1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

đề cương kinh tế vùng

32 442 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Kinh Tế Vùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Vùng
Thể loại Đề Cương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 316,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trên góc độ vĩ mô, phân bố sản xuất là sự điều tiết lực lượng sản xuất cân đối trong từng ngành, trong từng vùng, hướng dẫn đầu tư đúng định hướng phát triển không gian kinh tế cho

Trang 1

1- Một số vấn đề về phân bố sản xuất.lí thuyết về phân bố sản xuất.

1 Khái niệm phân bố sản xuất

Phân bố sản xuất, theo tầm vi mô, chính là việc các doanh nghiệp lựa chọn, định vị

điểm xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh (xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất…) cho doanh nghiệp mình với mục tiêu tối đa hiệu quả sản xuất – kinh doanh

Đứng trên góc độ vĩ mô, phân bố sản xuất là sự điều tiết lực lượng sản xuất cân đối

trong từng ngành, trong từng vùng, hướng dẫn đầu tư đúng định hướng phát triển không gian kinh tế cho từng vùng và cho cả nước thông qua các quyết định, các chính sách, biện pháp phân bổ và quy hoạch tổng thể của cơ quan chính quyền cáccấp

2 Các nguyên tắc chung về phân bố sản xuất ở Việt Nam

2.1 Nguyên tắc gần tương ứng

Đó là việc xem xét những yếu tố thường xuyên tác động đến chi phí đầu vào và

đầu ra của việc sản xuất Xem xét gần hay xa chính là xem xét những khoảng cách cần thiết cho mỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả: Giúp cho

nhà doanh nghiệp có thể sản xuất nhanh, nhiều với giá thành thấp nhất, có nhiều khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Nó mang lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng

Nguyên tắc này yêu cầu khi lựa chọn địa điểm phân bố sản xuất, cần lưu ý:

- Có gần nguồn nguyên liệu hay không?

- Có gần nguồn nhiên liệu, năng lượng, nguồn nước hay không?

- Có gần nguồn lao động, thị trường?

Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc

- Giảm bớt chi phí vận tải xa và chéo nhau giữa nguyên liệu và sản phẩm, nghĩa là loại bỏ một nguyên nhân làm tăng chi phí sản xuất, đội giá thành của sản phẩm

- Tiết kiệm và sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên – kinh tế - xã hội trong vùng

- Tăng năng suất lao động trực tiếp và năng suất lao động xã hội, mang lại lợi ích cho nhà doanh nghiệp và cho nền kinh tế xã hội của vùng

Thực hiện nguyên tắc

Để thực hiện nguyên tắc này, phải tính toán cụ thể, tỉ mỉ bằng những dự án có tính khả thi, kết hợp những đặc điểm của ngành và điều kiện của từng vùng Xác định khoảng cách là bao nhiêu phải đảm bảo tương ứng theo ngành, theo vùng và theo hiệu quả sản xuất kinh doanh Mục tiêu của thực hiện nguyên tắc gần tương đối nhằm giảm chi phí ở đầu vào và chi phí vận chuyến sản phẩm đến nơi tiêu thụ

Trang 2

Như vậy, đánh giá khoảng cách phải tổng hợp đầy đủ các yếu tố đầu vào và thị

trường của từng hoạt động sản xuất: nguyên liệu; nhiên liệu, năng lượng; lao động, thị trường; cơ động và rộng khắp trong phân phối sản phẩm Tuy nhiên,

trên thực tế, khó có địa điểm nào hội tụ đầy đủ lợi thế về tất cả các yếu tố trên, vì vậy, dựa vào đặc điểm phân bố của từng ngành và chia thành những nhóm ngành

có những tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn điểm phân bố:

-Nhóm ưu tiên phân bố gần nguồn nguyên liệu: Bao gồm những ngành có khối lượng nguyên liệu sản xuất lớn gấp nhiều lần so với sản phẩm và chi phí vận chuyển nguyên liệu cao Cụ thể: Sản xuất gang thép, xi măng, mía đường, chế biếnlâm sản…

- Nhóm ưu tiên phân bố gần nguồn nhiên liệu, năng lượng: Bao gồm những ngành

sử dụng nhiều nhiên liệu, năng lượng và chi phí cho nhiên liệu và năng lượng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Thông thường, trong nhóm ngành này, loại chi phí này chiếm từ 35 – 60% giá thành sản phẩm Cụ thể, ngành sản xuất điện năng, luyện kim, hóa dầu, tơ sợi hóa học, chất dẻo…

- Nhóm ưu tiên gần nguồn lao động, thị trường: Bao gồm những ngành cần nhiều lao động có tay nghề cao, sản phẩm có giá trị cao, khó vận chuyển và bảo quản, yêu cầu phải tiêu thụ kịp thời Chủ yếu gồm các ngành cơ kim khí, điện tử, dệt da, may mặc, chế biến lương thực thực phẩm, nông sản tươi sống, các ngành bưu điện,thương mại, dịch vụ…

