1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 12 tập 2 part 8 pptx

25 483 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Bài Giảng Ngữ Văn 12 Tập 2 Part 8
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 7,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực ra, mọi hàm ý đều là một phần của thông tin mà người nói muốn truyền đạt; nhưng trong thực tế, người nói lại không bao giờ công khai thừa nhận điều đó; vì vậy người nói thường chốn

Trang 1

Một số câu chuyện vui minh hoạ:

* Bạo chúa Dionmis thời cổ đại rất sính làm thơ Một hôm, hắn rất đắc ý về một bài thơ vừa mới làm xong, bèn cho gọi một nhà thơ lừng danh đến, yêu cầu nhà thơ phải đọc và nhận xét bài thơ ngay trước mặt hắn Thay vì những lời tán tụng mà hắn đang chờ đợi, nhà thơ nọ chỉ nói cộc lốc: Quá dở! Tên bạo chúa nổi giận, bèn ra lệnh xích chân nhà thơ và đày xuống làm phu chèo thuyền Mấy tháng sau, tên bạo chúa lại rất đắc ý với một bài thơ khác, bèn ra lệnh dẫn nhà thơ đến, cho xem bài thơ, rồi gật gù hỏi: "Sao? Lần này thì hắn phải là kiệt tác chứ?"” Nhà thơ buồn bã thở dài, quay về phía hai tên lính đã áp giải mình đến, bảo: "Hãy đưa ta về chèo thuyền thôi! Nhanh lên!"

* Vương An Thạch là tế tướng đời Tống, Trung Quốc, Tô Đông Pha là một nhà thơ nổi tiếng cùng thời, nhưng luôn có ý coi thường kiến văn của Vương Một hôm, Vương mời Tô đến nhà chơi và có ý khoe khoang về cái kho sách riêng đồ sộ của mình Thấy Tô có vẻ hơi nể, Vương bèn phán một câu như đỉnh đóng cột:

— Tôi đã thuộc lòng tất cả những cuốn sách trong cái kho sách này! Chỉ cần ngài đọc bất cứ một câu nào trong bất kì một cuốn sách nào, tôi cũng có thể đọc ngay câu tiếp theo!

Vốn sẵn định kiến coi thường Vương nên Tô nghĩ: "Khoác lác đến thế là cùng! Ta sẽ chọn một cuốn thật cũ, nếu hắn có đọc chăng nữa thì chắc cũng quên rồi!" Nghĩ vậy, Tô cầm lên một cuốn sách phủ đầy bụi và đã rách nát tơi

ta, gid mot trang bất kì và đọc luôn: Như ý quân đâu Chẳng cần nghĩ ngợi, Vương liền đọc tiếp ngay: Ăn thịt mất rồi Tô thầm reo trong đầu: "Thua rồi, có a1 lại ăn thịt người yêu bao g1ờ?" Nhưng thật bất ngờ! Khi nhìn vào trang sách thì câu tiếp theo đúng là như vậy! Tô không giấu nổi vẻ thán phục Vương Nhân đó, Vương giải thích thêm: đây là chuyện chép trong sách Hậu Hán Thư

kể rằng có một người thợ săn vào rừng tình cờ bắt gặp cuộc thoại của hai chị

em con hồ li Hai con vật này đã thành tính và hoá thành hai cô gái xinh đẹp, chúng thường rình bắt các thư sinh khôi ngô tuấn tú về làm chồng Khi nào các chàng thư sinh bất hạnh không thoả mãn được dục tình của chúng nữa thì chúng liền ăn thịt Hôm ấy, một con đi kiếm ăn về, không thấy người tình đâu nên mới diễn ra cuộc thoại như vậy Sau đó hai con đánh nhau đữ dội và người thợ săn đã chớp thời cơ giết luôn cả hai con để trừ hậu hoạ cho các chàng trai trẻ Sau cuộc viếng thăm này, Tô và Vương trở thành đôi ban tri 4m tri ki Nếu thông tin được cung cấp nhiều hơn hoặc ít hơn yêu cầu mà cuộc thoại đòi hói thì hàm ý cũng nảy sinh Giả sử có một chàng trai tự giới thiệu với một

cô gái như sau: Tôi là Minh, sinh viên Khoa Báo ĐHQG Hà Nội, 26 tuổi, chưa

Trang 2

vợ! Cô gái sẽ lập tức nghi ngờ anh ta có ý đồ gì đó Để cung cấp những thông tin trên, cần phải có những điều kiện kèm theo như lịch sử quan hệ (quen biết

