1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12 tập 2 part 6 pdf

25 537 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Bài Giảng Ngữ Văn 12 Tập 2 Part 6
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 1969
Thành phố Bến Tre
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 7,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh chị có đồng ý rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau: chị

Trang 1

anh viết được nhiều và nhiều thể loại: truyện ngắn, bút kí, truyện vừa, tiểu thuyết đều đặn và có chất lượng cao

Nguyễn Thi tự đặt cho mình nhiệm vụ ghi chép những sự tích anh hùng của nhân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Chủ đề lớn trong tác phẩm của anh là lòng yêu nước và căm thù giặc nồng nàn của nhân dân Nhân vật anh thích là những con người bình thường mà vĩ đại ở mọi tầng lớp và lứa tuổi góp lại thành tập thể anh hùng

Những đứa con trong gia đình khai thác đối tượng là lứa tuổi thanh niên mới lớn hăng hái tòng quân Lớp trẻ rất bồng bột hăng say giết giặc; Những đứa con rất xứng đáng với người cha hi sinh anh dũng, người mẹ kiên trinh bất khuất âm thầm nuôi dạy và mong con mau lớn để trả thù nhà đền nợ nước Đây

là một truyện ngắn xuất sắc Cốt truyện giản dị, dưới góc độ của một thanh niên mới lớn, cách nhìn và suy nghĩ rất hồn nhiên, trong sáng đượm tâm hồn dân tộc sâu đậm, khiến người đọc rất xúc động Truyện ngắn Nguyễn Thi sâu

và sắc sảo Không ỷ vốn sống đồi dào, không cần cái li kì của cốt truyện, cái khéo của kĩ thuật thay cho chiều sâu của tư tưởng và sự quan sát tinh tế các chi tiết Một chi tiết đi đái, vào tay Nguyễn Thi cũng trở thành mĩ phẩm, gây ấn tượng khó quên Nguyễn Thi tài dùng phép tương phản để tả cái vĩ đại trong cái bình thường, hoà nhuyễn cái vĩ đại cuộc chiến đấu thần kì trong hơi thở cuộc sống bình thường hằng ngày Ngôn ngữ giàu chất Nam Bộ Phong cách Nguyễn Thi bình thản mà không lạnh lùng, sâu lắng mà sôi nổi thâm kín, chân chất, thân mật, phóng khoáng mà dễ thương dễ mến

Truyện và kí Nguyễn Thi; NXB Giải Phóng, 1969; tr 7- 12

bị đại bác của giặc giết năm ngoái, ở nhà chỉ còn thằng em nhỏ ở với chú Người chị thứ hai thì đi lấy chồng xa Vậy thôi Nhưng một hôm, Việt nhận được bức thư đề tên: Quyết Chiến, tỉnh Bến Tre thân gửi em là Nguyên Văn Viêt, đơn vị X Việt giấu thật kí mà anh em cũng mò ra được Thế là cô Quyết Chiến mới 20 tuổi, hơn Việt 2 tuổi, là chị gái thứ ba của Việt hiện là tiểu đội trưởng bộ đội nữ địa phương, bị lộ bí mật rồi!

Việt giấu chị như giấu của riêng vậy Cậu sợ mất chị mà! Cho tới bữa nay,

nằm trong bệnh viện, hai mắt còn băng kín mít, Việt lại nghe hai tiếng cậu Tư

anh em gọi mình

Trang 2

Việt muốn viết thư cho chị Chiến lắm Nhưng biết nói gì? Không lẽ báo tin

bị thương? Đâu được? Mà có viết cũng phải nhờ người khác, như vậy anh em

sẽ lại cười ghẹo um lên Thôi vậy!

Việt mượn cây bút chì mò mò viết thư Thật gay go, Việt rò rờ từng dòng Tóm tắt một đoạn:

(Việt nhớ lại hồi ở nhà, cùng chị Chiến theo du kích đánh tàu giặc ở sông Định Thuỷ; chị Chiến hất súng lên vai, kẹp nhúm tóc mai vào miệng, nhìn Việt bằng con mắt hiền dịu, đầu hơi nghiêng xuống nhì muốn nói: tao nhường cho mày! Nhớ những ngày đầu di bộ đội, cái gì cũng lạ, cứ phải hỏi anh Tánh Nhớ trận đánh vừa diễn ra — trận đọ lê dữ dội giữa quân ta và quân Mĩ trong rừng cao su Việt leo lên chiếc xe bọc thép của giặc đang tháo chạy, dùng thủ pháo điệt được nó nhưng Việt bị thương và ngất đi Anh bị lạc dồng đội giữa chiến