- Nhóm ngành ưu tiên phân bố chủ động, rộng khắp: Không đòi hỏi khắt khe trongnhân công, nguyên liệu là phổ biến và thị trường phân tán như chế biến lương thựcthông thường, sản xuất vật liệu đồ gia dụng, cơ khí sửa chữa…

2.2 Nguyên tắc cân đối lãnh thổ

Phân bố sản xuất theo nguyên tắc cân đối lãnh thổ có nghĩa là phân bố phù hợp vớiđiều kiện của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng theo từng giaiđoạn phát triển và định hướng phát triển chung của tổng thể nền kinh tế Mọi quốc gia đều muốn điều tiết sự phân bố các lực lượng sản xuất cân đối giữa các vùng, các vùng kém phát triển vươn lên, đuổi kịp các vùng phát triển khác Tuy nhiên, nguồn lực luôn có hạn, những điều kiện về lợi thế so sánh như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý hay nguồn lao động, quy mô lãnh thổ….của từng vùng khác nhau là khác nhau Vì vậy, cần kết hợp giữa việc ưu tiên phát triển vùng kinh tế động lực và lan tỏa kinh tế phát triển các vùng có trình độ phát triển kém hơn Đặcbiệt, ở những quốc gia và vùng có quy mô lãnh thổ lớn càng cần thiết xem xét nguyên tắc này

Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc

Trang 3

Sử dụng được mọi nguồn lực trên mọi vùng của đất nước, phát huy lợi thế riêng biệt của từng vùng, đặc biết là đối với những nguồn lực tiềm ẩn ở những vùng chưa phát triển, khai thác và đầu tư phát triển tại những vùng miền núi, các vùng trước đây chưa được quan tâm đầu tư… Từ đó góp phần làm giảm chênh lệch mứcsống, giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển sức sản xuất giữa các vùng.Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội, cân đối lãnh thổ còn làm tăng cường khối đoàn kết, thống nhất toàn dân, tạo điều kiện ổn định chính trị, tránh những xung đột tạo ra do sự chênh lệch giữa các vùng, phát triển ổn định và bền vững cho tổngthể nền kinh tế.

Thực hiện nguyên tắc

Nguyên tắc cân đối lãnh thổ yêu cầu có những biện pháp khuyến khích đầu tư pháttriển vào những vùng còn lạc hậu bên cạnh việc phát triển những vùng kinh tế trọng điểm Thông qua những biện pháp ưu đãi nhằm thu hút vốn và lao động có trình độ về những vùng còn nhiều khó khăn Đồng thời, ưu tiên phát triển và đầu

tư có trọng điểm , tạo ra những vùng kinh tế động lực thông qua chính sách đầu tư

có quy hoạch, phát triển cân đối giữa các vùng phải dựa trên sự kết hợp lợi ích riêng của mỗi vùng vào định hướng phát triển chung của cả nền kinh tế: Vùng thuận lợi có thể phát triển trước và tạo hiệu ứng lan tỏa giữa các vùng Đặc biệt là những ảnh hưởng nhờ sự phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng từ sự đầu tư của những vùng trọng điểm sang vùng lân cận, chuyển giao công nghệ, giáo dục đào tạo và y

tế Sự phát triển vùng này không làm hạn chế sự phát triển của vùng kia hay ảnh hưởng xấu tới sự phát triển chung của cả nước

2.3 Nguyên tắc kết hợp theo ngành và theo vùng

Nhu cầu hợp tác cùng phát triển giữa các ngành, các vùng lãnh thổ trở thành một yêu cầu tất yếu trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc và là yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Tạo ra mối liên kết phát triển giữa các vùng là tiền đề cho một sự phát triển đồng bộ và bền vững cho doanh nghiệp sản xuất, cho từng vùng kinh tế và cho cả nền kinh tế

Sơ đồ những mối liên kết đó bao gồm: kết hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp; thành thị và nông thôn; kết hợp chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp vùng; kết hợp phân bố kinh tế và quốc phòng; kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường…

Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc

Kết hợp giữa công nghiệp và nông nghiệp làm hiện đại hóa ngành nông nghiệp,

ứng dụng được những tiến bộ khoa học công nghệ, cơ giới hóa, điện khí hóa

Trang 4

ngành nông nghiệp làm tăng năng suất lao động Kết hợp nông nghiệp – công nghiệp chế biến – xuất khẩu, làm gia tăng tính hàng hóa và giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, và đảm bảo cung nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp.

