Nicotinamide adenine dinucleotide có nhiều vai Nicotinamide adenine dinucleotide có nhiều vai trò thiết yếu trong quá trình trao đổi chất. Nó hoạt động như một coenzyme trong các phản ứ
Trang 1Giáo viên hướng dẫn: TS Võ Văn Toàn Học viên thực hiện: Vũ Thị Thúy Vy.
Lớp: Sinh học thực nghiệm – K12.
Trang 2NỘI DUNG CHÍNH:
1 Khái quát chung.
2 Enzim oxi hóa khử.
3 Vai trò trong phản ứng oxi hóa khử.
4 Các vai trò khác ngoài oxi hóa khử.
5 Dược lý học.
6 Lịch sử.
Trang 3Nicotinamide adenine dinucleotide có nhiều vai Nicotinamide adenine dinucleotide có nhiều vai trò thiết yếu trong quá trình trao đổi chất.
Nó hoạt động như một coenzyme trong các phản ứng oxi hóa khử.
Là chất nhận của ADP-Ribose ở phản ứng ADP- ribosylation, như là tiền thân của phân tử thông tin thứ hai trong vòng ADP-Ribose.
Nó cũng tác động như một chất nền cho DNA
ligases của vi khuẩn.
Một nhóm enzyme được gọi là sirtuins sử dụng
1 Khái quát.
Trang 4 Vai trò chính của NAD+ trong trao đổi chất là
chuyển tải các electron từ phân tử này đến các
phân tử khác
Các phản ứng loại này được xúc tác bởi một
nhóm enzym lớn được gọi là oxidoreductases
Tên chính xác của các enzyme này bao gồm cả tên chất nền của nó.
Ví dụ: NADH- ubiquinone oxidoreductaza là enzyme xúc tác cho quá trình oxy hóa của NADH bởi coenzym Q.
Tuy nhiên, các enzym này cũng được gọi là
dehydrogenas hoặc reductases.
Ví dụ: NADH-ubiquinone oxidoreductaza
thường được gọi là NADH dehydrogenase hoặc đôi
2 Enzim oxi hóa khử.
Trang 5 Khi gắn vào một protein, NAD+ và NADH thường được sắp xếp trong một motif cấu trúc gọi là nếp gấp Rossmann
Cấu trúc này có chứa ba hoặc nhiều sợi beta
song song được liên kết bởi hai phân tử helices
alpha theo trật tự beta-alpha-beta-alpha-beta
Cấu trúc này tạo thành một tấm bản beta được bảo vệ bởi hai lớp helices alpha nằm ở mỗi bên.
Trang 6Nếp gấp Rossmann trong một phần của phân tử lactate
dehydrogenase của
Cryptosporidium parvum.
Chú thích:
NAD + màu đỏ.
Mặt phẳng bêta màu vàng.
Phân tử alpha helices màu tím.
Trang 7 Khi gắn vào vị trí hoạt động của
oxidoreductaza , vòng nicotinamide của coenzym
là vị trí có thể nhận một hiđrô từ các chất nền
khác Bởi vì cacbon số 4 là vị trí nhận hydro còn trống
Trong trường hợp này một enzyme có thể tạo ra
một trong hai đồng phân của NADH Trong một số enzym, hydro được chuyển từ phía trên mặt
phẳng của vòng nicotinamide, chúng được gọi là lớp oxidoreductases A, trong khi đó lớp enzyme B chuyển giao các nguyên tử từ bên dưới
Cấu trúc 3- D của NAD +.