Mi trên sông, chị cũng nhường Muốn công bằng, chú Năm đã phải ghi chiến công của cả hai chị em vào cuốn số của gia đình

Chú Năm là người thân gần nhất và lớn nhất còn lại của gia đình Trong bả vai chú còn đầu đạn của thằng tay hồi chín năm Tóc đốm bạc, ít nói, nhưng đã

nhậu vài ba hột là chú nói tới Chú nói Việt là thằng nhỏ gan, chị Chiến là con

gái không khác mẹ chút nào Chú hay kể sự tích gia đình và cuối chuyện thế nào cũng hò vài câu Những câu hò chú thuộc hồi còn đi làm thuê ở lục tỉnh Chú già rồi, giọng hò đục và tức như tiếng gà gáy Một lần, nghe chú hò, hai chị em bịt miệng cười Chú bảo:

- Cười đi con! Rán cho mau lớn, rồi tao giao cuốn số gia đình cho tụi bay

Đó là cuốn số gia đình Chị Chiến đã lôi ra tập đánh vần một lần Việt cũng có ghé đầu đọc ké Chữ chú viết lòng còng Chú ghi đủ hết Thím Năm đi rọc lá chuối bị ca nông bắn bể xuồng, chết còn mặc quần mới, trong túi còn 2 đồng bạc, giỗ nhằm ngày Ông nội bị lính bắn vào giữa bụng, giỗ nhằm ngày Quận Sơn bắt bà nội đánh 3 roi Chị Chiến ngồi góc ván, đánh vần

hoài, từ trưa đến xế chiều, bo ăn, quên cả trời chạng vạng

Trang 3

Chú Năm đi đây đi đó nhiều, trước đây chú cũng ham sông ham bến, biết nhiều nơi Chú thường ví chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó Chú kể con sông nào ở nước ta cũng đẹp lòng tốt của con người ta cũng sinh ra từ đó Trăm sông đổ về một biển Con sông gia đình ta cũng chảy ra biển, mà biển thì rộng lắm, chị em Việt lớn rồi sẽ biết

Việt tỉnh dậy lần thứ ba giữa ban ngày Tiếng trực thăng nổ phành phạch Vừa đau nhức, vừa đói khát mà không sao quài tay ra sau lưng lấy được bình nước Lần đầu tiên Việt nghĩ đến cái chết Việt không sợ chết, chỉ sợ không được đi bộ đội nữa Lại nghĩ đến kẻ thù: ““Fao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao Mày có bắn tao thì tao cũng

sẽ bắn mày Mày chỉ giỏi giết gia đình tao, còn với tao thì mày là thằng chạy!” Tiếng chim gù đâu đây gợi Việt nhớ đến cái ná thun và những buổi bắn chìm Việt tòng quân cũng mang theo nó Nhớ chuyện má mất Má đi đấu tranh ở Mỏ Cày về, thấy một trái ca nông rơi bịch trên lộ, trước mắt má, không

nổ, má đến bỏ luôn vào rổ, cắp về Về tới đầu xóm, má trúng miếng, chết, trái

ca nông lép vẫn nằm trong rổ, nóng hổi

Nhớ chuyện má kể đi đòi đầu ba Tay bồng con, tay cắp rổ, từ ấp trong tới

ấp ngoài, qua sông, về quận Về tới quận, nó đi rao khắp chợ rồi liệng đầu ba mày vào ngực tao, làm máu me văng cùng vào đầu em mày Phải hồi đó tao không nu lại thì nó đã bắn mày rồi Đầu ba dưới đất không lượm, cứ nhè thang liệng đầu mà đá

Chiều hôm đó, về đến nhà, má mới khóc chứ không kể gì hết Ban ngày

má đi làm Miệng vừa nói: Việt à, coi chừng nhà nghe con! chân dã đẩy xuồng

ra giữa sông Má bơi xuồng thiệt khoẻ, cái nón rách mướp để lộ cái gáy đo đỏ

và đôi vai lực lưỡng Chiều về, xuồng còn giữa sông, má đã gọi: “Việt à, ra phụ

má nghe con!” Xuồng cặp bến, má mặt đỏ rực, cái nón rách ngả ra làm quạt,

lưng áo bà ba đẫm mồ hôi đen xạm Rồi má lại bơi đi, canh hai mới về Lần này má rinh thing lúa lên một mình và đặt ngay trên ø1ường ngủ