Kết hợp nông thôn và thành thị mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm hàng

tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn bổ sung cho các ngành công nghiệp thương nghiệp và dịch vụ ở các đô thị Góp phần làm giảm bớt sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị

Kết hợp chuyên môn hóa và phát triển tổng thể vùng kinh tế sẽ sử dụng được lợi

thế riêng của vùng để phát triển ngành chuyên môn hóa Đồng thời, tận dụng những nguồn lực nhỏ trong vùng còn phân tán phát triển tổng hợp nhiều ngành sảnxuất, kinh doanh tạo ra một khối kết hợp sản xuất đa dạng và hiệu quả

Bên cạnh sản xuất, kinh doanh, có sự kết hợp chặt chẽ giữa phân bố sản xuất với quốc phòng nhằm tạo nền tảng ổn định cho sự phát triển bền vững Kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường cũng là yêu cầu không thể thiếu, sử

dụng hợp lý nguồn tài nguyên cân đối giữa hiện tại và tương lai

Thực hiện nguyên tắc

- Quy hoạch xây dựng mạng lưới đô thị rộng khắp trên tất các vùng trong cả nước,hình thành các vành đai nông nghiệp bao quanh hoặc giãn cách giữa các khu công nghiệp và đô thị lớn

- Hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho vùng trên cơ sở phát hiện những điểm mạnh, lợi thế của vùng và các nguồn lực nhỏ, phát triển đa dạng ngành sản xuất kinh doanh có tỷ trọng hợp lý và hiệu quả cạnh tranh cao

- Không nên tập trung quá mức các lực lượng kinh tế tại quá ít các khu vực mà nênhình thành nhiều khu vực tập trung khác nhau trên những vùng rộng lớn của cả nước

Tập trung hóa có mức độ theo lãnh thổ và quy mô hợp lý

2.4 Nguyên tắc mở cửa và hội nhập

Trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến tất cả các quốcgia trên thế giới, tới tất cả các vùng kinh tế, các ngành và các doanh nghiệp, cơ sở sẩn xuất kinh doanh Vì vậy, khi quyết định phân bố sản xuất phải đặc biệt chú ý những tác động của hội nhập và mở của Bất kì ý định khép kín nền kinh tế đều dẫn tới sự chậm phát triển, trì trệ và lạc hậu

Lợi ích của thực hiện nguyên tắc

Mỗi nước phát huy được lợi thế so sánh trở thành điểm mạnh riêng, kết hợp được nội lực và ngoại lực cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đuổi kịp với bạn bè

Trang 5

năm châu Đặc biệt là với nước đang phát triển như Việt Nam, có thể vận dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, bài học phát triển kinh tế từ các quốc gia phát triển, đi tắt đón đầu…

Thực hiện nguyên tắc phải biết lựa chọn những đối tác thích hợp, vận dụng một cách hợp lý những kinh nghiệm phát triển nước ngoài vào trong nước phù hợp vớiđiều kiện từng lĩnh vực, nguyên tắc thận trọng, khoa học và khách quan Mở rộng quan hệ với những đối tác thích hợp, xác định phân loại sản phẩm và xác định vùng thị trường có lợi thế nhất, đảm bảo được tính độc lập và tự chủ

2- Vùng kinh tế Qui hoạch phát triển vùng ở Việt Nam

1 Thế nào là vùng kinh tế?

Có thể nói, vùng kinh tế là một thực thể khách quan gắn liền với phân cônglao động theo lãnh thổ, hay nói cách khác, phân công lao động theo lãnh thổ tấtyếu dẫn đến hình thành các vùng kinh tế Phân công lao động theo lãnh thổ lại làmột mặt của phân công lao động xã hội Trình độ của phân công lao động xã hộilại phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy, khi lực lượngsản xuất phát triển, phân công lao động xã hội theo lãnh thổ ngày càng sâu sắc thìkhi đó vùng kinh tế ngày càng đi vào chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổnghợp

Chúng ta có thể hiểu vùng kinh tế theo cách sau: Vùng kinh tế là một khônggian kinh tế đặc thù của một quốc gia, là một tổ hợp kinh tế lãnh thổ tương đốihoàn chỉnh có chuyên môn hoá kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp

1.1 Đặc trưng của vùng kinh tế

Để hiểu rõ hơn thế nào là vùng kinh tế, ta có thể tìm hiểu các đặc trưng củavùng kinh tế

- Tính chuyên môn hoá: Đây là đặc tính cơ bản đầu tiên của vùng Chuyênmôn hoá xác định vị trí của vùng trong hệ thống phân công lao động theo lãnh thổ

cả nước, khu vực và thế giới

- Tính tổng hợp: Là mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các ngành trongvùng, thể hiện tính đa dạng trong quá trình phát triển nhằm khai thác tối đa lợi thếcủa vùng Đó là mối quan hệ giữa các ngành chuyên môn hoá và các ngành tổnghợp hóa, giữa các ngành sản xuất với các ngành kết cấu hạ tầng, giữa các nguồntài nguyên với lao động…

Trang 6

- Tính mở: Vùng kinh tế không thể hoạt động một cách hiệu quả nếu như chỉđóng cửa trong phạm vi vùng đó, mà nó luôn phải có những mối quan hệ linh hoạtvới các vùng khác, với cả nước và cả với nước ngoài Sự phát triển của một vùngkhông chỉ phụ thuộc vào tiềm lực sẵn có của vùng đó mà còn phụ thuộc rất lớnvào nhu cầu ngoài vùng, của cả nước và của cả nước ngoài đối với vùng đó.