Trang 8Cấu trúc 3-D của NAD+
Trang 9 Mặc dù có sự giống nhau trong cách liên kết với protein nhưng hai enzyme này hầu như luôn hiển thị tính đặc hiệu cao của nó
Tính đặc hiệu này phản ánh vai trò trao đổi chất
riêng biệt của từng coenzyme, và là kết quả của
sự sắp xếp khác nhau của lượng axit amin dư
trong cấu trúc của hai loại coenzym
Ví dụ: Trong vị trí hoạt động của NADP- phụ
thuộc enzym, một ion được hình thành giữa mặt bên của chuỗi axit amin và gốc phosphat của
NADP +
Trang 10Ngược lại, trong NAD phụ thuộc enzim thì chất mang trong cấu trúc này bị đảo ngược,
ngăn ngừa sự liên kết NADP+
Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ
ngoài quy luật chung Ở một số loài, các enzym như aldose reductase, glucose-6-phosphat
dehydrogenase, và methylenetetrahydrofolate reductase có thể sử dụng cả hai coenzyme
Trang 12 Các phản ứng oxi hóa khử xúc tác bằng
oxidoreductases là một trong những yếu tố
trong quá trình trao đổi chất, nhưng một trong những khu vực đặc biệt quan trọng, tại đó các phản ứng xảy ra làm giải phóng năng lượng từ chất dinh dưỡng.
Ở đây, các hợp chất khử như đường bị ôxi hóa, nhờ đó mà năng lượng được giải phóng
rồi khử đến NADH, đó là một phần của chu
trình glycolysis và chu trình axit citric
Trang 13Ở sinh vật nhân chuẩn các điện tử được
mang bởi NADH được sản xuất trong tế bào chất từ chu trình glycolysis được chuyển vào
ti thể (để khử NAD+ ti thể ) bằng con thoi ti
thể, chẳng hạn như con thoi malat-aspartate
Các NADH ti thể sau đó lần lượt bị ôxi hóa
thông qua hệ thống dây chuyền vận chuyển điện tử, bơm proton qua màng tế bào và tạo
ra ATP qua thông qua quá trình phosphoryl oxy hoá Những hệ thống con thoi cũng có chức năng vận chuyển tương tự trong lạp
lục.
Trang 14 Bởi vì cả hai dạng ôxi hóa và khử của
dinucleotide nicotinamide adenine đều được sử
dụng trong tất cả các khâu của các phản ứng Do vậy tế bào duy trì nồng độ NAD+ và NADH ở mức cân bằng
Tỷ lệ NAD+ / NADH cao cho phép coenzym này hoạt động như một chất oxi hóa và một chất khử Ngược lại, chức năng chính của NADP+ là chất khử trong quá trình đồng hóa, coenzyme này tham gia vào con đường tổng hợp axit béo và quang hợp.
Vì NADPH cần thiết để xúc tác phản ứng oxi hóa
khử như là một chất khử mạnh, do vậy NADP+ /
NADPH được giữ ở tỷ lệ rất thấp
Trang 15 Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong quá trình
dị hóa, NADH cũng được sử dụng trong các phản ứng đồng hóa, như sự hình thành glucose trong
cơ thể động vật
Sự cần thiết của NADH trong quá trình đồng hóa đặt ra một vấn đề cho các sinh vật nhân sơ phát triển trên chất dinh dưỡng mà chỉ phải giải phóng một số lượng nhỏ năng lượng.
Ví dụ: Vi khuẩn cố định đạm như Nitrobacter ôxi
hóa nitrit đến nitrat, giải phóng đủ năng lượng để bơm proton và tạo ra ATP, nhưng không đủ để trực tiếp tạo ra NADH.
Trang 16 Như vậy NADH vẫn còn cần thiết cho
các phản ứng đồng hóa, các vi khuẩn
này sử dụng ezim oxidoreductaza nitrit
để sản xuất đủ proton tạo động lực để một phần của chuỗi vận chuyển điện tử hoạt động theo chiều ngược lại, tạo ra NADH
Trang 174 Các vai trò khác ngoài oxi hóa khử.