Ngày ngày má mắt mở to lo lắng, suy nghĩ, đôi bắp chân tròn vo lúc nào cũng dính sình đất Má lội hết đồng này sang đồng khác, con mắt tìm việc, bàn

chân đo đường, ôm về khi thì bó củi, khi mớ tép Chị Hai theo má, chị Chiến coi em, Việt xách ná thun đi gác, có lính thì bắn choc, bịch! Báo tin cho các cô

chú cán bộ trong nhà xuống hầm Lâu lắm mới thấy má khóc Đó là lúc chị em Việt đã ngủ say Má nhớ lại thời con gái, nhớ lại chuyện làm quen và lấy — anh

bộ đội cầm tầm vông gác bến đò Sau đó ba bị thương, chuyển về xã công tác,

ở chưa ấm chỗ, ngờ đâu lại chết tức như vậy?

Trang 4

Một lần, nghe tiếng na thun của Việt, má lại nói:

- Đó, lại giống cái thằng cha nó rồi Để má ráng nuôi bay lớn coi bay có lam duoc cai gi cho cha may vu1 không?

Việt nghĩ ba chết rồi, biết gì mà vui Nhưng má tin rằng người chết có cái vui của người chết; nếu không, người ta sinh con để làm gi!

Bọn lính bao nhà hỏi: Vợ Tư Năng đâu?

Má bước ra cửa trả lời:

— Vợ Tư Năng đây!

Hai bàn tay to bản của má phủ lên đầu các con đang nép dưới chân Bọn lính bắn vọt qua đầu má Má dùa đàn con lại đằng sau tránh đạn Má trông ngày đêm cho con mau lớn Trông từ cách con làm đến miếng con ăn trong miệng Mỗi lần bọn lính bắn doa như vậy, má lại quắc mắt nhìn lại bọn chúng, đôi mắt của người đã từng vượt sông vượt biển

Việt tỉnh dậy lần thứ tư

Thang 2 — 1966

1.6 BONG CON — BONG SUNG

Nguyên Vũ Tiềm

Người mẹ nào cũng muốn bồng con

Sao có lúc phải buộc lòng bồng súng?

Anh khong 9 thang uu tu ndng Hiểu lòng người mẹ chăng?

Mans nặng đẻ đau từng con chữ

Bà đố là cây súng sát bên hông Tác phẩm hài đông chưa oe nở Máu nhà văn đã chảy thành dòng

(*) Thuong nhé tai hoa; sd d; tr 79

Trang 5

Tiét 87 LAM VAN TRA BAILAM VAN SO 5

A Két qua cGn dat

— On tap củng cố về văn nghị luận nói chung, nghị luận văn học nói riêng

— Tích hợp với các kiến thức Văn, Tiếng Việt đã học và tích hợp với vốn sống trực tIếp

— Rèn luyện kĩ năng tự thẩm định, đánh giá và tự sửa lỗi cho bài viết của mình

B Thiết kể bòi dạy - học

Hoạt động 1 NHAC LAI CAC Ý CHÍNH CẦN TRIỂN KHAI CỦA ĐỀ BÀI

+ Giả định chọn dé 1:

Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết:

"Văn chương ( ) có loại đáng thờ Có loại không đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người" Hãy phát biều ý kiến về quan niệm trên

+ Xác lập một số ý chính như sau:

1 Giải thích văn chương “đáng thờ” và văn chương “không đáng thờ"

2 Phân tích và chứng minh quan niệm của Nguyễn Văn Siêu

— Văn chương đáng thờ là văn chương có giá trị giáo dục, góp phần nâng cao nhận thức của con người; bồi dưỡng cho con người những tình cảm thẩm m1 lành mạnh, trong sáng: khích lệ con người vươn lên trong cuộc sống Dẫn chứng

— Văn chương không đáng thờ là văn chương không có giá trị giáo dục, nó

có thể trực tiếp hoặc gián tiếp khiến cho con người mất niềm tin vào cuộc sống: thậm chí kích động lối sống hưởng thụ ích kỉ của con người Dẫn chứng

3 Phát biểu ý kiến về quan niệm của Nguyễn Văn Siêu:

Khang dinh day là một ý kiến đúng; nhưng chưa đủ, cần phải bàn bạc thêm

về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức:

Trang 6

— Noi dung tu tưởng của tác phẩm phải xuất phát từ con người và cuộc sống để phục vụ con người và cuộc sống —- Đó là cái tâm của nhà văn, nhà thơ