- Tính động: có thể thấy quá trình hình thành và phát triển vùng là cả mộtquá trình lâu dài Cơ cấu vùng được xác định hôm nay không phải là cố định, bấtbiến mà luôn có sự thay đổi thường xuyên và liên tục Vì vậy, quan điểm cho rằngvùng là bất biến sẽ kìm hãm sự phát triển của vùng

1.2 Phân loại vùng kinh tế

Tuỳ theo mục đích phân chia mà người ta đã chia thành các loại vùng kinh tếnhư sau:

- Vùng kinh tế ngành: Vùng kinh tế ngành là một vùng ở đó phân bố tập

trung một ngành sản xuất nhất định (Ví dụ: vùng nông nghiệp, vùng công nghiệp,vùng lâm nghiệp, vùng du lịch) Đây là cơ sở hoạch định chính sách phát triển vàphân bố của các ngành, là cơ sở để kết hợp kế hoạch hoá và quản lý theo ngành vàtheo lãnh thổ

- Vùng kinh tế tổng hợp: là một vùng kinh tế đa ngành phát triển một cách

nhịp nhàng cân đối Nó là một phần tử cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Sự chuyênmôn hoá của vùng kinh tế tổng hợp được quy định bởi các vùng kinh tế ngành

Vùng kinh tế tổng hợp lại bao gồm: Vùng kinh tế cơ bản và Vùng kinh tế hành chính

+ Vùng kinh tế cơ bản: Là vùng có diện tích rộng hơn, ngành sản xuất

chuyên môn hoá nhiều hơn và sự phát triển tổng hợp của vùng cũng phức tạp hơn

so với vùng kinh tế hành chính

+ Vùng kinh tế hành chính: Là vùng không những có chức năng kinh tế mà

còn có chức năng hành chính Vùng vùng kinh tế hành chính là kết quả của sựthống nhất giữa quản lý kinh tế với quản lý hành chính, là những vùng hành chínhđược xây dựng theo nguyên tắc kinh tế, ranh giới hành chính và kinh tế thốngnhất

2 Thế nào là quy hoạch phát triển vùng

Để hiểu về quy hoạch vùng, trước hết ta phải tìm hiểu thế nào là phân vùngkinh tế

2.1 Phân vùng kinh tế

2.1.1 Khái niệm phân vùng kinh tế

Trang 7

Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất nước rathành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc tiếp tục điều chỉnhranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng; định hướng chuyên môn hoá sản xuấtcho vùng và xác định cơ cấu kinh tế vùng ứng với các kế hoạch phát triển dài hạnnền kinh tế quốc dân (15-20 năm) Trên cơ sở phân vùng kinh tế, Nhà nước có kếhoạch tổ chức, lãnh đạo và quản lý kinh tế theo vùng được sát đúng, cũng như đểphân bố sản xuất được hợp lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí sảnxuất thấp nhất

Theo phân loại vùng kinh tế, phân vùng kinh tế gồm có phân vùng kinh tếtổng hợp và phân vùng kinh tế ngành

- Phân vùng kinh tế ngành là cơ sở để xây dựng kế hoạch hoá theo ngành vàquản lý kinh tế theo ngành, đồng thời còn là cơ sở để qui hoạch vùng kinh tế tổnghợp theo từng ngành

- Phân vùng kinh tế tổng hợp dài hạn nền kinh tế quốc dân, hoàn thiện kếhoạch hoá theo lãnh thổ để phân bố lại lực lượng sản xuất hợp lý hơn, đồng thời là

cơ sở để cải tạo mạng lưới địa giới hành chính theo nguyên tắc thống nhất sự phânchia vùng hành chính và vùng kinh tế

2.1.2 Những căn cứ để phân vùng kinh tế

Vùng kinh tế hình thành và phát triển là một tất yếu khách quan nên khi tiếnhành phân vùng kinh tế, cần phải dựa trên những căn cứ khoa học sau:

- Phân vùng kinh tế phải dựa trên nhiệm vụ cơ bản về xây dựng và phát triểnnền kinh tế quốc dân của cả nước do Đảng và Nhà nước đề ra, thể hiện cụ thể bằngnhững chỉ tiêu nhiệm vụ lớn và dài hạn

- Phân vùng kinh tế phải dựa vào yếu tố tạo vùng:

Vùng kinh tế được hình thành và phát triển trên cơ sở tác động tổng hợp củacác yếu tố Những yếu tố tạo vùng quan trọng nhất là:

+ Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ (đây là yếu tố tạo vùng cơ bảnnhất)

+ Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, sự phân bố của các nguồn tàinguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên khác (núi cao, sông rộng, sự khác biệtcủa các miền tự nhiên…)

+ Yếu tố kinh tế: Các trung tâm công nghiệp, các thành phố lớn, các đầu mốigiao thông vận tải quan trọng, các cơ sở sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp rộnglớn

+ Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Tiến bộ kỹ thuật trong điều tra cơ bản,thăm dò địa chất, tìm kiếm tài nguyên, đổi mới qui trình công nghệ sản xuất

Trang 8

+ Yếu tố lịch sử - xã hội - quốc phòng: Dân cư và sự phân bố dân cư, địa bàn

cư trú của các dân tộc ít người, nền văn hóa của các dân tộc và các địa giới đã hìnhthành trong lịch sử, các cơ sở sản xuất cũ, tập quán sản xuất cổ truyền, đặc điểmchính trị, quân sự và các quan hệ biên giới với các nước

- Phân vùng kinh tế phải dựa vào kết quả phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợpcủa đất nước

2.1.3 Các nguyên tắc phân vùng kinh tế

Khi tiến hành phân vùng kinh tế cần phải tuân theo những nguyên tắc sau:

- Phân vùng kinh tế phản ánh trung thực tính chất khách quan của sự hìnhthành vùng kinh tế; đồng thời phải phục vụ những nhiệm vụ cơ bản về xây dựng

và phát triển kinh tế quốc dân của cả nước

- Phân vùng kinh tế phải dự đoán và phác hoạ viễn cảnh tương lai của vùngkinh tế, kết hợp tính viễn cảnh với tính lịch sử

- Phân vùng kinh tế phải thể hiện rõ chức năng cơ bản của nó trong nền kinh

tế cả nước bằng sản xuất chuyên môn hoá

- Vùng kinh tế phải đảm bảo cho các mối liên hệ nội tại của vùng phát sinhmột cách hợp lý, để cho sự phát triển của vùng được nhịp nhàng cân đối như mộttổng thể thống nhất, có một tiềm lực kinh tế mạnh

- Phân vùng kinh tế phải xoá bỏ những sự không thống nhất giữa phân vùngkinh tế và phân chia địa giới hành chính

- Phân vùng kinh tế phải bảo đảm quyền lợi của các dân tộc trong cộng đồngquốc gia có nhiều dân tộc

2.2 Qui hoạch vùng kinh tế

2.2.1 Khái niệm

Quy hoạch xây dựng vùng là việc tổ chức không gian vùng, không gian đôthị và đỉêm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lậpmôi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm bảokết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường (quychuẩn xây dựng Việt Nam, phần về Quy hoạch Xây dựng do Bộ Xây dựng banhành)

Qui hoạch vùng kinh tế là biện pháp phân bố cụ thể, có kế hoạch, hợp lý cácđối tượng sản xuất, các cơ sở sản xuất, các công trình phục vụ sản xuất, các điểmdân cư và các công trình phục vụ đời sống dân cư trong vùng qui hoạch; là bước

kế tiếp và cụ thể hoá của phương án phân vùng kinh tế; là khâu trung gian giữa kếhoạch hoá kinh tế quốc dân theo lãnh thổ với thiết kế xây dựng

Trang 9

Quy hoạch vùng đặc biệt được coi trọng ở những nước, những vùng đangtăng trưởng mạnh về kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh Ở đây, quyhoạch vùng thường gắn liền với quy hoạch kiến trúc xây dựng đô thị và hệ thốngcác công trình kỹ thuật cho sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt dân cư.

2.2.2 Nội dung cơ bản của qui hoạch vùng

Quy mô vùng trong điều kiện và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của ViệtNam hiện nay chủ yếu là quy hoạch định hướng phát triển kinh tế xã hội và phân

bố các lực lượng sản xuất phù hợp với định hướng chiến lược phát triển chung của

cả nước Quy hoạch vùng là cơ sở kinh tế - xã hội để quy hoạch kiến trúc xâydựng các hệ thống công trình trọng điểm và dân cư, cấu trúc hạ tầng

Nội dung của quy hoạch vùng đầy đủ và toàn diện hơn phân vùng kinh tế,bao gồm cả sản xuất – dân cư – cấu trúc hạ tầng Thời hạn quy hoạch vùng thôngthường từ 5 năm đến 15 năm

Nội dung cụ thể của quy hoạch vùng gồm:

PHẦN I: Xác định mục đích, yêu cầu của đợt quy hoạch, nêu ra những vấn

đề cơ bản, quan trọng cần giải quyết trong giai đoạn quy hoạch nhằm tạo ra mộtbước chuyển biến mới trong phát triển và phân bố kinh tế - xã hội trong vùng

- Giới hạn phạm vi lãnh thổ sẽ tiến hành quy hoạch: tỉnh, thành phố, quận,huyên, thị xã, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch nghi mát…

- Ấn định thời gian cho đợt quy hoạch: 5 năm, 10 năm, 15 năm tùy theo quy

mô vùng, trình độ phát triển, vấn đề giải quyết trong giai đoạn quy hoạch và mụcđích yêu cầu của đợt quy hoạch

Về cấp quản lí, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:

 Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng

Trang 10

liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh,trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện.

 Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ítnhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km².Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, trung tâm dân cư đông đúc nhưng thuật từ này thông thường không mở rộng đến các khu định cư nông thôn như làng, xã, ấp

Các đô thị được thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng

đô thị, và biết được các số liệu về dân số nông thôn và thành thị

Không như một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ vềkinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lỏi, tiêu biểu là mối quan hệ từ công ăn việclàm đến việc di chuyển hàng ngày ra vào mà trong đó thành phố đô thị cốt lỏi là thị trường lao động chính

1.1.2 Quy hoạch xây dựng đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là nghệ thuật về tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị Nó là nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sở các điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, và hướng tới sự phát triển bền vững Các không gian đô thị, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội đô thị cần được quy hoạch phù hợp với phát triển tổng thể kinh tế - xã hội- môi trường

Những hoạt động cụ thể liên quan đến ngành quy hoạch đô thị là:

 Đầu tư và phát triển bất động sản: Ở đây việc đầu tư và phát triển bất động sản phải tuân theo quy luật phát triển chung của xã hội-kinh tế riêng từng khu vực cụ thể

 Văn hóa, lối sống cộng đồng

 Chính sách quản lý và phát triển bất động sản và nhà ở

Trang 11

 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho mỗi vùng, mỗi khu vực

 Đầu tư hạ tầng kỹ thuật

 Phát triển và bảo tồn các di sản kiến trúc và thiên nhiên

 Phát triển bền vững của nhân loại

Quy hoạch xây dựng đô thị ở Việt Nam bao gồm:

 Quy hoạch chung xây dựng đô thị

 Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị

 Quy hoạch xây dựng vùng

 Quy hoạch xây dựng điểm dân c ư nông thôn

Cơ sở của quy hoạch đô thị là hệ thống các tiêu chuẩn và các nguyên tắc tổ chức xây dựng đô thị Dựa vào hệ thống các nguyên tắc này, theo điều kiện thực tế

và chính sách, mục tiêu phát triển ngắn hạn và dài hạn; nhóm bốn đối tượng tác động chính đến kết quả đồ án quy hoạch là: các nhà quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà đầu tư và những người trực tiếp chịu ảnh hưởng của quy hoạch đề xuất ra các giải pháp, mục đích, thời gian và nguồn lực cụ thể để thực hiện

1.2 Phát triển đô thị là một thực tế khách quan

Đô thị hoá và phát triển đô thị trên thế giới và khu vực như là một động lực phát triển quan trọng trong lịch sử, hiện nay cũng như trong tương lai Hệ thống đôthị của mỗi quốc gia đều rất khác nhau Nói chung chúng khác nhau ở các vấn đề chủ yếu về địa lý, kinh tế, xã hội, bản sắc, văn hoá…

Tuy nhiên, chúng đều có điểm chung là sự đóng góp của hệ thống đô thị đó trong quá trình đô thị hoá thật sự to lớn: nền văn minh đô thị, quy mô và chức năng đô thị, không gian quy hoạch và kiến trúc đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị, kinh tế

đô thị,… không ngừng phát triển

Sự phát triển đó đã đóng góp đó rất to lớn về phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt có ý nghĩa trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá của mỗi quốc gia,mỗi vùng

Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị trong thời kỳ từ 1950 đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị từ 735 người năm

1950 lên 2,9 tỷ người năm 2000 và dự báo sẽ tăng lên 5,1 tỷ người năm 2025 Đồng thời các chỉ số về đô thị hoá, nhất là tỷ lệ đô thị hoá trong một vài thập

kỷ tới là hết sức nhanh chóng Tỷ lệ đô thị hoá trung bình trên thế giới vao khoảngtrên 29,36% năm 1950, đến năm 2000 đã tăng lên 48,16% và dự báo tỷ lệ nay sẽ tăng lên ở mức xấp xỉ 65% vào năm 2025

Trang 12

Tuy nhiên, tỷ lệ đô thị hoá rất khác nhau tại các nước phát triển và đang phát triển, nói chung các nước nghèo, tỷ lệ đô thị hoá tăng nhanh hơn các nước giàu Theo thống kê của Quỹ các hoạt động về dân số Liên Hiệp quốc ( UNFPA) cho thấy : tỷ lệ nay tăng trung bình hằng năm vào khoảng trên 4% trong khi tại các nước phát triển tỷ lệ nay thấp hơn

Bên cạnh tăng trưởng tỷ lệ đô thị hoá, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP

từ các khu vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng GDP quốc gia: Hàn quốc 91%, Thái lan 87%, Indonesia 78,5%, Philippine 77% trong khi Việt nam hiện nay mới chỉ đạt khoảng trên dưới 35%

Tình hình đó gắn liền với việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên

va gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hơn đối với các nước đang phát triển

Ở đô thị có nhiều lợi thế trong phát triển sản xuất nhờ lực lượng lao động dồi dào, trình độ nghiệp vụ cao, điều kiện kĩ thuật và cơ sở hạ tầng phát triển.Chính những điều này thúc đẩy sự hoạt động rất đa dạng của nhiều ngành nghề và các thành phần kinh tế luôn đòi hỏi có những vị trí xây dựng có nhiều lợi thế nhất trong sản xuất kinh doanh

Quy hoạch và xây dựng đô thị giúp tạo điều kiện cho con người có nhiều thuậnlợi nhất trong cuộc sống ngày càng cao: được hưởng các cách thức và phương tiện chăm sóc tốt hơn, tiếp cận gần hơn tới những ứng dụng khoa học công nghệ… giúp nâng cao đời sống cả về vật chất và tinh thần…

Xây dựng các khu đô thị là kết quả của việc thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đất nước Đây là bước đi quan trọng góp phần thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo

1.3 Mô hình hóa sự phát triển đô thị

Mô hình hóa sự phát triển đô thị có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu và phát triển hệ thống đô thị Thực tế có nhiều loại mô hình nhưng chỉ xin đưa

ra đây 3 mô hình được coi là cơ bản:

Mô hình làn sóng điện: do nhà xã hội học Ernest Burgess – Chicago đề xuất 1925

Trang 13

Thành phố chỉ có 1 trung tâm và 5 vùng đồng tâm:

o Khu vực trung tâm là khu hành chính hoặc thương mại dịch vụ

o Khu chuyển tiếp : dân cư có mức sống thấp, thương mại và công nghiệp nhẹ đan xen nhau

o Dân cư có mức sống trung bình

o Dân cư có mức sống tương đối cao

o Vùng ngoại ô

Đặc điểm của mô hình: tất cả các khu vực đều có xu hướng mở rộng.Dân cư thuộc tầng lớp thượng lưu và các khu công nghiệp có xu hướng chuyển ra khỏi thành phố.Còn những lao động không có trình độ chuyên môn có xu hướng di chuyển vào trung tâm để tìm việc, làm cho giá thuê ở trung tâm sẽ giảm dần

Mô hình thành phố đa cực: do 2 nhà địa lý Haris & Ullman đưa ra năm

1945.Mô hình chủ yếu tính đến các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển củaphương tiện giao thông Mô hình này rất linh hoạt và có tính đến vị trí địa lý.Cơ sởxây dựng mô hình là thành phố có cơ cấu kiểu tế bào, cho phép xây dựng nhiều trung tâm

Mô hình phát triển theo khu vực: do chuyên gia địa chính Homer Hoyt đưa ra 1939

Đặc điểm mô hình:

o Từ trung tâm thành phố được mở rộng

o Thành phố bao gồm các khu vực

o Sự tăng trưởng hướng vào vùng còn trống

o Sự phát triển nhanh theo các trục giao thông làm cho thành phố có hình sao

Có thể nói đây là hệ thống hoàn chỉnh nhất vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn

4- Về kết cấu hạ tầng

1 Khái niệm

Kết cấu hạ tầng (KCHT) là tổ hợp các công trình vật chất – kỹ thuật mà kết quả họat động của nó là những dịch vụ có chức năng phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuát và đời sống dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định

Kết cấu hạ tầng là một yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh tế Nócung cấp các dịch vụ trực tiếp cho họat động sản xuất đời sống và tạo điều kiện thuận lợi khai thác các nguồn tài nguyên quy tụ trên vùng Sự phát triển có hiệu

Trang 14

quả và đồng bộ kết cấu hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ không những đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Kết cấu hạ tầng được chia làm 4 loại như sau:

1 Kỹ thuật

Công trình vật chất – kỹ thuậtphục vụ trực tiếp cho quá trìnhsản xuất diễn ra trong vùng

Cơ sở của các ngànhgiao thông, điện nướcsạch, hệ thống đêđiều…

2 Xã hội

Công trình vật chất – kỹ thuậtphục vụ trực tiếp cho quá trìnhsống, sinh họat của cộng đồngdân cư trong vùng

Công trình các ngànhvăn hóa, giáo dục, ytế…

3 Môi trường

Công trình vật chất – kỹ thuậtphục vụ cho công tác bảo vệmôi trường

Công trình xử lý chấtthải, nước thải, xử lý ônhiễm môi trường…

4 Thiết chế

Công trình vật chất – kỹ thuậtphục vụ trực tiếp và gián tiếpcộng đồng dân cư

Viện, trung tâm, trườngđào tạo và nghiên cứukhoa học, nghệ thuật,các tổ chức chính trị xãhội…

2 Đặc điểm

KCHT có một số đặc điểm sau đây:

- Tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế, nâng cao mức sốngngười dân và giảm đói nghèo;

- Công trình thường rải theo tuyến , hình thành hệ thống có nhiều cấp và cóquan hệ liên ngành với KCHT khác;

- Có tuổi thọ lâu dài nhưng mục tiêu và giá trị sử dụng lại biến động theothời gian (KCHT có tuổi thọ thiết kế, tuổi thọ thực tế, tuổi thọ kỹ thuật,tuổi thọ kinh tế);

Trang 15

- Đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng lại khó trực tiếp thu hồi vốn;

- Có tác động lớn đến môi trường

3 Vai trò

Kết cấu hạ tầng là yếu tố cấu thành cơ cấu vùng kinh tế Thiếu kết cấu hạ tầng hoặc phát triển kết cấu hạ tầng không đồng bộ đều ảnh hưởng không tốt tới sựphát triển của vùng kinh tế

3.1 Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho đời sống: bao gồm

Kết cấu hạ tầng xã hội: phục vụ trực tiếp cho quá trình sống, sinh hoạt của cộng đồng dân cư trong vùng Đó là các công trình của các ngành văn hoá, giáo dục- đào tạo, y tế

Kết cấu hạ tầng môi trường: phục vụ trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường Đó

là các công trình xử lý chất thải rắn, nước thải, xử lý ô nhiễm không khí, hệ thống quan trắc môi trường

Kết cấu hạ tầng thiết chế: bao gồm các viện, trung tâm, trường đào tạo và nghiên cứu khoa học, nghê thuật, các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xãhội…

3.2 Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho sản xuất:

Đó là kết cấu hạ tầng kỹ thuật- phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất diễn

ra trong vùng Đó là các cơ sở của các ngành như giao thông, điện nước sạch, thoát nước, thông tin liên lạc, hệ thống đê điều, hệ thống thuỷ lợi…

3.3 Ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế vùng:

Cơ sở hạ tầng là yếu tố tiền đề và quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng của vùng cũng như việc giao thương buôn bán và liên kết giữa các vùng kinh tế với nhau

Sự phát triển các ngành của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dịch vụ xã hội và việc nâng cao hiệu quả của nó.Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, vai trò của kết cấu hạ tầng không ngừng tăng lên.Các hình thức mới về giao thông vận tải và thông tin liên

Trang 16

lạc xuất hiện và phát triển không những trong khuôn khổ từng nước, mà còn trên phạm vi quốc tế theo xu hướng toàn cầu hoá.Do đó đã hình thành kết cấu hạ tầng

vật chất của sự hợp tác quốc tế mới, đó là toàn bộ các bộ phận của các hệ thống

giao thông vận tải và thông tin liên lạc trong nước và nước ngoài, nhằm phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, cũng như các công trình và đối tượng phối hợp với nhau, đảm bảo cho việc bảo vệ môi trường xung quanh, sử dụng hợp ló các nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, đảm bảo thông tin liên lạc của cơ quan khí tượng thủy văn, quản lí nhà nước, các cơ quan phục vụ xã hội và an ninh quốc phòng… nhằm mục đích phát triển dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh

Phát triển kinh tế vùng bao giờ cũng đi đôi với việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nếu việc đầu tư đồng bộ được lên kế hoạch thì nó sẽ giúp cho phát triển kinh tế của vùng một cách bền vững và hiệu quả.Việc ưu tiên tập trung đầu tư các công trình hạ tầng có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội sẽ nhanh tạo ra sứcbật cho toàn xã hội, thúc đẩy quá trình đô thị hoá; đồng thời phát triển hạ tầng có tính chiến lược lâu dài giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Phát triển kết cấu hạ tầng gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ quốc phòng an ninh trên địa bàn theo từng giai đoạn, phù hợp với qui mô và tốc độtăng trưởng của nền kinh tế và từng ngành, lĩnh vực sẽ giúp kinh tế vùng phát triển

ổn định và an ninh xã hội được đảm bảo

3.4 Ý nghĩa kết cấu hạ tầng:

Việc quản lý và phát triển kết cấu hạ tầng một cách khoa học và hợp lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Vì kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một quốc gia.Một quốc gia giàu mạnh, hiện đại và văn minh phải có một kết cấu hạ tầng vững mạnh, tiện lợi, hiện đại và đầy đủ

Nhóm chỉ tiêu về phát triển kết cấu hạ tầng

o Các chỉ tiêu về phát triển giao thông trong vùng

o Các chỉ tiêu về cung cấp năng lượng điện trong vùng

o Các chỉ tiêu về cung cấp nước sạch trong vùng

o Các chỉ tiêu về phát triển mạng lưới thông tin liên lạc

o Các chỉ tiêu về phát triển mạng lưới thủy lợi, đê điều

5 - Quan điểm về di cư

1 Khái niệm

Ngày đăng: 03/07/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w