Các coenzyme NAD+ cũng được sử dụng trong các phản ứng chuyển hóa ADP-Ribose
gắn phần ADP-Ribose của phân tử này với protein, sau khi được chuyển hóa, sửa đổi thì gọi là ADP-
ribosylation
NAD+ cũng có thể được thêm vào ARN của tế bào như là một sửa đổi cơ bản ADP-ribosylation bao gồm cả việc bổ sung một đơn phân ADP
Ribose, trong mono-ADP-ribosylation, hoặc
chuyển ADP-Ribose đến protein ở những nhánh
Trang 18 Mono-ADP-ribosylation được xác định đầu tiên
ở một nhóm chất độc ở vi khuẩn, đặc biệt là bệnh
tả độc tố, nhưng nó cũng là một trong những tín
hiệu thông thường trong tế bào
Poly ADP-ribosylation được mang ra ngoài nhờ poly ADP-Ribose polymerase Các poly ADP-
Ribose cấu trúc được tham gia vào sắp xếp các sự kiện trong một số tế bào, quan trọng nhất là trong nhân tế bào, trong các quá trình sửa chữa DNA và bảo vệ đoạn cuối của nhiễm sắc thể
Ngoài các chức năng trong tế bào, còn có một
nhóm các ADP-ribosyltransferases ngoại bào mới được phát hiện gần đây, nhưng vẫn chưa rõ chức năng của chúng
Trang 19Cấu trúc của vòng ADP-Ribose
Một chức năng khác của coenzym này trong hệ thống tín hiệu của tế bào là tiền
thân của vòng ADP-Ribose, được sản xuất
từ NAD+ do ADP-ribosyl cyclases, một phần của hệ thống thông tin thứ hai Phân tử này hoạt động trong các tín hiệu canxi bằng cách giải phóng canxi từ các không bào dự trữ
Nó thực hiện điều này bằng cách liên kết để
mở các kênh canxi gọi là thụ thể ryanodine,
Trang 20Cấu trúc của vòng ADP-ribose
Trang 21 NAD + cũng được sirtuins sử dụng, là NAD phụ thuộc
deacetylases, chẳng hạn như Sir2.
Các enzyme hoạt động bằng cách chuyển giao một nhóm
acetyl từ protein bề mặt của nó cho phân tử ADP- Ribose của NAD + ; tách các coenzym này và giải phóng nicotinamide
và O-acetyl-ADP-Ribose
Các sirtuins dường như chủ yếu liên quan đến những quy
định sao chép thông qua các histon deacetylating và thay đổi cấu trúc nucleosome.
Tuy nhiên, các protein không histon cũng có thể được
deacetylated bởi sirtuins Những hoạt động của sirtuins
được quan tâm đặc biệt vì tầm quan trọng của chúng trong quá trình lão hóa
Trang 22Các NAD phụ thuộc enzyme khác bao gồm DNA
ligase của vi khuẩn, có gắn thêm hai ADN kết thúc bằng cách sử dụng NAD+ như là một chất nền để chuyển một adenosine monophosphate (AMP) cho đầu 5’phosphat của DNA Chất trung gian này sau khi bị tác động bởi các nhóm 3’hydroxyl của DNA kết thúc khác, tạo thành một liên kết
phosphodiester mới Điều này ngược với ligases DNA ở tế bào nhân chuẩn, ở tế bào này sử dụng ATP để tạo thành DNA thông qua trung gian AMP
Trang 235 Dược lý học.
Các enzyme tạo ra và sử dụng NAD+ và NADH rất quan trọng trong dược học hiện nay và nghiên cứu các phương pháp trị liệu bệnh trong tương lai
Thiết kế thuốc và phát triển khai thác thuốc từ
NAD+ bằng ba cách: xem là mục tiêu hướng đến của thuốc, bằng cách tạo ra các enzym ức chế
hay hoạt hóa dựa trên cấu trúc của nó để làm thay đổi hoạt động của NAD phụ thuộc enzyme, và
bằng cách ức chế sinh tổng hợp NAD+
Trang 24 Các coenzyme NAD + bản thân nó không được sử dụng để điều trị cho bất kì bệnh nào Tuy nhiên, nó có tiềm năng lớn trong điều trị các bệnh ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh
như Alzheimer và bệnh Parkinson
Bằng chứng về việc sử dụng NAD + trong điều trị các bệnh
về thần kinh được pha trộn; nghiên cứu ở chuột có nhiều hứa hẹn, trong khi các phương pháp điều trị bằng một
lượng thuốc an thần vừa phải không cho thấy hiệu quả
NAD + cũng là một mục tiêu hướng đến của thuốc
izoniazid, được dùng trong điều trị bệnh lao, nguyên nhân lây nhiễm là do Mycobacterium tuberculosis
Isoniazid là một thuốc phòng bệnh và một khi xâm nhập vào vi khuẩn, nó được kích hoạt bởi peroxidase, ôxi hóa các hợp chất thành dạng gốc tự do Các gốc này sau đó
phản ứng với NADH, để sản xuất adducts là chất ức chế rất mạnh của enzyme enoyl acyl mang protein reductase, và reductase dihydrofolate
Trang 25Vì một số lượng lớn oxidoreductases sử dụng NAD + và
NADH làm chất nền, và liên kết với chúng, sử dụng như một motif cấu trúc có tính bảo vệ cao, ý tưởng về các chất ức chế dựa trên NAD + có thể đặc trưng cho mỗi loại enzyme là một điều đáng ngạc nhiên
Tuy nhiên, điều này có thể được thể hiểu như sau, ví dụ
như các thuốc ức chế dựa trên các hợp chất mycophenolic
và tiazofurin ức chế IMP dehydrogenase ở vị trí liên kết với NAD +
Vì tầm quan trọng của enzyme này trong quá trình chuyển hóa purine, các hợp chất này có ích trong việc phòng chống ung thư, chống virus, hoặc làm thuốc ức chế miễn dịch Các loại thuốc khác không phải là thuốc ức chế enzyme, mà
chúng là chất kích hoạt các enzym tham gia vào quá trình
Trang 26Sirtuins là một mục tiêu được quan tâm như thuốc, bởi vì khi kích hoạt các NAD-phụ thuộc deacetylases có thể kéo dài tuổi thọ Các hợp chất như resveratrol làm tăng hoạt động của các enzym, chúng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm chậm quá trình lão hóa ở cả động vật có
xương sống và động vật không có xương sống.
Do sự khác biệt trong các phản ứng trao đổi chất của quá trình sinh tổng hợp NAD + giữa các sinh vật, chẳng hạn như giữa các vi khuẩn và con người, lĩnh vực nghiên cứu
sự trao đổi chất là một lĩnh vực đầy hứa hẹn cho sự phát triển của các loại thuốc kháng sinh mới
nicotinamide thành nicotinic acid, là một mục tiêu thiết kế thuốc, enzyme này không có ở người, nhưng có ở nấm
men và vi khuẩn
Trang 276 Lịch sử.
Các coenzyme NAD + lần đầu tiên được phát hiện bởi hai
nhà hóa sinh học người Anh Arthur Harden và William
Youndin năm 1906.
Họ nhận thấy rằng việc đun sôi dịch chiết nấm men làm
tăng nhanh quá trình lên men rượu hơn dịch chiết nấm men không đun sôi Chúng được gọi là yếu tố không đồng nhất
có hiệu lực như một coferment Thông qua một quá trình lọc dài và khó khăn từ việc chiết xuất nấm men, nhiệt độ ổn định
đã được xác định như một phosphat đường nucleotide bởi Hans von Euler-Chelpin
Năm 1936, nhà khoa học Đức Otto Heinrich Warburg đã chỉ
ra các chức năng của coenzyme nucleotide trong việc chuyển hóa hiđro và nhận biết phần nicotinamide như một mặt của
Trang 28Arthur Harden, người đồng phát hiện ra NAD
Trang 29 Nguồn nicotinamide đã được xác định vào năm 1938, khi Conrad Elvehjem lọc niacin từ gan và đã thấy rằng vitamin này chứa axít
nicotinic và nicotinamide.
Sau đó, vào năm 1939, ông đã đưa ra bằng
chứng có ý nghĩa đầu tiên là niacin được sử dụng để tổng hợp NAD +
Trong những năm đầu thập niên 40 của thế
kỉ XX, Arthur Kornberg cũng có những đóng góp quan trọng khác hướng tới những hiểu
Trang 30 Sau đó, vào năm 1949, hai nhà hóa sinh học người Mỹ Morris Friedkin và Albert L Lehninger đã chứng minh rằng NADH có mối liên kết trong các con đường chuyển hóa như chu trình axit citric với tổng hợp ATP trong quá trình phosphoryl oxy hoá.
Cuối cùng, vào năm 1959, Jack Preiss
và Philip Handler phát hiện ra các chất
trung gian và các enzym tham gia vào sinh
thường được gọi là Preiss-Handler để tôn vinh họ