- Hình thức nghệ thuật của tác phẩm phải mới mẻ, hấp dẫn, điêu luyện —

Đó là cái tài của nhà văn, nhà thơ

Tóm lại, "văn chương chuyên chú ở con người" mới là điều kiện cần, "văn

chương có tính nghệ thuật cao" là điều kiện đủ để tác phẩm có giá trị đối với

COn người và cuộc sống

Hoạt động 2 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ TRẢ BÀI + GV có thể nhận xét về ưu điểm, nhược điểm của từng thao tác:

1 Tim hiểu dé

2 Lap dan y

3 Viét doan van

4 Viét bai van hoan chinh

+ GV công bố kết quả đánh giá chung:

Trang 7

— Tích hợp với các kiến thức Văn, Tiếng Việt đã học và tích hợp với vốn sống trực tIếp

- Rèn luyện kĩ năng kết hợp các thao tác lập luận để viết bài văn nghị luận văn học có sức thuyết phục và hấp dẫn

B Thiết kể bòi dạy — học

Hoạt động 1 TÌM HIẾU MỘT ĐỀ BÀI GỢI Ý TRONG SGK

Dé I1: Trong truyện Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thì nêu quan niệm: Chuyện gia đình cũng dài như sông, môi thế hệ phải ghi vào một khúc Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, "mà biển thì rộng lắm ( ), rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta”

Anh (chị) có đồng ý rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau: chị em Chiến, Việt?

Đề 2: Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho đòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Đề 3: Về một truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam mà anh

a Tai sao yéu thich?

— Vé noi dung tu tudéng

— Vé nghé thuật: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ

b Cơ sở để yêu thích:

— Phải xuất phát từ sự cảm, hiểu của mình để nhận xét, đánh giá tác phẩm

- Phải xuất phát từ tác phẩm (cốt truyện, nhân vật, sự việc, tình tiết ) để lập luận và sau đó nhận xét, đánh giá tác phẩm

c Giới hạn vấn đề:

Có thể chỉ tập trung nghị luận về một nhân vật ông Hai với các ý chính Sau:

Trang 8

- Phẩm chất điển hình của nhân vật ông Hai: tình yêu làng gắn bó, hoà quyện với lòng yêu nước (nét mới trong đời sống tỉnh thần của người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp)

- Các biểu hiện của phẩm chất điển hình trên:

+ Các tình huống bộc lộ tình yêu làng, yêu nước?

+ Các chi tiết nghệ thuật (tâm trạng, lời nói, cử chỉ, hành động ) chứng tỏ tình yêu làng, yêu nước?

+ Ý nghĩa của tình cảm mới mẻ ấy của nhân vật?

a Tình yêu làng gắn bó, hoà quyện với lòng yêu nước:

— Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động kháng chiến g1ữ làng cùng anh em, đồng đội; điều đó chứng tỏ tình yêu làng của ông gắn bó với tình cảm kháng chiến Ong không chỉ là một công dân của làng mà còn là một chiến sĩ đã từng tham gia đánh giặc giữ làng

— Khi tình cờ nghe tin làng theo g1ặc, ông sững sờ, nghẹn ngào và có mặc cảm xấu hổ, bé bàng với ý nghĩ: "Làng thì yêu thật, nhưng làng đã theo Tây rồi thì phải thù!

- Khi tin đồn được cải chính thì ông Hai lại rạng rỡ, lại hào hứng kể chuyện làng và rất tự hào về cái làng của mình

b Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

— Các chi tiết miêu tả hành động của ông Hai:

+ Khi nghe tin làng theo giặc

+ Khi nói chuyện với bà Hai

+ Khi tin đồn được cải chính

— Các chi tiết miêu tả nội tâm của ông Hai:

+ Thông qua đối thoại

+ Thông qua độc thoại

* Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật ông Hai và khẳng định thành công của tac gia trong việc xây dựng tình huống truyện, xây dựng nhân vật

Trang 9

quê Việt Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà "Làng" là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân A1 đến với

"Làng" chắc khó quên được ông Hai - một nhân vật nông dân mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân

(2) Nêu trực tiếp những suy nghĩ của người viết:

Tình yêu làng, sự gắn bó với nơi chôn rau cắt rốn vốn là một tình cảm sâu nặng ở con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng Lịch sử văn học dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn "Làng" của Kim Lân là một trong những trường hợp tiêu biểu như thế

* Thân bài:

(1) Tình yêu làng sắn với lòng yêu HHỚc:

- Khi nghe tin đồn làng theo giặc: "Cổ ông lão nghẹn 4ng han lai, da mat

tê rân rân Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hắn đi"

— Với niềm tin và niệm tự hào về cái làng của mình, ông Hai đã tự vấn:

"Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được Ông kiểm điểm từng người trong óc Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy! "

- Khi tin đồn được cải chính, ông Hai mừng đến nỗi cứ "múa tay lên" mà khoe về cái làng mình, ông hồn nhiên cả khi báo tin nhà mình bị Tây đốt: "Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ Đốt nhắn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cà"

Trang 10

(2) Nghệ thuật xây dựng nhân vật ông Hai:

+ Khi nghe tin làng theo giặc thì: "Ông Hai cúi gầm mặt xuống mà đi", rồi

"nắm chặt hai tay lại mà rít lên": "Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này"

+ Khi tin đồn được cải chính thì: "Ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin

ấy với mọi người”

"cái chuyện ấy" Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt g1an, cam— nhông là ông lủi ra một góc nhà, nín thít Thôi lại chuyện ấy rồi! "

+ Khi tin đồn được cải chính thì: "Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hắn lên"

— Ngoài ra, còn phải kể đến các hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật ông Hai trong mối quan hệ với các nhân vật khác như: bà Hai, các con, mu chu nhà

* Kết bài:

Ông Hai trong Làng là một nhân vật tạo được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Qua truyện ngắn này, tác giả đã khắc hoạ thành công hình tượng một người nông dân yêu làng yêu nước hồn nhiên chất phác, nhưng rất xúc động Hình tượng nhân vật ông Hai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với nhiều thế hệ bạn đọc Đọc tham khảo:

Có thể chọn một truyện ngắn khác của Kim Lân: Vợ nhặt

Trang 11

Với truyện ngắn này, có thể nghị luận từng vấn đề hoặc cả ba vấn dé như sau:

l Phân tích tâm trạng của bà cụ Tứ

Lấy bối cảnh là nạn đói khủng khiếp năm 1945, Vợ nhặt của K1m Lân là một câu chuyện giản dị kể về số phận của những con người khốn khổ đang chống chọi với tử thần để vươn tới hạnh phúc Thông qua cuộc ôn nhân kì lạ giữa Tràng với người đàn bà đói khát, tác giả đã phát hiện ra những vẻ đẹp nhân hậu tiểm tàng trong những con người lam lũ, đặc biệt là nhân vật bà cụ

Tứ, một bà mẹ nông dân nghèo rất đáng trân trọng

Sau một ngày kiếm sống vất vả, bà cụ Tứ trở về nhà vào lúc bóng tối đã sụp xuống và bà vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra có một người đàn bà lạ trong nhà Chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao, người đàn bà lạ mặt đã cất tiếng chào bà bằng và Tràng lại nhac nha tôi nó chào u khiến bà cụ từ chỗ không hiểu đến không thể tin nổi một sự thật hiển nhiên là: con giai bà đã có vợ! Là người mẹ,

bà cụ luôn mơ ước con giai mình sớm yên bề gia thất, nhưng vì nhà quá nghèo, lại là thân phận dân ngụ cư lép vế trăm bề, cho nên mơ ước của bà vừa âm thầm vừa mong manh đến đáng thương Thế mà giờ đây, con giai bà bỗng dưng có vợ! Khi đã hiểu ra rằng đây là sự thật, chứ không phải ảo ảnh thì tâm trạng của

bà cụ Tứ bị xáo động mạnh, buồn vui lẫn lộn Bà mừng vì Tràng đã có vợ, một

ước mơ gần như không tưởng đã trở thành sự thật một cách giản di Bà tủi vì là người mẹ mà không lo nổi việc lớn ấy để đến nỗi con giai bà có được vợ theo cái kiểu chẳng giống ai Bà thương con dâu đã phải gặp bước khó khăn, đói khổ này mới tình cờ nên vợ nên chồng với con giai ba Trong cái tình thương có pha

vị ngậm ngùi đắng cay ấy, bà thương nhất là không biết chúng có nuôi nhau sống nổi qua cái thì đói này không? Là người mẹ từng trải, bà hiểu rằng người

ta dựng vợ sả chồng cho con là trong lúc nhà ăn nên làm nổi, là để xây dựng tuong lai, con con giai con dau bà nên vợ nên chồng trong một hoàn cảnh khốn quãn đến nỗi trước mắt chỉ có cái chết đang chờ đợi mà thôi: Năm nay thì đói

to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa

Trong cái đêm đầu tiên bà cụ Tứ có nàng dâu, có lẽ bà đã trằn trọc không sao ngủ được vì bà ngửi thấy mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết thoảng vào khét lẹt và nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út đến cuộc đời cực khổ dằng dặc của mình rồi phấp phỏng lo lắng cho tương lai của dâu con: liệu chúng nó có hơn bố mẹ chúng nó trước kia không? Lầ người mẹ nông dân nghèo, nhưng có lòng tự trọng, trước một việc đã rồi, bà cụ Tứ cứ tự dẳn vặt mình: Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự, vừa ai oán vừa

Trang 12

xót thương cho số kiế? đứa con mình Chì tiết hiểu ra biết bao cơ sự cho thấy

bà cụ Tứ là một người mẹ cả nghĩ, từng thấm thía nỗi đau mất chồng mất con, nỗi nhục của thân phận ngụ cư và nỗi thống khổ của cảnh đói nghèo truyền kiếp Đó chính là những rủi ro bất hạnh chồng chất lên cuộc đời một người

mẹ nông dân nghèo Có lẽ những rủi ro bất hạnh ấy chính là cơ sở cho sự đồng cảm và tình thương của bà đối với người nàng dâu? Việc bà cụ Tứ chấp nhận người đàn bà xa lạ làm nàng dâu tức là bà đã chấp nhận thêm một sự rủi ro bất hạnh nữa cho cuộc đời vốn chưa một lần được hưởng sự may mắn của bà Đây

là một hành động thể hiện lòng vị tha nhân ái rất đáng trân trọng của bà, nó mang vẻ đẹp truyền thống của đạo lí dân tộc là hương người như thể thương thân Nó cũng trở thành một phẩm chất quan trọng giúp cho người mẹ ấy luôn tiềm tàng một sức bền của sự cam chịu và niềm hi vọng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống hằng ngày Sáng hôm sau, nhìn người con dâu quét dọn nhà cửa gọn gàng, Bà cụ Tứ chợt có một niềm vui vì thấy con dâu rố ràng là một người đàn bà hiển hậu đúng mực Niềm vui khiến cho cái mặt bủng beo u dm của bà rạng rố hẳn lên và bà chỉ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau nay Ba say sua ban về tương lai: Trang a Khi nao có tiên ta mua lấy đôi ga Nay, ngodnh di ngoanh lai, chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem Ba

đã cố duy trì niềm vui và niém hi vong dang nhen lén bang cach /é mé bung ra một nồi cháo cám nghi ngut khói lên nhà và đon đã tươi cười: Cám ddy may a,

hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Nhưng tiếc thay, chính cái nồi cháo cám

ấy đã làm cho niềm hi vọng mong manh của mọi người sụp đổ Cái vị cám chát xít, nghẹn bứ trong miệng ấy là sự thật nghiệt ngã và tàn nhẫn nhất về nạn đói

và cái chết đang trực tiếp đe doa moi người, nó là mối hiểm hoa có thể ngay lập tức cướp đoạt những øì mà ba mẹ con bà cụ Tứ dang nang niu tran trong Luc này, cái đen tối của hiện tại, cái mờ mịt của tương lai bỗng trở nên gay gắt hơn,

nó như một gáo nước lạnh làm nguội tắt ngọn lửa mong manh hi vọng vừa nhen nhóm trong lòng mọi người Chưa hết, vị chát đắng của cám còn đang tắc nghẹn ở cổ thì bên tai mọi người lại vang lên âm thanh chát chúa của những hồi trống thúc thuế và tiếng một đàn qua bay vù lên khiến bà cụ Tứ cũng bị rơi vào tâm trạng bi quan, nhưng bà vẫn cố gắng tự kiểm chế không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc Bà không than thân trách phận, chỉ nói như là tự nhắc nhủ mình: Gời đất này không chắc còn sống được đâu các con ạ Lời nói của

bà cụ Tứ giống như một lời cảnh báo khiến người con dâu nhớ lại những sự kiện lạ lùng báo hiệu một sự đối thay lớn lao trong cuộc đời của họ Thế là niềm hi vọng của bà cụ Tứ lại được nâng đỡ để khỏi rơi vào tuyệt vọng

Bà cụ Tứ là nhân vật phụ xuất hiện ở phần cuối truyện Vợ ø hốt, nhưng lại trở thành một điểm tựa tinh thần quy tụ các thành viên rời rạc thành một cái tổ

Ngày đăng: 23/07/2014, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN