Nhờ những tấm lòng như vậy, cộng với ý chí quyết tâm cao của bản thân, sau hai năm đại cương, Mai và một sinh viên người Mĩ duy nhất ở trường đã được nhận giấy khen xuất sắc và một bằng
Trang 1a Chang trai nghéo hiéu thao, vi tha
b Những việc làm như cổ tích giữa đời thường
c Hiện thân của đạo lí "Thương người như thể thương thân"
d Phê phán lối sống ích kỉ, vô bổ của một số thanh niên hư hỏng
Ba ý a, b, c nhằm tôn vinh vẻ đẹp về lòng nhân ái, vị tha của Nguyễn Hữu Ân; còn ý c có tác dụng nhắc nhở, phê phán những người vô cảm với đồng loại; qua việc phê phán ấy càng làm nổi bật lên vẻ đẹp nhân ái, vị tha của Nguyễn Hữu Ân
ết bài
— Nâng vẻ đẹp của Nguyễn Hữu Ân lên tâm một bài học tư tưởng, đạo lí
— Phát biểu cảm nghĩ cá nhân
* Nghị luận về một hiện tượng đời sống không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn
có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo lí, cách sống đúng đấn, tích cực đối với thanh niên, HS
+ GV chỉ định 1 HS đọc chậm, rõ G?¿ nhớ trong SGK
Hoạt động 4
HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP
* Bai tap 1
a Điều mà tác giả Nguyễn Ái Quốc bàn là hiện tượng nhiều thanh niên, sinh viên Việt Nam du học nước ngoài dành quá nhiều thời gian cho việc chơi bời, giải trí mà chưa chăm chỉ học tập, rèn luyện để khi trở về góp phần xây dựng quê hương, đất nước Hiện tượng ấy diễn ra vào những năm đầu thế kỉ XX Ngày nay hiện tượng ấy vẫn còn Nhiều thanh niên, sinh viên Việt Nam du học nước ngoài
cũng phung phí thời gian vào những trò tiêu khiển vô bổ hoặc quá mải mê với việc kiếm tiền, chếnh mảng việc học hành Nguyên nhân sâu xa là họ (xưa và nay) chưa xác định được lí tưởng sống đúng đắn và cũng do cách tổ chức du học chưa tốt
b Các thao tác lập luận được dùng là: phân tích, so sánh, bác bỏ
c Nghệ thuật dùng từ có hình ảnh, dẫn chứng thuyết phục, hành văn nhuần nhuyễn
* Bài rập 2
GV hướng dẫn HS tự làm
* Bài tập 3 (bổ trợ)
KHIẾM THỊ MÀ HỌC GIỎI TẠI MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở MĨ
(Báo Khuyến học & Dân trí, số 30, 22.7.2004) Ngày ấy, Nguyễn Thị Thanh Mai chào đời tại thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây Bố mẹ đều làm ruộng, sinh được bốn anh em, Mai là
Trang 2thứ tư Đó là lần sinh đôi chị Nhật và Mai Một năm trôi qua, hai chị em Mai ốm lay lắt do mẹ thiếu sữa, cả hai đều suy dinh dưỡng nặng phải truyền đạm, rồi Nhật không đủ sức đã mất Do nhà nghèo lại đông con, bố mẹ mải vật lộn để mưu sinh
và Mai cũng còn quá nhỏ chưa đủ biết mình đau ở đâu và thiếu hụt cái gì Chỉ tới khi bệnh đã nặng, bố mẹ đưa Mai đến bệnh viện thì mới phát hiện Mai bị khô giác mạc đã năm tháng Thế là tuổi thơ của Mai phải chung sống với bóng tối và cái thiếu hụt cũng dần dần trở nên quen thuộc Khi đã hơn mười tuổi, Mai có nghe người ta nói đến việc học chữ nổi và trong em bỗng cháy bỏng một ước mơ được
đi học để một ngày nào đó sẽ trở thành cô giáo Dù chẳng biết con mình có học được không, nhưng vì thương con nên bố mẹ Mai đã quyết định đưa Mai tới trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội xin học Những ngày đầu vui lắm Niềm vưi lớn nhất là Mai thấy mình không còn cảm giác sống thừa Nhưng niềm vul ấy rồi cũng qua mau bởi con đường học hành trước mắt Mai không hề nhẹ nhàng, đơn giản chút nào Nó là một núi khó khăn, thứ thách mà những người bình thường khó lòng hình dung nổi Nếu như ở nhà có cha mẹ, các anh và bà con họ hàng giúp
đỡ thì ở đây, Mai phải bắt đầu cuộc sống tự lập của mình Có lần xách một thùng nước lên đến tầng hai thì nước trào ra chỉ còn một nửa Bao nhiêu khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày đã dần vặt Mai dai dẳng, đến nỗi có lúc Mai cảm thấy sao mà mình lạc lõng, cô đơn đến thế?! Nhưng rồi, vì thương cha mẹ, thương cái gia đình nghèo khó của mình nên Mai đã cắn răng vượt qua tất cả Thế là Mai lao vào học tập với ý nghĩ chỉ có học tập tốt mới mong báo đáp được cha mẹ và những người tốt đã cưu mang giúp đỡ mình Mai học lớp 1, lớp dự bị ban đầu làm quen với chữ nổi Rồi theo thời gian, Mai kiên trì học hết lớp 7 và ở lớp nào Mai cũng được xếp vào loại học giỏi
Sau ba tháng hè của năm lớp 4, Mai đã tự học thêm tiếng Anh Mai thổ lộ với
cô Khanh (cô giáo chủ nhiệm lớp) ước mơ trở thành một cô giáo dạy tiếng Anh của mình Đồng cảm sâu sắc với ước mơ chân thành của Mai, cô Khanh đã gặp cô Loan (GV tiếng Anh) tâm sự về nguyện vọng của Mai và xin cho Mai được học giờ tiếng Anh Cô Loan rất ngạc nhiên và cảm động vì có một HS khiếm thị lại yêu thích môn học của mình nên cô đồng ý ngay Đến lớp 7, không có sách Anh văn chữ nổi, cô Loan đã cử mấy bạn học giỏi đọc bài cho Mai nghe hiểu Vốn là người có trí nhớ và năng khiếu sinh ngữ tốt nên Mai học ngoại ngữ rất có hiệu quả, đến nỗi cô Loan phải thốt lên: "Mai như một cái máy ghi âm, nhớ và đọc mẫu câu rất chuẩn, có lẽ còn hơn cả các em mất sáng!" Mai nghe băng, khi thấy những mẫu câu phát âm mà chưa được học, Mai liền ghi nhớ để hỏi cô Mai học nhanh đến mức chương trình lớp 7 không đáp ứng được tốc độ học của em Mai phải thường xuyên gặp cô Loan để hỏi thêm, đến nỗi em thuộc cả thời khoá biểu của
cô Không thể sử dụng từ điển và sách tham khảo như các bạn khác, Mai học bằng
Trang 3ý chí, bằng trí nhớ bẩm sinh, bằng việc chăm chi nghe các buổi dạy tiếng Anh trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam Nếu có từ mới chưa hiểu thì ngay hôm sau Mai lại tìm cô Loan để hỏi Trước nỗ lực vượt bậc của Mai, cô Loan đã tình nguyện kèm cặp thêm cho Mai một cách nhiệt tình, vô tư và có hiệu quả Tình
cờ biết có cuộc thi Olimpic tiếng Anh ở Cung Thiếu nhi, cô Loan nghĩ ngay đến Mai Nhà trường đồng ý để cô Loan đưa Mai đi thi Mặc dù chưa có từ điển chữ
nổi, nhưng Mai vẫn giành giải nhất quận Hai Bà Trưng về nói và được cử đi thi cấp thành phố Tại thành phố, một vị giám khảo đọc bài cho Mai chép bằng chữ nổi
Bà John Woodward thuộc tổ chức phi chính phủ Mĩ được mời làm thành viên ban giám khảo Đề tài của Mai là nói về trường Nguyễn Đình Chiểu Phần năng khiếu,
em hát bài "Tôi có một giấc mơ" (I have a dream), em còn kể câu chuyện "Năm con lừa" bằng tiếng Anh Bà John không khỏi ngạc nhiên khi gặp một thí sinh như Mai Mai đoạt giải nhì về viết, giải đặc biệt về nói tiếng Anh hay Sau cuộc thi, bà John nhờ cô Loan tạo điều kiện cho Mai lên Cung văn hoá Thiếu nhi để học, đồng thời bà John còn cho Mai ở cùng với bà để bà và hai người bạn nữa dạy thêm cho Mai Bà John đã dạy Mai sử dụng cả vi tính Bà bảo: "Không nhìn thấy thì buộc phải nhớ, học mãi phải được!”
Năm 1997, Mai được cùng đi với bà Jerry Johns (ban ba John) sang Mi Ba Jerry đã giới thiệu Mai vào trường Quốc tế Overbrook school for the blind danh cho những người mù Tại đây có đầy đủ các thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập phục vụ cho người khiếm thị Sau một năm học ở Mĩ của Mai, bà John cũng hết nhiệm kì công tác ở Việt Nam và về nước Bà điện hỏi Mai: "Con có thích học
ở Mi không?" Mai bày tỏ nguyện vọng của mình là được tiếp tục học hết chương trình Bà John nói rằng, bà thương Mai như con, nhưng bà rất nghèo nên không thể giúp đỡ về tài chính cho Mai được, bà hi vọng sẽ có một tổ chức nhân đạo nào đó quan tâm đến Mai Năm thứ hai, Mai được chuyển sang học trường dành cho người khiếm thị ở Washington, nhưng do không phải là công dân Mĩ nên Mai chỉ được học một năm miễn phí Hết năm học, Mai gặp và đề đạt nguyện vọng được tiếp tục theo học tại trường với ông hiệu trưởng nhà trường — Tiến sĩ James Ông hiệu trưởng rất băn khoăn trước hoàn cảnh và nguyện vọng của Mai Cuối cùng, ông tạm xếp Mai ngồi học ở lớp 12 và mời một nữ phóng viên tới chụp ảnh, viết bài về trường hợp của Mai để kêu gọi hảo tâm của mọi người
Trong số những người giúp đỡ Mai, đáng kể nhất là bà Susan ở bang Washington State Bà đã cho Mai ăn ở tại nhà bà để tiếp tục học tập Hết lớp 12, Mai thi đỗ đại học chính quy với mức đóng học phí là 12.000 USD/năm và phải tự túc các bữa ăn sáng, trưa Trong hai năm đại cương, các môn Toán, Sử, Triết học, Tâm lí đối với Mai quả là một thử thách ghê gớm bởi Mai phải học với những người bình thường Nhà trường thuê một người đọc bài để Mai chuyển thành chữ
Trang 4nổi, còn trả bài bằng máy vi tính Rồi Mai được sử dụng máy đọc chữ của nha trường Các thầy cô lần đầu gặp Mai đều rất băn khoăn, nhưng sau một thời gian đều quý và tin tưởng ở sự nố lực phi thường của Mai Đồng thời, tình cảm của các thầy cô và bạn bè dành cho Mai cũng khiến em vô cùng cảm động và tự nhủ càng phải cố gắng hơn nữa Vì không muốn làm phiền nhà trường nhiều nên sang năm thứ hai Mai đã chủ động đề nghị nhà trường không phải thuê người đọc bài và kiểm tra bằng các hình thức kiểm tra miệng, vi tính Năm ấy, bà John cũng đã hơn
70 tuổi Vốn là người am hiểu về Việt Nam, thuộc nết ăn nết ở của Mai và thương
Mai như con nên bà John đã làm hết sức mình để giúp đỡ Mai Cùng với bà John, rất nhiều người Mĩ khác đã dành cho Mai những tình cảm và sự giúp đỡ quý báu Nhờ những tấm lòng như vậy, cộng với ý chí quyết tâm cao của bản thân, sau hai năm đại cương, Mai và một sinh viên người Mĩ duy nhất ở trường đã được nhận giấy khen xuất sắc và một bằng khen năm 2003 cùng với một số tặng phẩm Học hết hai năm đại cương, Mai vào trường đại học tư Pacifie Lutheral University do con trai bà Susan giúp đỡ Đây là trường quy tụ toàn HS giỏi nên bà Susan đã động viên Mai: "Cháu đừng lo, cháu đã vượt qua hai năm đại cương xuất sắc, bây giờ học chuyên ngành văn thì lo gì không bằng các bạn?" Bà còn nói:
"Bây giờ cháu ở nội trú, nghỉ hè cứ về Việt Nam, mọi chi phí cháu không phải lol"
Giờ đây Nguyễn Thị Thanh Mai đang nghỉ hè tại quê nhà Mai nói: "Nếu em
có được một việc làm tại Việt Nam thì em sẽ trở về phục vụ quê hương Nếu không, em lại tiếp tục học cao học" Tôi hỏi: "Vậy Mai có muốn trở về trường cũ
để dạy cho những người khiếm thị không?" Mai cười: "Nếu vậy thì còn gì bằng!"
* Yêu cầu trả lời các câu hỏi:
a Hiện tượng Thanh Mai có mang tính phổ biến không? Tại sao?
b Vấn đề đặt ra trong văn bản trên là gì? Có ý nghĩa xã hội như thế nào?
c Cảm nghĩ của anh (chị) về tấm gương Thanh Mai?
d Thử đặt cho văn bản trên một cái nhan đề khác
* Bài tập 4 (bổ trợ)
Ra một số đề bài nghị luận xã hội
+ GV có thể định hướng cho HS ra đề về các vấn đề sau:
a Nhà trường với vấn đề an toàn giao thông
Ví dụ:
Hiện nay, trên đường phố, có nhiều thanh niên điều khiển xe máy thường lạng lách, phóng nhanh vượt ấu và gây ra nhiều tai nạn đáng tiếc Bạn có nhận xét và suy nghĩ gì về hiện tượng trên
Trang 5b Nhà trường với vấn đề môi trường
Ví dụ:
Các phương tiện thông tin đại chúng luôn cảnh báo về hiện tượng tàn phá rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đang diễn ra một cách ồ ạt ở một số tỉnh Bạn có nhận xét và suy nghĩ gì về hiện tượng trên
c Nhà trường với các tê nạn xã hội
Ví dụ:
Nghiện hút ma tuý không chỉ làm khánh kiệt gia sản, thoái hoá nòi giống mà còn là nguyên nhân gây ra nhiều hiện tượng đau lòng như con cái bất hiếu với cha
mẹ, học trò bất kính với thầy cô, trẻ em vị thành niên phạm tội Bạn có nhận xét
và suy nghĩ gì trước hiểm hoạ ma tuý đối với cộng đồng?
Trang 6TUAN 5 (Bai 5)
Tiét 17 TIENG VIET
PHONG CACH NGON NGU KHOA HOC
A Kết qua cGn dat
— Nắm được các khái niệm văn bản khoa học, phong cách ngôn ngữ khoa hoc
và các đặc điểm của phong cách ngôn ngữ khoa học
— Tích hợp với các kiến thức Văn, Tập làm văn đã học và tích hợp với vốn sống thực tế,
— Có kĩ năng phân biệt phong cách ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và biết vận dụng ngôn ngữ khoa học vào các trường hợp cụ thể
B Thiét ké bai day — hoc
Hoat động I TIM HIEU KHAI NIEM
VAN BAN KHOA HOC VA NGON NGUKHOA HOC + GV yêu cầu HS tìm hiểu muc J trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1 Phân tích 3 ví dụ ở mục (1) và cho biết: Văn bản khoa học là gì?
2 Từ khái niệm về "Văn bản khoa học", hãy cho biết: Ngôn ngữ khoa học
là gì?
+ GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận và trả lời:
1
— Ví dụ a là một văn bản khoa học chuyên sâu
— Ví dụ b là một văn bản khoa hoc ding dé giang day
— Ví dụ c là một văn bản phổ biến kiến thức khoa học
* Văn bản khoa học là văn bản nghiên cứu một vấn đề khoa học, trình bày
một nội dung khoa học dùng để giảng dạy hoặc phổ biến những kiến thức khoa
học thông dụng (khoa học đại chúng, khoa học thường thức)
2 Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học (dạng viết, dạng nói) Nói cách
Trang 7khác, ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ chuyên dùng để xây dung cdc văn bản khoa học; nó có những đặc điểm riêng về từ ngữ, ngữ pháp, nhất là hệ thống các thuật ngữ khoa học
Hoạt động 2
TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮKHOA HỌC + GV yêu cầu HS tìm hiểu zc !ï trong SGK và trả lời các câu hỏi:
1 Phong cách ngôn ngữ khoa học có những đặc trưng nào?
2 Phong cách ngôn ngữ khoa học có gì khác với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật?
+ GV gợi dẫn HS trao đổi, thảo luận trả lời:
1 Phong cách ngôn ngữ khoa học có các đặc trưng sau:
a Tính khái quát, trừu tượng
Đặc trưng này biểu hiện rõ nhất ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là các thuật ngữ khoa học
Thuật ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ; nó
có các đặc điểm:
— Là lớp từ ngữ chuyên dùng để biểu thị các khái niệm khoa học, công nghệ
và thường được dùng trong các văn bản khoa học, công nghệ
— Thường mỗi thuật ngữ chỉ biểu thị một khái niệm và ngược lại, mỗi khái niệm chỉ được biểu thị bằng một thuật ngữ
— Thuật ngữ có tính khái quát, trừu tượng cao và không có tính biểu cảm
Do đó, khi giải thích hoặc hiểu được một thuật ngữ có thể coi là đã nắm được
một đơn vị tri thức khoa học nào đó
Ví dụ:
— Thạch nhñ: sản phẩm hình thành trong các hang động do sự nhỏ giọt của các dung dịch đá vôi hoà tan trong nước có chứa a-xít các-bô-níc (Dùng trong văn bản khoa học dia li)
— Badø: hợp chất mà phân tử gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều nhóm hi-đrô-xít (Dùng trong văn bản khoa học hoá học)
- Ẩn dụ: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó (Dùng trong văn bản khoa học Ngữ văn)
— Phân số thập phân: phân số mà mẫu là luỹ thừa của 10 (Dùng trong văn bản khoa học toán học)
— Lực là tác dụng đầy, kéo của vật này lên vật khác (Vật l0
Trang 8— Xâm thực là làm huỷ hoại dần dân lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân: gió, sóng biển, băng hà, nước chảy (Địa lí)
— Hiện tượng hoá học là hiện tượng trong đó có sinh chất mới (Hoá học)
— Trường từ vựng là tập hợp tất cả các từ có nét chung về nghĩa (Ngữ văn)
— Di chỉ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa (Lịch sử)
— Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp xúc với đầu nhuy (Sinh học)
— Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào
đó, trong một giây đồng hồ (Địa lí)
— Trọng lực là lực hút của trái đất (Vật lí)
— Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt trái đất (Địa lí)
— Đơn chất là những chất do một nguyên tố hoá học cấu tạo nên (Hoá học)
— Thị tộc phụ hệ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ (Lịch sử)
— Đường trung trực là đường thằng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm
giữa của đoạn ấy (Toán học)
Việc thường xuyên tiếp xúc với các văn bản khoa học và coi trọng việc rèn luyện thói quen giải thích nghĩa của các thuật ngữ chính là rèn luyện tư duy trừu tượng, rèn luyện năng lực tổng hợp hoá, khái quát hoá trong quá trình hoạt động
sống và phát triển của mỗi người
Một số dạng thuật ngữ mà chúng ta thường gặp là:
— Phiên âm:
glu-cô, xen-lu-lô, prô-tê-m, glu-xit, prô-tit, pê-ni-xê-lin, ăm-bi-xi-lin, hi-đrô,
các-bon, ni-cô-tin, ben-zen, xi-rô, bệnh pa-ki-sơn, bệnh ba-zơ-đô, bệnh ếch-z1-ma, mé-tan, xe-lua, u-ra-ni-um, sun-fua, a-xê-tôn, a-xé-tic, hé-m6-bi-li-ru-bin, ølu-cô-
za, bu-ti-la, ron-ghen, a-pa-tit, can-xi, ti-tan, ki-l6, ki-l6-met, cen-ti-met, de-xi- met, be-ri-li, mi-li-met
— Muon cua tiéng Han:
đạo hàm, vi phân, tích phân, thập phân, tử số, mẫu số, số nguyên, lượng giác, đại số, toán học, số học, hình học, hoá học, sinh học, địa lí, lịch sử, khí tượng, thuỷ văn, thiên văn, hải dương học, nhân chủng học, khảo cổ học, văn học, hình
tượng, tính cách, điển hình, nhân vật, tự sự, miêu tả, trữ tình, pháp luật, pháp
quyền, chính đảng, chuyên chính, tổ chức, pháp chế, chế tài
— Đặt theo tiếng Việt:
bệnh vàng da (hoàng đản), viêm phổi (phế viêm), màng tim trong (nội tâm mạc), viêm màng mắt (viêm giác mạc), chảy máu não (xuất huyết não), bệnh thiếu
Trang 9máu (ban huyết), chậm phát triển trí tuệ (thiểu năng não), tiếng (mooc— phem,
hình vị), ca múa nhạc (ca vũ nhạc), cầu đường (kiều lộ)
b Tính lí trí, lôgIc
Văn bản khoa học có mục đích là thông tín khoa học, nhận thức khoa học — những thông tin đòi hỏi con người phải động não kịch liệt trên cơ sở của một nền tảng tri thức nhất định, tức là nó đòi hỏi nang lực tư duy trừu tượng, năng lực khái quát hoá, tổng hợp hoá rất cao ở cả người viết lẫn người tiếp nhận Một người chưa học hết lớp 12 thì không thể đọc hiểu nổi các văn bản khoa học viết về nhóm máu,
về gien di truyền, về vật lí hạt nhân nguyên tử , và ngay cả những người đã học hết lớp 12 thì mức độ hiểu của mỗi người cũng rất khác nhau, chẳng hạn có người hiểu, có người lơ mơ, có người vẫn như xẩm sờ gậy Nói cách khác, văn ban khoa học mang đặc trưng lí trí, lôgic cả trong nội dung khoa học, cả ở phương tiện ngôn ngữ Đặc trưng này thể hiện ở:
— Việc dùng từ ngữ: các thuật ngữ đơn nghĩa
— Việc dùng câu: mỗi câu thường tương đương với một phán đoán lôgic, nghĩa
là được xây dựng từ hai khái niệm khoa học trở lên theo một quan hệ nhất định
Ví dụ:
+ Trái đất là một hành tĩnh chuyển động quanh mặt trời
+ Dao động là chuyển động có giới hạn trong không gian, lặp đi lặp lại nhiều
lần quanh một vị trí cân bằng
+ Cá là loài động vật có xương sống, sống ở dưới nước, bơi bằng vây và thở bằng mang
+ Phó từ là những từ chuyên đi kèm động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ
+ Câu trần thuật đơn là loại câu do một cụm C — V tạo thành, dùng để giới thiệu, tả hoặc kể về một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến
+ So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt
— Việc trình bày các đoạn văn, văn bản thường rõ ràng và cách lập luận thường hợp lí, chặt chẽ
Ví dụ:
(1) Sóng điện từ, những sát thủ vô hình
Tiếng ồn làm cho con người khó chịu, còn ô nhiễm sóng điện từ thì chúng ta khó cảm nhận được bằng cảm giác, trừ khi chúng ta gây tác động nhiệt Hiện nay, các nhà nghiên cứu cho rằng: mức gây ô nhiễm do các sóng điện từ đã tăng lên
Trang 10100 lần so với thập niên 70 và càng ngày càng gây ra nhiều tác hại đối với sự sống
và sức khoẻ của con người
Cần nhớ rằng, các sóng điện từ xuyên qua không gian từ điểm phát sóng và tác động của nó có thể gây ra ở mọi địa phương, nhất là khi tiếp xúc với chúng thường xuyên thì có thể chịu những hậu quả khó lường
Khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao
do các phương tiện, dụng cụ bằng điện, bằng kim loại, bằng pha lê, bằng sợi tổng hợp và sơn tường được sử dụng ngày càng phổ biến trong mỗi gia đình và chúng đem lại niềm vui cho chúng ta, nhưng có lẽ chúng ta ít khi nghĩ đến mặt trái của nó!
(Quốc Trung: Những mặt trái của văn mình nhân loại
NXB VHS — TT, 2004)
(2) Tác hại của thuốc lá
Bạn đã biết hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ như thế nào chưa?
Một điếu thuốc lá sản sinh ra 500 mililit khói, trong khói thuốc lá chứa hơn 3.000 chất hoá học, trong đó có 20 chất đã được xác nhận là gây bệnh ung thư Năm 1825, nhà hoá học Thuy §ĩ Picoto lần đầu tiên tìm ra chất nicôtin trong khói thuốc lá Chất này làm cho người hút thuốc lá đâm nghiện và cũng làm cho người hút bị nhiễm độc mạn tính chuyển sang nhiễm độc cấp tính
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng: chất nicôtin trong một điếu thuốc lá
đủ làm chết một cơn chuột, trong 20 điếu đủ làm chết một con bò Trong một cuộc thi hút thuốc lá ở Pháp, một người dự thi đã hút liên 60 điếu thuốc lá và bị nhiễm độc chết ngay tại chỗ
Năm 1954, các nhà khoa học đã tìm ra chất benzen trong khói thuốc lá và chứng minh chất này gây ra bệnh ung thư Năm 1974, các nhà khoa học lại tìm ra chất crizen và hợp chất của metyl với hàm lượng khá cao trong khói thuốc lá, gấp
5 lần chất benzen Những chất này khiến động vật nhiễm phải đều mắc bệnh ung thư với tỉ lệ 100% Năm 1977, các nhà khoa học lại tìm ra chất metyl hiđrazin gây bệnh ung thư, mỗi điếu thuốc lá chứa 0,15 miligam hoá chất này
Trong thuốc lá có chứa nhiều chất gây bệnh ung thư, vì vậy những người hút
nhiều thuốc lá đễ bị ung thư phổi, ung thư gan
Nam nữ thanh niên hút thuốc lá sẽ ảnh hưởng xấu tới thế hệ sau, nhất là phụ
nữ hút thuốc lá trong thời gian có thai đễ bị đẻ non, thai nhi nhẹ cân, thể chất thai nhi giảm sút, dễ sinh bệnh tật
Khói thuốc lá không những ảnh hưởng xấu đến người hút mà còn làm ô nhiễm môi trường xung quanh, khiến những người xung quanh tuy không hút thuốc cũng