vì vậy cần phải xử lý (ủ chua yếm khí ) ðể tăng hiệu quả khi sử dụng bã sắn khi cho trâu bò ăn nên bổ sung thêm urê, bã ñậu nành, bột cá hoặc các nguồn giàu protein khác Mỗi ngày có thể cho bò ăn khoảng 8-10 kg bã sắn tươi Bã sắn có thể phơi, sấy khô
ñể làm nguyên liệu phối chế thức ăn hỗn hợp, song chi phí cho nhiên liệu làm khô lớn Bã sắn có thể ủ chua dự trữ ñược khá lâu do một phần tinh bột trong
Trang 14bã sắn ñược lên men và tạo ra pH thấp ức chế hoạt ñộng của vi sinh vật Khi ủ chua nên trộn thêm 0,5% muối ăn và buộc chặt ñảm bảo yếm khí
Một thí nghiệm tiến hành tại trường ðại Học Nông Lâm Huế trên bò Laisind với mục ñích là ñánh giá ảnh hưởng của việc thay thế bã sắn công nghiệp ủ chua cho bột sắn và cám gạo trong khẩu phần bò thịt ñến lượng ăn vào, tỷ lệ tiêu hoá khẩu phần và mức tăng trọng của bò Kết quả thí nghiệm cho thấy sử dụng bã sắn ủ chua thay thế cám gạo và bột sắn trong khẩu phần
bò thịt (lượng thức ăn bổ sung tính theo chất khô ở các khẩu phần là như nhau) không làm ảnh hưởng ñến tỷ lệ tiêu hóa NDF, vật chất khô khẩu phần và khi khẩu phần chứa bã sắn có bổ sung thêm 10% bột ñậu nành (tính theo vật chất khô bã sắn) cho tăng trọng tương ñương với khẩu phần bổ sung cám gạo và bột sắn
Bảng 5.5 Giá trị dinh dưỡng của bã sắn
Thành phần dinh dưỡng (tính theo chất khô) Thức ăn
(%)
CP (%)
NDF (%)
HCN (mg)
OM (%)
GE (Kcal)
Tuy nhiên, do hạt bông có hàm lượng lipid cao và có ñộc tố gosypol nên cho ăn quá nhiều có thể ảnh hưởng xấu ñến hoạt lực của vi sinh vật dạ cỏ Hiện nay, người ta ñề nghị mức bổ sung chỉ dưới 150g/kg thức ăn của khẩu phần Chế biến, ñặc biệt là xử lý nhiệt, có thể làm tăng tỷ lệ lipit và protein
Trang 15không bị phân giải ở dạ cỏ và giảm gosypol tự do trong hạt bông nên có thể tăng mức sử dụng trong khẩu phần Nghiền và kiềm hoá có thể làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của hạt bông
1.3.4 Khô dầu
Khô dầu là một nhóm các phụ phẩm còn lại sau khi chiết tách dầu từ các loại hạt có dầu và từ cơm dừa Các loại khô dầu thường dùng làm thức ăn cho gia súc nhai lại gồm: khô dầu lạc, khô dầu ñậu tương, khô dầu bông, khô dầu vừng, khô dầu dừa Khô dầu là loại sản phẩm sẵn có ở nước ta và ñược xem như là loại thức ăn cung cấp năng lượng và bổ sung ñạm cho bò Hàm lượng ñạm và giá trị năng lượng trong khô dầu tuỳ thuộc vào công nghệ tách chiết dầu cũng như nguyên liệu ban ñầu Nhìn chung, khô dầu ñậu tương, khô dầu lạc thường chứa ít Ca, P và vì vậy, khi sử dụng cần bổ sung thêm khoáng Khô dầu có thể cho bò ăn riêng rẽ như một thức ăn bổ sung hoặc trộn với một số loại thức ăn tinh khác thành thức ăn tinh hỗn hợp
Trong khô dầu lạc có 35 - 38% protein thô Với các khô dầu ép thủ công lượng chất béo còn lại khá cao (8-10%) nên dễ gây ôi tạo mùi khó chịu và dễ
bị mốc Tuy nhiên, nếu khô dầu mới ép ñược sử dụng ngay không bị mốc thì ñây là nguồn ñạm khá rẻ tiền, có mùi thơm nên gia súc thích ăn
Khô dầu rất dễ bị mốc và nhiễm aflatoxin, vì vậy khi sử dụng cho gia súc cần phải kiểm tra có bị mốc không trước khi sử dụng
1.3.5 Cám gạo
Cám gạo là phụ phẩm xay xát gạo, lượng cám thu ñược bình quân là 10% khối lượng thóc Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cám gạo phụ thuộc vào quy trình xay xát thóc, thời gian bảo quản cám Cám gạo mới có mùi thơm, vị ngọt, bò thích ăn Tuy nhiên, nếu ñể lâu, nhất là trong ñiều kiện bảo quản kém, dầu trong cám sẽ bị ôxy hoá, cám trở nên ôi, khét, có vị ñắng, thậm chí bị vón cục, bị mốc và không dùng ñược nữa Cám gạo có thể ñược coi là loại thức ăn cung cấp năng lượng và ñạm Dùng cám gạo bổ sung cho khẩu phần nhiều xơ sẽ có tác dụng bổ sung dinh dưỡng và kích thích tiêu hoá
xơ