đã lâu), hoàn cảnh (vũ hội, dạ hội, sinh nhật bạn ) hoặc chính cô gái đã có cảm tình với chàng trai

Xét về mặt hiển ngôn, những câu sau đây có vẻ vô lí: Chiến tranh là chiến tranh, Đàn bà là đàn bà, Sự thật vẫn là sự thật Tuy nhiên, người nghe phải dựa trên những hiểu biết nhất định để hiểu thông qua một chuỗi suy luận, chang hạn về những thuộc tính chỉ đàn bà mới có, những hệ luy tàn nhẫn và phi lí của chiến tranh, sức mạnh của sự thật

Khác với cách nói trên, những câu như: Sướng chửa?, Đẹp mặt nhỉ!, Rõ hay nhỉ! , người nói đã cố tình vi phạm nguyên tắc về cách thức nên mới thoạt nghe tưởng là khen; nhưng thực chất là chê bai, giễu cợt Muốn hiểu dụng ý của người nói, người nghe phải có những hiểu biết về hoàn cảnh phát ngôn, về ngữ điệu, về thái độ tình cảm của người nói

Ngược lại với "khen vờ", trong khẩu ngữ còn có lối "chê vờ", chẳng hạn khi nói: Phải gió cái anh này, Ghét quá đi mất, Tay ấy thế mà tớm thật

3 Đặc điểm của hàm ý hội thoại

Tất cả những hàm ý hội thoại mà chúng ta nghiên cứu đều được sử dụng trong hội thoại Người nghe phải dựa vào tri thức và vốn sống; đồng thời thông qua suy luận, suy diễn để hiểu nhằm duy trì quá trình cộng tác đối thoại Thực

ra, mọi hàm ý đều là một phần của thông tin mà người nói muốn truyền đạt; nhưng trong thực tế, người nói lại không bao giờ công khai thừa nhận điều đó;

vì vậy người nói thường chống chế rằng: "Tôi không có ý nói như thế ; Anh chưa hiểu ý tôi định nói mà ; Xin lỗi, có thể cách diễn đạt của tôi đã khiến anh hiểu lầm chăng? " O Ducrot cho rằng: "Nói một cái gì đó mà không vì thế mà nhận trách nhiệm là đã có nói, nghĩa là có thể vừa có được hiệu lực của nói năng, vừa có được sự vô can của sự im lặng"

Ví dụ:

Khi sắp nhượng bộ một gã Sở Khanh lọc lõi, người con gái ngây thơ nói:

"Anh phải thề giữ kín chuyện này, không được bép xép nhé!" Gã trai họ Sở ráo hoảnh đáp: "Người quân tử không bao giờ hành xử như vậy!" Nhưng chỉ vài ngày sau, mọi người đã biết chuyện, cô gái bèn trách: "Sao anh đã nói thế mà lại nuốt lời?" Gã họ Sở thản nhiên đáp: "Anh nói là người quân tử không bao ø1ờ hành xử như vậy, chứ anh có nhận mình là người quân tử đâu?”

Trong công viên, người đàn ông thấy thiếu phụ ngồi một mình trên ghế đá với một con chó to ngồi đối diện trên đất Người đàn ông đến gần, hỏi: "Con

Trang 3

chó của chị có cắn không?" Thiếu phụ trả lời: "Không!" Người đàn ông bèn sáp lại gần người thiếu phụ và bị con chó đớp cho một miếng, ông ta kêu lên:

"Sao chị bảo là con chó của chị không cắn kia mà?" Thiếu phụ mỉm cười đáp:

"Vâng, đúng thế, chó của tôi không hề cắn Còn đây không phải là con chó của tôi!"

Một đôi trai gái vào rừng chơi cùng nhìn thấy một bông hoa lạ và đẹp trên vách núi cheo leo Cô gái muốn chàng trai hái cho mình bông hoa ấy, nhưng lại nói lấp lửng: "Anh nhìn bông hoa đẹp không kìa?" Đoán được ý cô gái, chàng trai bèn trèo lên hái bông hoa cho cô Cô gái rất mãn nguyện khi có bông hoa đẹp trong tay, nhưng lại thản nhiên nói: "Đây là anh tự nguyện làm chứ em không đòi hỏi đâu nhé!"

(Lược dẫn theo: Nguyễn Thiện Giáp Dụng học Việt ngữ NXB DHQGV Ha Ndi 2000)

* HIẾN NGÔN VỚI HÀM NGÔN

Trong thực tiễn giao tiếp xã hội, có hai cách nói: "nói thẳng, nói trắng, nói toạc ra” và "nói bóng ø1ó, nói vòng vo, nói quanh co, nói lơ lửng, nói lập lờ, nói úp mở” Có người cho răng, ở đời, chỉ có cách nói thứ hai! Tuy nhiên, bài viết này không có ý định bàn về việc trên; bởi vì vấn đề hiển ngôn và hàm ngôn được đặt ra trong mối quan hệ với nhau

Vấn đề này ngày càng trở nên hấp dẫn; nó thuộc lí thuyết giao tiếp, ngữ dụng học, ngôn ngữ học văn bản, lôgic — ngữ nghĩa học là những môn mà ở các nước khác đã có khá nhiều công trình, ở Việt Nam cũng đã có sự quan tâm với các công trình đã được xuất bản của Hoàng Phê, Nguyễn Đức Dân

Sức hấp dẫn của vấn đề là ở sự cân nhắc của người nói: chọn cách nói nào (trong hai cách nói trên), vì sao ; tức là sự cân nhắc trong "hành động phát ngôn để tạo ra "phát ngôn" có hiệu lực Sức hấp dẫn của vấn đề lại còn ở sự cố gắng của người nghe để hiểu cho trúng cái ý của người nói; đây cũng là sự cố gắng giải mã, nhưng giải mã đặc biệt, vì trong cách nói thứ hai thì không phải đơn thuần chỉ có mã ngôn ngữ

Vấn đề xuất hiện trong giao tiếp bình thường, và tất nhiên, cả trong văn chương nghệ thuật

Vấn đề thật thú vị Nhưng cũng không đơn giản Đưa nó vào trường học là rất có ích, là cần thiết Nhưng ở chừng mực nào? Và đặc biệt với cách giải thích thế nào?

Có thể mở đầu bằng một ví dụ ít phức tạp sau đây:

Trang 4

Thấy B lại châm thuốc, điếu thuốc thứ hai tiếp ngay điếu thứ nhất, A liền bảo B:

- Anh Tư thôi hút rồi!

Rõ là nói lơ lửng, lửng lơ! A thực sự muốn nói gì? Và B hiểu thế nào? Hãy thử phân tích:

- Bằng phát ngôn "Anh Tư thôi hút rồi", A đã thông báo với B một tin:

"Hiện nay anh Tư không hút thuốc” Tư là nhân vật thứ ba được A nói đến; cả

A và B đều biết anh Tư là ai Nhưng cho tới khi nghe A nói, B có thể chưa biết tin đó Hay có thể B đã biết, nhưng A coi như B chưa biết Nội dung của tin đó, chúng ta quy ước là "nghĩa m” Nghĩa này hiện lên từ bề mặt của phát ngôn trong cấu tạo từ vựng và ngữ pháp của nó Đáng chú ý là từ "thôi" “Thôi hút”

có nghĩa là "không hút nữa" Bất kì ai cũng nhận ra nghĩa m; điều kiện duy nhất là biết tiếng Việt Nghĩa m là nghĩa "hiển ngôn"

— Từ nghĩa m, lại còn hiện ra nghĩa n là “Trước đây, anh Tư có hút thuốc" Nghĩa này cũng có quan hệ tới cấu tạo từ vựng và ngữ pháp của phát ngôn, nhưng không phải là quan hệ trực tiếp "Thôi hút" tức là “có hút thuốc trước khi thôi" Nghĩa n là hệ luận từ nghĩa m Nó được gọi là nghĩa "tiền giả định" Nó

là cái tiền đề, trên đó được xây dựng phát ngôn

- Các nghĩa m và n đều không chứa đựng cái ý mà thực sự A muốn nói với B; ý đó là "Anh Tư thôi hút, sao B không thôi? Hãy kiên quyết như anh Tư, anh ấy thôi được thì B cũng phải thôi được!" Có thể gọi đây là nghĩa p Nghĩa này được "suy ra”, "luận ra", 'Tút ra" từ các nghĩa m + n; tức là cũng từ cấu tạo ngôn ngữ của phát ngôn Tuy nhiên, để hiểu nghĩa p, còn cần phải chú ý đến ngôn điệu, vẻ mặt, điệu bộ của A Tức là, ngoài việc biết tiếng Việt, còn phải có vốn sống để B tự biết: mình nghiện nặng, đã cố gắng cai nhưng thất bại, hoặc không có ý định cai , B cũng biết A không thích nói thắng mà thích nói vòng vo, châm biếm hoặc thích tế nhị , B cũng biết thái độ tẩy chay của A đối với thuốc lá (hại sức khoẻ, tốn tiền ) Một căn cứ quan trọng khác góp phần vào việc giải mã phát ngôn của A là quan hệ giữa A và B (vợ chồng, bạn

bè, thân sơ ) Tóm lại, nghĩa p là nghĩa ẩn ý, nghĩa tiền giả định, nó hợp lại thành ngh1a “hàm ngôn

Đối với nghĩa của phát ngôn, các nhà nghiên cứu đều phần lớn dùng phương pháp lưỡng phân, tức là chia đôi thành "nghĩa hiển ngôn" và "nghĩa hàm ngôn" Nghĩa hiển ngôn là nghĩa hiện rõ từ hình thức bề mặt của phát ngôn Trong tiếng Việt, yếu tố "hiển" (gốc Hán) được gặp ở những từ quen thuộc như: hiển hiện, hiển nhiên, hiển minh, hiển đạt, hiển hách , nó có nghĩa chung là "rõ ràng" Trái lại, nghĩa hàm ngôn không hiện rõ từ bề mặt của phát ngôn Yếu tố "hàm" (gốc Hán) được gặp ở những từ như: bao hàm, hàm súc, hàm ẩn và cả ở từ "hàm tiếu" Dù không biết tiếng Hán thì thông qua liên tưởng, HS cũng có thể suy ra được nghĩa của "hàm" là "kín, giấu, không lộ ra"

Trang 5

Điều cần nhấn mạnh là quan hệ mật thiết giữa hiển ngôn và hàm ngôn, tức

là có hiển ngôn sẽ có hàm ngôn, nếu không có hàm ngôn thì không cần đặt ra vấn đề hiển ngôn làm gi!

Ví dụ:

- Mùa hè A và B cùng ngồi họp trong một căn phòng chật chội A nói:

"Nóng quá!" Rồi B nói tiếp: "ừ, nóng thật!" thì có thể nói phát ngôn của A không có hàm ngôn; nhưng nếu đến nhà riêng của B mà A nói như vậy thì B có thể đáp: "Có bia lạnh đây!" và A sẽ khen B: "Cậu luôn là người thông minh!" Trong trường hợp này, phát ngôn của A không phải để phàn nàn về thời tiết,

mà để Gợi ý: "Có gì mát để uống không?", tức là có hàm ngôn và B giải mã được hàm ngôn ấy Nói cách khác, đã có hàm ngôn tức là có sự đối lập hàm ngôn - hiển ngôn

Nghĩa ấn ý và nghĩa tiền giả định đều là hàm ngôn, đều "không nói ra", nhưng giữa hai nghĩa này vẫn có sự khác nhau Nghĩa ẩn ý đòi hỏi một sự giải

mã đặc biệt Ngoài mã ngôn ngữ, còn phải có mã tâm lí, xã hội

Trong thực tế, có thể xảy ra trường hợp như sau:

A: - Mình vừa bị cô giáo mắng dữ quá!

B: - Vậy xin chúc mừng!

Sao lại "chúc mừng"? Hiểu thế nào đây, nếu không nắm được những điều kiện cần thiết thuộc tình huống

Cũng có thể xảy ra tường hợp này:

A: — Hôm nay, em xinh nhất!

B: - Cảm ơn anh, nhưng cảm ơn thay cho Lan đấy, anh nhé!

Lại hiểu sao đây, nếu không phải là người trong cuộc? Và nếu mình ở ngoài cuộc, mà muốn hiểu, thì phải tò mò, tìm cho ra các "tình tiết" của những

lời trong cuộc thoại trên thì mới hiểu được

Trong văn chương, chúng ta có thể gặp những trường hợp khó hiểu như trên; nhưng rồi bằng vốn sống, thông qua các tình huống cụ thể trong văn bản, thông qua mối liên hệ giữa hiển ngôn với hàm ngôn, ẩn ý, tiền giả định ; chúng ta vẫn có thể giải mã được ngôn ngữ nghệ thuật để cảm nhận về cái hay, cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật

(Lược trích theo: Hoàng Tuệ Ngôn ngữ và đời sống xã hội - văn hoá

NXB GD Ha Ndi 1996)

Trang 6

TIỀN ĐỀ VÀ KÉO THEO

I Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn

Trong giao tiếp, người nói nhận thấy có những thông tin mà người nghe đã biết Vì coi đó là những thông tin đã biết nên nói chung, những thông tin như thế không được nói ra và do đó sẽ là một phần của cái được thông báo mà không nói Khi lĩnh hội ý nghĩa của các câu nói, người nghe hiểu rằng, ngoài nghĩa "hiển ngôn" - tức là cái nghĩa mà họ có thể rút ra được từ nghĩa nguyên văn (nghĩa đen và cả nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy; còn có những ý nghĩa vô hình, không có sẵn trong ý nghĩa nguyên văn của từ ngữ và trong những mối quan hệ cú pháp của câu, nhưng vẫn thấu đến người nghe qua một sự suy luận Đó là "nghĩa hàm ẩn" của câu Các thuật ngữ "tiền đề" và "kéo theo" được sử dụng để miêu

tả hai bình diện khác nhau của loại thông tin này

Tiền đề là một điều gì mà người nói coi là đã có trước khi nói câu đó Người nói, chứ không phải câu, có các tiền đề

Kéo theo là những điều rút ra theo logic từ những cái được khẳng định trong phát ngôn Câu, chứ không phải người nói có sự kéo theo

Muốn giao tiếp thành công, người ta phải hiểu đầy đủ cả nghĩa hiển ngôn lẫn nghĩa hàm ẩn của các câu nói Không hiểu nghĩa hàm ẩn của một câu nói là chưa thật sự hiểu câu nói đó và đó là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng "ông nói

gà, bà nói vịt" Vì thế, nghiên cứu nghĩa hàm ẩn phải là một nội dung quan trọng trong ngữ nghĩa học và ngữ dụng học

IL Tiên dé

1 Định nghĩa

Hãy phân tích câu:

— Anh của Trà Mi đã mua ba chiếc xe máy

Khi nói câu này, người nói phải có những tiền đề là (a) có một người tên là Trà MI, (b) cô ta có một người anh và anh ta có nhiều tiền Tất cả những tiền đề

đó là thuộc người nói và trong thực tế, tất cả đều có thể sai Nếu chấp nhận câu trên là đúng thì cũng phải chấp nhận các tiền đề của nó là đúng Như vậy, có thể định nghĩa tiền đề là những mệnh đề mà tính chân thực của chúng được dùng làm bảo đảm cho phát ngôn của ngôn bản, những mệnh đề mà thiếu chúng thì phát ngôn không thể được coi là có giá trị

2 Đặc điểm của tiền đề

Nói chung, đặc điểm của tiền đề là không bị thay đổi do sự phủ định, tức là tiền đề của một nhận định sẽ giữ nguyên (tức là vẫn đúng) ngay cả khi nhận định đó bị phủ định Ví dụ:

Trang 7

— Vợ anh Tùng rất đảm đang

Khi nói câu này, người nói phải tin là "có một người tên Tùng” và “anh ta

đã có vợ" Khi chuyển câu trên sang dạng phủ định:

— Vợ anh Tùng không đảm đang

thì chỉ cái nhận định trong câu bị phủ định, còn các tiền đề đều không bị phủ định

Tiền đề trong câu:

— Mọi người đều biết GS Hà Minh Đức là chủ nhiệm khoa Báo Khi chuyển câu trên sang dạng phủ định thì cái tiền đề đó vẫn giữ nguyên:

— Mọi người đều không biết GS Hà Minh Đức là chủ nhiệm khoa Báo Khi tôi hỏi Ngàn:

— Người yêu của Huyền đẹp trai nhỉ?

thì tôi phải biết có một người con gái tên Huyền và tôi tin cô ấy đã có người yêu Nếu Ngàn trả lời bằng một câu phủ định:

— Người yêu của Huyền đâu có đẹp trai!

thì Ngàn chỉ phủ định cái nhận định đẹp trai thôi, chứ không phủ định tiền

đề về sự tồn tại của cô gái tên Huyền và sự kiện cô ta đã có người yêu

3 Các kiểu tiền đề

Khi phân tích những điều người nói coi là đúng được họ thể hiện như thế nào thì thấy tiền đề có liên quan đến việc sử dụng một số lớn các từ, cú đoạn và cấu trúc nào đó Người ta coi những hình thức ngôn ngữ ấy là những chỉ tố của những tiền đề tiềm tàng Căn cứ vào những chỉ tố này, có thể phân loại tiền đề như sau:

3.1 Tiền đề tồn tại

Tiền đề tồn tại là tiền đề thể hiện trong những cấu trúc sở hữu và những danh ngữ xác định Trong những ví dụ dẫn ở trên, các cấu trúc "anh của Trà

MI, vợ của Tùng, người yêu của Huyền” là những cấu trúc sở hữu Vì thế tiền

đề ở những câu ấy là tiền đề tồn tại Khi sử dụng những danh ngữ xác định như

"ông chủ nhiệm già, cô nhân viên trẻ, người thiếu phụ đứng bên cửa sổ ", người nói cũng cam kết sự tồn tại của những thực thể được gọi tên Ví dụ:

- Người thiếu phụ đứng bên cửa số mơ màng nhìn ông chủ nhiệm gia

— Cô nhân viên trẻ khúc khích cười

3.2 Tiền đề thực hữu

Tiền đề thực hữu thể hiện trong câu:

Trang 8

— Mọi người đều biết GS Hà Minh Đức là chủ nhiệm khoa Báo

được bắt đầu xem xét từ vị từ "biết" trong cấu trúc "ai đó biết rằng x với x"

là tiền đề Cái thông tin làm tiền đề theo sau vị từ "biết" có thể được coi là có thật Một số các vị từ khác như "nhận thấy, hiểu ra, vỡ lẽ ra, giác ngộ, tiếc, thú thật " cũng có tiền đề thực hữu Ví dụ:

— Tôi mới vỡ lẽ ra là em giận tôi (em giận tôi là có thật)

— Rất tiếc là anh đã đến muộn (việc anh đến muộn là có thật)

— Ngan không nhận thấy Huyền đang bận sao? (Huyền dang bận là có

thật)

3.3 Tiền đề phi thực

Tiền đề phi thực là tiền đề được xác nhận là không phải có thực

Ví dụ:

— Anh tưởng nước giếng sâu, anh nối sợi dây đài

A1 ngờ giếng nước cạn, anh tiếc hoài sợi dây

Vị từ "tưởng" được dùng với tiền đề là điều tiếp theo nó là không có thật (giếng nước sâu là không thực)

— Ngỡ là phu quý phụ vinh

A1 ngờ một phút tan tành thịt xương

Vị từ "ngỡ là" cũng được dùng với tiền đề là điều tiếp theo nó là không có thật Nhưng trong cả hai ví dụ trên, từ "ngờ" đều được dùng với tiền đề thực hữu: giếng nước cạn là thật, tan tành thịt xương là thật

- Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ

Râu Bác dài, tóc Bác bạc phơ

Vi ti "mo" trong câu trên cũng được dùng với tiền đề phi thực: gặp Bác Hồ

là điều không có thật

3.4 Tiền đề phản thực

Tiền đề này thể hiện ở những cấu trúc có từ "nếu" Ví dụ:

- Nếu trái đất bằng quả cam, ta sẽ bỏ nó vào túi áo

- Nếu mẹ ta không sinh ra ta thì ta đâu phải khổ thế này!

Những tiền đề trong các cấu trúc trên chẳng những không có thực mà còn đối lập với điều có thực Tại thời điểm phát ngôn, trái đất không phải là quả

`

cam và "ta" đã có mặt ở trên đời - Đó mới chính là sự thật hiển nhiên!

Trang 9

3.5 Tiền đề kết cấu

Tiền đề này thể hiện ở những câu như:

— Bao gi0 anh di?

- Anh đã mua quyển sách này ở đâu?

Trong các câu hỏi trên, các thông tin đi kèm về "thời gian" và "địa điểm" được coi là sự thật Người nói có thể dùng cấu trúc như thế để coi cái thông tin

ấy là tiền đề và do đó được người nghe chấp nhận là thật

Công an thường hay hỏi tội phạm, kiểu như:

— Anh đã giấu số vàng cướp được ở đâu?

- Anh đã mua øì với số tiền cướp được?

Với người nói (công an), việc người nghe (đối tượng hình sự) cướp vàng và cướp tiền là một sự thật hiển nhiên, không cần bàn cãi; người nói chỉ quan tâm đến việc số vàng ấy giấu ở đâu và số tiền ấy dùng để mua gì mà thôi! Nếu người nghe chấp nhận những câu hỏi kiểu đó là hợp lí thì mặc nhiên đã thừa nhận tội ăn cướp của mình

Muốn biết Hương đã có người yêu hay chưa, ta có thể hỏi:

- Hương hay giận người yêu lắm phải không?

Nếu Hương trả lời: "Không, em có người yêu đâu mà giận?" thì Hương đã phủ nhận cái tiền đề trong câu hỏi, coi câu hỏi là không hợp lí Nhưng nếu Hương trả lời: "Không, em có hay giận đâu!" thì Hương đã thừa nhận mình có người yêu Và tất nhiên, người hỏi chỉ cần có thế!

3.6 Tiền đề từ vựng

Trong tiền đề từ vựng, việc dùng một hình thức với ý nghĩa nào đó được người ta giải thích một cách ước định như là có một tiền đề là một ý nghĩa khác cũng được hiểu Ví dụ:

— Chi Thuan nay da lam me

Trong câu trên, qua từ "mẹ”, người nói chỉ muốn thông báo cho người nghe rằng chị Thuận "đã có con" Đó là ý nghĩa đã xác định của từ "mẹ" Nhưng chỉ phụ nữ mới đẻ con, nên người nghe phải mặc nhiên hiểu "mẹ" là phụ nữ

Như trên đã nói, đặc điểm của tiền đề là không bị thay đổi do sự phủ định Khi nói:

— Huyền chưa hề làm mẹ

thì chỉ ý "có con” bị phủ định, chứ không phủ định Huyền là phụ nữ

Trang 10

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê giải thích "phụ nữ là người lớn thuộc nữ giới" Như vậy, nghĩa của từ "phụ nữ" gồm hai phần: "người lớn" và "nữ giới" Trong câu:

— Trà MI nay đã là phụ nữ

thì người nói muốn thông báo rằng Trà Mi đã lớn, chứ cái tiền đề Trà Mi là

nữ giới vốn là một sự thật hiển nhiên

Trong câu phủ định:

- Em còn bé lắm, em chưa là phụ nỡ đâu!

thì cái ý "đã lớn" bị phủ định, còn tiền đề nữ giới vẫn giữ nguyên

Những từ "thôi, bắt đầu, lại, mãi " dưới đây đều có tiền đề từ vựng:

Tôi thôi hút thuốc rồi Tôi đã hút thuốc

Sinh viên bắt đầu phàn nàn về vấn đề chỗ ở Trước đó, sinh viên không phàn nàn

Biết rồi, khổ lắm, nói mãi Trước đó đã nói nhiều

— Ngàn mở cửa ra cho thoáng

thì cái cửa phải ở trạng thái đóng

I Kéo theo

Như trên đã nói, kéo theo là những điều rút ra theo lô-gic từ những cái được khẳng định trong phát ngôn Ví đụ:

- Giáng Hương đã thi đỗ vào 3 trường đại học

Câu này có thể có những kéo theo sau:

a Ai đó đã thi đỗ vào 3 trường đại học

b Giáng Hương đã làm gì đó với 3 trường đại học

c Giáng Hương đã thi đỗ vào một số trường đại học

d Cái gì đó đã xảy ra

Trang 11

Khi nói "Giáng Hương đã thi đỗ vào 3 trường đại học”, người nói nhất định

đã cam kết tính chân thực của rất nhiều kéo theo cơ bản, mà một số đã được nêu ở trên Tuy nhiên, trong bất cứ trường hợp nào phát ngôn "Giáng Hương đã thi đỗ vào 3 trường đại học", bằng sự nhấn mạnh cần thiết, người nói sẽ chỉ ra kéo theo nào là đáng chú ý nhất, nó quan trọng hơn những kéo theo khác đối với cái nghĩa định giải thích Chẳng hạn khi nhấn mạnh vào "Giáng Hương" thì điều cần khang định là "ai đó" đã thi đỗ vào 3 trường đại học Khi nhấn mạnh vào "3" thì điều cần khẳng định là "Giáng Hương đã thi đỗ vào một số trường đại học" Ngoài ra, còn có thể nhấn mạnh bằng trợ từ (cho kéo theo a):

- Chính Giáng Hương đã thi đỗ vào 3 trường đại học

Hoặc từ những" (cho kéo theo c):

- Giáng Hương đã thi đỗ vào những 3 trường đại học

Kéo theo có vị thế mạnh hơn tiền đề Sức mạnh của kéo theo có thể được dùng để xoá bỏ tiền đề tồn tại Như trên đã phân tích, những danh ngữ xác định kiểu như "con ma cà rồng" có tiền đề là sự tồn tại của thực thể được gọi tên

"ma cà rồng" Ví dụ:

- Ma cà rồng đến bắt nó

Nhưng trong câu:

— Ma cà rồng không tồn tại

có kéo theo là "không có ma cà rồng" Kéo theo này đã xoá bỏ tiền đề có

ma cà rồng do danh ngữ "ma cà rồng” đem lại

Các kiểu tiền đề đã miêu tả ở trên là những tiền đề tiềm tàng, chúng chỉ trở thành những tiền đề thực sự khi người nói có ý định coi chúng là tiền đề trong phát ngôn Cấu trúc sở hữu như "bức thư của nó” có tiền đề tiềm tàng là "nó có một bức thư” Nhưng trong câu:

— Nó lục tìm bức thư của nó hay cái gì đó

thì rõ ràng người nói không cam kết tiền đề "nó có bức thư” là thực

Điều này cũng chứng tỏ rằng tự thân các từ, cú đoạn và câu không hề có tiền đề mà chỉ người nói có tiền đề mà thôi

(Lược dẫn theo: Nguyên Thiện Giáp Dụng học Việt ngữ

NXB ĐHQGV Hà Nội, 2000)

* Bài tập vận dụng-

Trong cuộc sống, ta có thể gặp những phát ngôn sau:

1 Bạn Sơn có tiến bộ đáng kể về môn Toán

Trang 12

a Tiền đề: trước đó, Sơn rất kém về môn Toán

b Kéo theo:

— Sơn có uy tín hơn đối với các bạn trong lớp

— Sơn đã học g1ỏi môn Văn, nay g1ó1 Toán nữa là toàn diện

- Sơn có thể sớm được kết nạp vào Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

- Sơn có thể đạt danh hiệu HS giỏi

— Anh Ba sẽ khoẻ hơn

— Anh Ba sé tiết kiệm được một khoản chi không nhỏ

— Anh Ba đã làm gương cho các em tra

- Anh Ba sẽ được chị Hoa chấp nhận lời tỏ tình (điều kiện của chị Hoa là anh Ba phải cai thuốc 14!)

— Anh Ba là người trọng lời hứa

- Anh Ba là người có nghị lực đáng nể

3 Mùa xuân năm nay không mưa

a Tiền đề: các mùa xuân trước có mưa

b Kéo theo:

- Hương vị mùa xuân không bằng các năm trước

— Hoa lá, có cây không xanh tươi như các năm trước

— Con người cảm thấy bị ức chế, không vui

- Hình như là một điềm báo không mấy tốt lành

- Có một điều gì đó thật bất thường, bí ẩn

— Ai cũng mơ hồ lo lắng

Ngày đăng: 23/07/2014, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm