PHÂN TÍCH LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ VIỆT NAM GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA VỐN TRONG NƯỚC VÀ VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA VỐN NƯỚC NGOÀI HỆ SỐ ICOR LÀ GÌ? ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA NÓ TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI CÁC QUỐC GIA VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN HÀNH VI ĐẦU TƯ Ở CÁC NƯỚC HÀN QUỐC, SINGAPORE, VIỆT NAM. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Trang 1CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH LU N ĐIỂM ẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VÀ LIÊ
H THỰC TẾ VI T NAM Ệ THỰC TẾ VIỆT NAM Ệ THỰC TẾ VIỆT NAM
2.1 Phân tích luận điểm
Đối với một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã hội mà còn tạo
ra những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế ở những nước đang phát triển thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các nền kinh tế phát triển Để thấy được vai trò và mức đ ảnh hưởng của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cần phải phân tích tác đ ng của đầu tư trên các khía cạnh sau:
2.1.1 Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường
chiếm khoảng 24% -28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn
Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô ta có hàm tổng cầu:
Trong ngắn hạn, khi tổng cung chưa kịp thay đổi thì gia tăng đầu tư làm cho tổng cầu tăng lên Trong cơ cấu của tổng cầu, đầu tư chiếm tỷ trọng khá lớn
- Tác động đến tổng cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng
lên( đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q0-Q1 và do đó giá cả sản phẩm giảm từ P0-P1 Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
R: nguồn tài nguyên
Khi tăng vốn đầu tư trực tiếp làm tổng cung tăng lên, khi đầu tư vào các hoạt động khác như: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ qua đó lại gián tiếp tác động tới tổng cung
2.1.2 Đầu tư phát triển tác động tới tăng trưởng kinh tế
Trang 2Đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau Khi đầu tư tăng lên thì tăng trưởng cũng tăng lên.
Đầu tư tác động tới tăng trưởng kinh tế ở cả mặt lượng và chất thông qua tốc tộ tăng trưởng và chất lượng của tăng trưởng kinh tế Khi quy mô vốn đầu tưtăng và sử dụng nguồn vốn đầu tư hợp lý:
- Góp phần làm tăng các nguồn lực kinh tế, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế
- Hiệu quả đầu tư tăng, năng suất nhân tố tổng hợp tăng, tác động tới chuyển dịch kinh tế theo hướng CNH-HĐH, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, -> nâng cao chất lượng tăng trưởng
Biểu hiện của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR
Vốn đầu tư tăng thêm Đầu tư trong kỳ
ICOR= - =
GDP tăng thêm GDP tăng thêm
Hệ số ICOR được xem là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư hay phản ánh năng lực của vốn đầu tư Hệ số ICOR cho biết để tạo ra 1 sản lượng tăng thêm thì phải bỏ ra thêm bao nhiêu đồng vốn Từ đó, có thể thấy rằng việc sử dụng vốn càng hiệu quả thì tác động của nó tới tăng trưởng kinh
tế càng lớn
Bên cạnh đó, đầu tư phát triển còn có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng của tăng trưởng Chất lượng của tăng trưởng phản ảnh thông qua: Nền kinh
tế đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài, gắn với đó là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền
tự do cho mỗi người
Trên giác độ các yếu tố đầu vào, ta có hàm sản xuất:
Y= F(K, L, TFP)
Trong đó
K: Vốn
L: lao động
TFP: Năng suất các nhân tố tổng hợp
Đầu tư phát triển tác động tới tăng trưởng kinh tế theo cả mặt lượng và mặt chất thể hiện:
- Khi tăng quy mô vốn đầu tư, số lượng lao động và lượng tài nguyên => Tăng K,L => Y tăng=> tăng trưởng kinh tế về mặt lượng ( chiều rộng)
- Tăng hiệu quả sử dụng vốn, tiến bộ công nghệ, tăng chất lượng nguồn nhân lực,
=> tăng TFP => tăng Y=> tăng trưởng kinh tế về mặt chất ( chiều sâu)
Tóm lại đầu tư phát triển có tác động quan trọng đến tăng trưởng kinh tế không chỉ ở tốc độ mà còn ở chất lượng của tăng trưởng
2.1.3 Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cả mặt lượng và mặt chất của các bộ phận cấu thành nền kinh tế
Đầu tư phát triển có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua quy mô vốn đầu tư nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp vào các bộ phận cấu thành nên nền kinh tế Mặt khác, sự thay đổi và phát triển của các bộ phận nền kinh tế lại quyết định đến sự thay đổi cơ cấu đầu
tư Mối quan hệ được thể hiện qua sơ đồ:
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa đầu tư với các bộ phận cấu thành nền kinh tế
Trang 3(Nguồn: Nhóm tự nghiên cứu)
Những cơ cấu kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân: Cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu theo lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế
Đối với cơ cấu ngành kinh tế: 3 nhóm ngành chính
Nông nghiệp: Đầu tư tác động nhằm đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, trang thiết bị máy móc, công nghệ, cơ giới hoá nông nghiệp,
Công nghiệp: Đầu tư phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành, tăng tỷ trọng GDP làm động lực phát triển cho nền kinh tế
Dịch vụ: Đầu tư phát triển các ngành thướng mại, vận tải dịch vụ hàng hoá, mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế, phát triển các ngành bưu chính viễn thông, dụ lịch, có đóng góp lớn vào GDP
Đối với cơ cấu theo lãnh thổ:
Tuỳ vào vị trí địa lí, địa thế, tài nguyên, kinh tế, chính trị, mà các vùng có những điều kiện phát triển khác nhau tạo ra sự mất cân đối trong phát triển chung của nền kinh tế
Đầu tư phát triển có tác dụng giải quyết những mất cân đối đó, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, giảm khoảng cách với các vùng khác hay phát huy tối đa những lợi thế so sánh của từng vùng để phát triển nhanh hơn, hướng đến mục tiêu chung là phát triển toàn xã hội
Nguồn vốn đầu tư thường tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm, nhằm phát huy được thế mạnh và tiềm năng của vùng, góp phần vào sự phát triển chung cả nước, làm bệ đỡ đẩy các vùng kinh tế khác cùng phát triển
Nguồn vốn đầu tư cũng thúc đẩy các vùng kinh tế khó khăn, tạo điều kiện giúp họ khai thác phát huy tiềm năng của mình, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, giải quyết vướng mắc tài chính, cải thiện cuộc sống thúc đẩy kinh tế phát triển
Đối với cơ cấu theo thành phần kinh tế:
Nền kinh tế Việt Nam chia thành 3 thành phần chính: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Sự tác động của đầu
tư tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu thành phần kinh tế Đầu tư có tác động tạo ra những chuyển biến về tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phần kinh tế Bên cạnh đó, đầu tư còn tạo ra sự đa dạng phong phú về nguồn vốn đầu tư Sự xuất hiện của các thành phần kinh tế mới là nguồn bổ sung một lượng vốn không nhỏ vào tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, tạo ra một nguồn lực mạnh mẽ hơn trước để nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh
tế Trong cơ cấu đầu tư theo thành phần kinh tế nước ta: khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế, động viên mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế
xã hội tuy nhiên sự chuyển dịch diễn ra còn chậm, chưa tương xứng với tiềm lực và nhu cầu phát triển của đất nước
2.1.4 Tác đ ng của đầu tư phát triển đến khoa học và công ngh ộng của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ ệ
Khoa học công nghệ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội, là điều kiện tiên quyết để các nước đang phát triển có thể thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá thành công, đi tắt đón đầu để tránh tụt hậu về kinh tế
Đầu tư phát triển khoa học công ngh là hình thức đầu tư nghiên cứu các công nghệ tiên tiến và triển khai các ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.Trong mỗi thời kì, đối với các nước có nền kinh tế khác nhau thì mức đ đầu tư cho công ngh là khác nhau Để chuyển từ đầu tư vào lao đ ng và nguyên li u sang đầu tư cho máy móc thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức thì cần số vốn đầu tư lớn hơn Công ngh doanh nghi p có được có thể do nh p khẩu, mua lại, tự nghiên cứu, nhưng dù là hình thức nào đi nữa thì nguồn vốn đầu tư cũng đều là rất lớn
-Pháp luật -Cơ sở vật chất -Khoa học công nghệ
-Kế hoạch quy hoạch của nhà nước
-Điều kiện lựa chọn
Trang 4Để phản ánh tác đ ng của đầu tư đến trình đ phát triển của khoa học và công ngh , có thể sử dụng các chỉ tiêu như: tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công ngh / tổng vốn đầu tư; tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị / tổng vốn đầu tư thực hi n; tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu / tổng vốn đầu tư thực
hi n ho c tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các chỉ tiêu này càng lớn phản ánh mức đ đầu tư cho công ngh càng cao.Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Đầu tư phát triển khoa học công ngh cho phép doanh nghi p cải tiến, đổi mới công ngh sản xuất, chuyển dần từ vi c sử dụng nhiều lao đ ng chân tay sang sử dụng các máy móc, công ngh hi n đại Khoa học công ngh đã trực tiếp tác đ ng nâng cao năng suất lao đ ng, giảm nhẹ cường đ lao đ ng, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm tỷ l tiêu hao v t chất, tăng hàm lượng chất xám trong cấu tạo sản phẩm, rút ngắn chu kỳ sản xuất
Nếu đầu tư cho khoa học công nghệ ít được quan tâm chú ý sẽ làm hạn chế tốc độ cũng như chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Vì vậy muốn cải thiệntình hình kinh tế cần phải đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững trắc, có thể bằng con đường tự nghiên cứu phát minh hoặc nhập công nghệ mới từ nước ngoài Nhật Bản là một minh chứng hết sức cụ thể, tốc độ tăng trưởng thần kỳ cùng với những bước nhảy vọt về kinh tế để trở thành một cường quốc như ngày hôm nay có sự đóng góp không nhỏ của quá trình tìm tòi sáng tạo, nghiên cứu triển khai công nghệ trong và ngoài nước của toàn thể người dân Nhật Bản
Từ những phân tích trên có thể thấy được đầu tư phát triển khoa học công ngh có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc đ tăng trưởng kinh tế Khoa học công nghệ không chỉ là thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một nước mà còn trở thành công cụ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường sinh thái
2.1.5 Tác đ ng của đầu tư phát triển đến tiến b xã h i và môi trường ộng của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ ộng của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ ộng của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ
Tiến b xã h i phản ánh sự v n đ ng của xã h i từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong xã h i nào cũng v y, để xây dựng m t xã h i tiến b thìvấn đề phát triển con người được xem là yếu tố then chốt Hoạt đ ng đầu tư phát triển sẽ tạo điều ki n để nâng cao chất lượng cu c sống, cải thi n đời sống của người dân, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn vi c làm cho người lao đ ng, giảm tỷ l thất nghi p, Nhờ có các hoạt đ ng đầu tư phát triển giáo dục, xây dựng h thống đường xá trường trạm mà người dân được hưởng m t nền giáo dục tiên tiến, được chăm sóc sức khỏe toàn di n, tuổi thọ trung bình của người dân được nâng cao Các tri thức mà họ lĩnh h i được thông qua quá trình học hỏi sẽ áp dụng vào trong quá trình sản xuất kinh doanh như
để v n hành máy móc công ngh hi n đại, sáng tạo ra các phát minh mới để nâng cao năng suất lao đ ng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Đầu tư phát triển không chỉ là nhân tố góp phần xây dựng m t xã h i tiến b mà nó còn quyết định trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia
Ở m t khía cạnh khác, đầu tư cũng tác đ ng đến môi trường ở nhiều góc đ Ở góc đ tích cực, đã có nhiều dự án đầu tư được thực hi n để khắc phục vàgiảm bớt sự ô nhiễm môi trường, tiết ki m tài nguyên thiên nhiên, cải thi n h sinh thái ví dụ như hình thức đầu tư sản xuất sử dụng các nguyên li u tái chế, sử dụng năng lượng m t trời, h thống xử lý nước thải, Ở góc đ tiêu cực, hoạt đ ng đầu tư chính là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Khí thải từ các nhà máy, khói bụi từ các công trường xây dựng hay nước thải chưa qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường là các tác nhân gây ra ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước Môi trường vừa là đầu vào vừa là đầu ra của hoạt đ ng đầu tư phát triển Dù tác đ ng của đầu tư tới môi trường là trực tiếp haygián tiếp thì nó cũng chính là m t trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Nhờ có đầu tư phát triển mà cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở lên tươi đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo Đó chính là điều ki n để phát triển kinh tế
2.2 Thực trạng đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Đầu tư là một phần quan trọng tới sự phát triển của Việt Nam nói chung và các quốc gia trên thế giới nói riêng Đầu tư tốt vừa là động lực cho nền kinh tế phát triển, vừa có thể tạo ra những bước ngoặt cho đất nước trong giai đoạn hiện nay Trong thời kì hội nhập kinh tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có vai trò vô cùng to lớn Nó là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo chiều hướng tích cực và tiên bộ, thúc đẩy xuất khẩu, giảm thất nghiệp và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới
2.2.1 Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư ở Việt Nam
2.2.1.1 Quy mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư
Quy mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư
Quy mô:Biểu 1: Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện (2011-2015)
Trang 5(Nguồn:Nhóm tổng hợp từ số liệu Đầu tư & Xây dựng, TCTK)
Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăng liên tục trong giai đoạn 2011-2015 Năm 2011, nguồn vốn đầu tư là 924,495 tỷ đồng, năm 2015 con số này là1.367.205
tỷ đồng, tăng 442.710 tỷ đồng(tương ứng 47,9%) Đây là tín hiệu tốt thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước cũng như hoạt động thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài
Cơ cấu nguồn vốn phân theo thành phần kinh tế
Bảng 2 1: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế (2011-2015)
(Đơn vị: %)
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
(Nguồn: Số liệu Đầu tư & Xây dựng, Tổng cục thống kê)
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển phân theo thành phần kinh tế có sự biến động trong giai đoạn 2011-2015:
Nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước giai đoạn 2011-2012 có xu hướng tăng (từ 37% lên 40,3%) nhằm duy trì ổn định và phát triển kinh tế khi khu vực đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, đến năm 2014,nguồn vốn khu vực Nhà nước có xu hướng giảm, năm 2015 chiếm38% tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Nguồn vốn đầu tư Nhà nước hiện nay đã không còn chiếm ưu thế mà đứng sau khu vực kinh tế ngoài Nhà nước Tuy nhiên đây vẫn là nguồn vốn đầu tư quan trọng đối với cả nước
Khu vực tư nhân ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng của mình trong nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư của khu vực này luôn chiếm tỷ trọng cao và khá ổn định Năm 2015,nguồn vốn đầu tư ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 khu vực(38,7%) Nguyên nhân chủ yếu là do việc cổ phần hóa các doanhnghiệp Nhà nước; nhiều cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh và thành lập mới
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tuy không ổn định nhưng nhìn chung có xu hướng tăng dần và ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sư tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam
2.2.1.2 Tình hình huy động và sử dụng vốn
Nguồn vốn khu vực Nhà nước
Bảng 2 2: Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước phân theo nguồn vốn (2011-2015)
(Đơn vị: %)
Vốn của các Doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác
Trang 6Trong giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước có xu hướng giảm, từ 52,1% năm 2011 giảm xuống còn 42,4% năm 2015(tương ứng 9,7%) Tuy nhiên vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước một phần dành cho chi thường xuyên và phần còn lại dành cho chi đầu tư phát triển Tỷ trọng vốn vay tăng từ 33,4% lên 40,6% gần bằng vốn ngân sách Nhà nước Nguồn vốn Doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác chiểm tỷ trọng ít nhất và có xu hướng tăng trong giai đoạn này.
Đối với hoạt động đầu tư của Nhà nước: vốn đầu tư của Nhà nước đã tập trung cho đầu tư phát triển các hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã
hội Thời gian qua, đầu tư của Nhà nước đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước còn thấp thể hiện rõ thông qua tình trạng đầu tư dàn trải, tiến độ thi công chậm trễ, kéo dài, chất lượng thi công không đảm bảo, vượt chi phí dự toán ban đầu, gây ô nhiễm môi trường, chưa an toàn cho người thi công và người sử dụng Công trình xây xong không sử dụng, một số tiêu cực trong quá trình đầu tư xây dựng làm cho dự án bị thất thoát, tham ô, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế xã hội thấp…
Nguồn vốn khu vực ngoài Nhà nước
Biểu 2: Giá trị và tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
356049.00 385027.00
412506.00
468500.00
529600.00 15.89
7.53
6.66
giá trị (tỷ đồng) tốc độ tăng(%)
(Nguồn:nhóm tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê)
Năm 2011, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đóng góp 356.049 tỷ đồng trong tổng số 924.405 tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm 38,5% Đến năm 2015,số vốn đóng góp là 529.600 tỷ đồng, chiếm 38,7% tổng số vốn toàn xã hội, tăng khoảng 48,74% so với năm 2011 Nguyên nhân chủ yếu là do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, nhiều cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh và thành lập mới
Tuy rằng giá trị nguồn vốn tăng đều qua từng năm nhưng tốc độ tăng nguồn vốn không ổn định Năm 2012, vốn ngoài khu vực Nhà nước có tốc độ tăng đã giảm đi đáng kể so với năm 2011( từ 15,89% xuống còn 7,53%) Sau năm 2012, tốc độ tăng đã tăng trở lại, đến năm 2015, nguồn vốn tăng 11.54% so với năm trước
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiêp từ nước ngoài FDI
FDI là nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển kinh tế FDI có nhiều ưu thế trong huy động và tạo ra các tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn khácđồng thời kích thích thu hút vốn đầu tư trong nước
Biểu 3: Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giai đoạn 2011-2015(tỷ USD)
(Nguồn: số liệu Tổng cục thống kê)
Nhìn chung nguồn vốn FDI đăng kí trong giai đoạn 2011-2015 có sự tăng lên đáng kể từ 15, 5981 tỷ USD lên 24,1150 tỉ USD, vốn FDI giải ngân vẫn duy trì ở mức khoảng 10-12 tỷ USD (trong đó năm 2015 đã tăng mạnh lên mức 14,5 tỷ USD) Tính chung trong 5 năm 2011-2015, tổng số vốn FDI thực hiện (gồm cả phần vốn góp trong nước) đạt 60,5 tỷ USD, tăng khoảng 35,6% so với giai đoạn 2006-2010
Xét về các lĩnh vực tập trung nguồn vốn FDI: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài nhiều nhất với số vốn đăng ký đạt
15,23 tỷ USD, chiếm 66,9% tổng vốn đăng ký Tiếp đến là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt hơn
6
Trang 72,8 tỉ đô la Mỹ, chiếm 12,4% Ngành kinh doanh bất động sản ở vị trí thứ ba đạt gần 2,395 tỉ USD, chiếm 10,5%; các ngành còn lại đạt hơn 2,32 tỷ USD,
chiếm 10,2%.
Xét về khu vực tập trung nguồn vốn FDI: cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới
trong năm 2015, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với số vốn đăng ký đạt hơn 2,8 tỷ USD, chiếm 18% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trà Vinh đạt gần 2,527 tỷ USD, chiếm 16,2%; Bình Dương đạt gần 2,466 tỷ USD, chiếm 15,8%
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA
Trong giai đoạn 2011-2015, đã có khoảng 904 dự án dự kiến hoàn thành với tổng số vốn giải ngân đạt khoảng 21,2 tỷ USD và 348 dự án ODA không hoàn lạivới tổng số vốn khoảng 1,4 tỷ USD Đóng góp của ODA và vốn vay ưu đãi trong giai đoạn này như sau:
- Giao thông vận tải: chiếm tỷ trọng cao nhất (35,68%), đạt trên 9.913 triệu USD Nhiều công trình trọng điểm quốc gia sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu
đãi như Cao tốc Nội Bài – Lào Cai, cầu Vĩnh Thịnh, cầu Nhật Tân, đường nối Nhật Tân – Nội Bài, Nhà ga T2 Nội Bài…và nhiều công trình khác, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng
- Môi trường: (cấp thoát nước, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh…) và phát triển đô thị, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết trong thời
kỳ 2011-2015 đạt khoảng 5.181 triệu USD, bằng 18,65% Nhờ nguồn vốn này mà chương trình nâng cấp đô thị quốc gia đã được triển khai nhằm hỗ trợ các vùng còn khó khăn như Đồng bằng Sông Cửu Long, miền núi phía Bắc…
- Năng lượng và công nghiệp: đứng thứ ba về tỷ trọng, đạt khoảng 4.762 triệu USD, bằng 17,14% Nguồn vốn này được sử dụng hiệu quả, thể hiện qua
sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống điện về nguồn điện, lưới điện truyền tải, phân phối… đóng góp đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một số nguồn và hệ thống truyền tải phân phối điện quan trọng như: Đường dây 500 KV Pleiku – Mỹ Phước – Cầu Bông, Dự án cáp ngầm 110 KV xuyên biển Hà Tiên – Phú Quốc, Dự án Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1…
- Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đạt trên 2.632 triệu USD, bằng 9,47%.
- Y tế - xã hội: tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết đạt khoảng 1.292 triệu USD, bằng 4,65% Các chương trình, dự án vốn vay được sử dụng để tăng
cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện huyện và trạm y tế xã, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y
tế thông qua việc cung cấp trang thiết bị y tế cơ bản và các trang thiết bị y tế kỹ thuật cao…
- Giáo dục và đào tạo: tổng vốn vay đạt 930 triệu USD, bằng 3,35% Nét nổi bật là quyết định của Chính phủ sử dụng vốn vay, kể cả vốn ưu đãi để hỗ trợ
xây dựng một số trường đại học xuất sắc nhằm hướng đến trình độ đại học khu vực và quốc tế
- Khoa học công nghệ: tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết thời kỳ 2011-2015 đạt 3.070 triệu USD, bằng 11,05% Nhiều công nghệ, kỹ năng và kinh
nghiệm quản lý tiên tiến đã được chuyển giao Điển hình là dự án hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường năng lực quản lý, Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu, Dự án nâng cao năng lực cho ngành công nghiệp và thương mại Việt Nam nhằm kiểm soát phát thải khí nhà kính và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu…
(Nguồn: taichinhplus)
2.2.2 Tác động của đầu tư đến nền kinh tế Việt Nam
2.2.2.1 Đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng GDP của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Biểu 4: Tốc độ tăng GDP Việt Nam giai đoạn 2011-2015
(Nguồn:Nhóm tổng hợp từ số liệu Tài khoản quốc gia, TCTK )
5.98
6.68
Giá trị (Tỷ đ ồn g ) tốc đ ô tăng
Trang 8GDP Việt Nam có xu hướng tăng liên tục trong giai đoạn 2011-2015 Năm 2011,GDP nước ta đạt 2.779.800 tỷ đồng, năm 2015 là 4.192.862 tỷ đồng, tăng 1.412.982 tỷ đồng so với 2011, tương ứng khoảng 50,8%
Mặc dù giai đoạn 2011-2012, giá trị GDP có tăng, nhưng tốc độtăng GDP lại giảm từ 6,24% xuống còn 5,25% Từ 2012-2015, tốc độ tăng GDP đã tăng trở lại ,đến 2015 thì tốc độ tăng GDP đạt mức cao nhất trong giai đoạn này là 6,68%, vượt kế hoạch là 6,2% Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi và bắt đầu khởi sắc
Biểu 5: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước phân theo khu vực kinh tế
- Khu vực Công nghiệp – xây dựng có sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất trong ba khu vực.mặc dù trong giai đoạn 2011-2013, tốc độ tăng trưởng không
ổn định, nhưng đến 2015, khu vực này ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng nhất, đạt 9,64% so với cùng kỳ và trở thành khu vực dẫn dắt tăng trưởng của toàn nền kinh tế
- Trong giai đoạn 2011-2013, trong khi khu vực Công nghiệp – xây dựng gặp phải nhiều khó khăn và sụt giảm tăng trưởng thì khu vực dịch vụ lại có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 3 khu vực, và sự tăng trưởng này mặc dù chưa có bước đột phá rõ rệt nhưng lại được duy trì với tốc độ khá ổn định đến 2015
2.2.2.2 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Bảng 2 3: Cơ cấu GDP theo giá thực tế phân theo khu vực (%)
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Công nghiệp và xây
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Nguồn: Niên giám thống kê 2015
Đầu tư ở Việt Nam trong ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn trong đó tỷ trọng đầu tư công nghiệp khoảng trên 32%, dịch vụ khoảng trên36%, tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp giảm dần Cụ thể:
Tỷ trọng ngành nông-lâm-thủy sản trong cơ cấu GDP có xu hướng giảm, từ 19,57% năm 2011 xuống cón 17% năm 2015 Tỷ trọng ngành công nghiêp – xây dựng tăng nhẹ trong 5 năm, năm 2011 chiếm 32,24%, đến năm 2015 ngành này chiếm 33,25% trong cơ cấu Ngành dịch vụ có tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP và có xu hướng tăng liên tục
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có đóng góp khoảng 10% trong cơ cấu
8
Trang 9 Việc tiến hành đầu tư như vậy đã tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tích cực, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóacủa đất nước.
Chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế
Trong những năm qua Nhà nước ta đã có chính sách phân bổ cơ cấu đầu tư tương đối hợp lý Hàng loạt các công trình trọng điểm quốc gia được xây dựng thu hút nguồn vốn rất lớn
Đầu tư trong những năm qua đã góp phần giải quyết phần nào sự mất cân đối trong phát triển giữa các vùng miền Đồng bằng có lợi thế phát triển kinh tế
xã hội hơn nên thu hút được lượng vốn đầu tư lớn
2.2.2.3 Tác động đến khoa học – công nghệ
Nước ta đã dành một lượng vốn lớn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ Thống kê cho thấy, đầu tư cho khoa học và công nghệ trong vài năm trở lại đây đã chiếm 2% tổng chi ngân sách, tức là khoảng 0,5% GDP của cả nước Nhờ nguồn lực đầu tư nói trên, tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường, từ xây dựng hạ tầng cơ sở (cơ quan làm việc, xưởng và trại thực nghiệm, phòng thí nghiệm) cho đến sửa chữa nhỏ, tăng cường máy móc thiết bị hiện đại Công tác nghiên cứu khoa học đã được cải thiện một bước Cán bộ khoa học và công nghệ đã được tham gia các khóa đào tạo, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, từ đó, đã có được những đề tài khoa học và sản phẩm công nghệ có giá trị, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Lĩnh vực KH-CN thời gian qua đạt được nhiều thành tựu, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, việc đầu tư vào KH-CN đã giúp cho nhiều doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường
Trong những năm qua, việc sử dụng ngân sách đầu tư cho các nhiệm vụ KH&CN đã đem lại hiệu quả cao tiêu biểu như: Viện nghiên cứu Cơ khí, Bộ Công Thương đã phối hợp với các đơn vị trong nước thiết kế, chế tạo các thiết bị cơ khí thủy công phục dự án thủy điện Cho đến nay đã thiết kế, chế tạo cung cấp thiết bị cơ khí thuỷ công cho khoảng 20 dự án thuỷ điện bao gồm cả Thủy đi n Sơn La và Lai Châu với tỷ l n i địa hóa trên 90% Hi u quả đem lại là doanh nghiệp Việt Nam có thể làm chủ thiết kế, chế tạo và cung cấp thiết bị với giá từ 1,5 đến 2 USD/kg thay cho trước đây phải nhập khẩu với giá khoảng
3 USD/kg, đồng thời, tạo công vi c cho hàng ngàn lao đ ng ngành cơ khí (Nguồn:”Hiệu quả sử dụng ngân sách cho KH&CN”, Truyền thông Khoa học – Công nghệ)
Hay như Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel đi đầu trong việc đầu tư cho khoa học và công nghệ, dành 10% cho khoa học và công nghệ và dự báo năm nay(2015), Viettel sẽ có mức lợi nhuận 2 tỷ USD Như vậy, họ có thể dành 200 triệu USD cho khoa học và công nghệ Họ đã thành lập ba viện nghiên cứu, có
nhiều sản phẩm rất hữu ích đáp ứng nhu cầu của quân đội và của xã hội (Nguồn: bài báo”Hướng đi nào cho khoa học - công nghệ ở Việt Nam”, VUSTA)
2.2.2.4 Đầu tư tác động đến các vấn đề xã hội và môi trường
Đầu tư giữ vai trò quan trọng, quyết định tới tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ Có thể thấy trong những năm qua, đầu tư đã góp phần cải thiện cuộc sống người dân, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng liên tục qua các năm
Xóa đói giảm nghèo
Trong năm 2015, cả nước có 227,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 27,8% so với năm trước, tương ứng với 944 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 29,6% Thiếu đói trong năm tập trung chủ yếu ở một số tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành, các tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,7 nghìn tấn lương thực
và 8,5 tỷ đồng Tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 ước tính khoảng 7%-7,2%, giảm 1,2-1,4 điểm phần trăm so với năm 2014.(Nguồn: tình hình kinh tế - xã hội năm 2015,TCTK)
Bảo v môi trường là m t trong những yếu tố để phát triển kinh tế bền vững Nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực môi trường ngày một tăng Công tác bảo tồn
đa dạng sinh học, ứng dụng khoa học, hợp tác quốc tế và khu vực được chú trọng triển khai thực hiện đồng bộ Hi n nay, đã có nhiều dự án được đầu tư
để cải thi n môi trường như dự án cải thi n môi trường nước ở Nam Bình Dương, các dự án về thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên thuộc
03 lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai (2014), dự án thu gom xử lý rác thải sinh hoạt,
Trang 10KẾT LUẬN: Từ thực trạng phát triển trên ta thấy được hoạt động đầu tư phát triển ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, nâng tầm vị thế của
Việt Nam lên, tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế:
- Nền kinh tế Việt Nam đã bước ra khỏi khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 là 6,78% cao hơn mục tiêu đề ra là 6,5% Đến năm 2015 vẫn duy trì ở mức cao là 6.68%
- Cơ cấu kinh tế chịu ảnh hưởng từ cơ cấu đầu tư nên chuyển dịch theo hướng tiến bộ tích cực, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên
- Chất lượng tăng trưởng cũng được cải thiện rõ rệt: năng suất lao động tăng lên, các yếu tố tổng hợp TFP tăng,
- Đầu tư phát triển đã góp phần cải thiện cuộc sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, giải quyết được các vấn dề việc làm, về xã hội, môi trường,
Do đó không thể phủ nhận được vai trò quan trọng của đầu tư đối với phát triển kinh tế và có thể thấy rằng đầu tư chính là chìa khóa cho sự tăng trưởng
và phát triển của mỗi quốc gia
Tuy nhiên, đầu tư lại không là yếu tố quyết định hoàn toàn tới sự phát triển kinh tế bởi bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển thì cần phải có những đường lối chính sách phát triển phù hợp, đúng đắn, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh của nhà nước Nhất là đối với Việt Nam có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vẫn còn chịu nhiều sự chi phối của nhà nước như:
- Các hoạt động kinh doanh đều phải nằm trong khuôn khổ luật pháp
- Đầu tư phát triển mở rộng sản xuất phải phù hợp với định hướng của nhà nước phù hợp với sự phát triển chung, không làm ảnh hưởng hay tổn thất mất mát đến xã hội, môi trường và vấn đề nhạy cảm như chính trị,
- Các chính sách hỗ trợ phát triển cho tư nhân và xã hội
Vì mục tiêu chung của xã hội, phát triển kinh tế hướng đến không những tăng trưởng kinh tế mà còn là tiến bộ xã hội nên nhà nước còn quản lý và chi phối nhiều tới nền kinh tế nên nếu như không có những định hướng đúng đắn, những chính sách kích thích sản xuất, kích cầu tiêu dùng, chính sách hỗ trợ, củanhà nước thì nền kinh tế không thể phát triển nhanh được
Do vậy, đầu tư phát triển tuy quan trọng nhưng lại không là yếu tố quyết định đến phát triển của một quốc gia
2.2.3 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
2.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế còn thấp
Tuy tăng trưởng GDP đã có sự khởi sắc trong khó khăn, nhưng tốc độ tăng trưởng còn thấp, nhất là trong giai đoạn 2011-2013, tốc độ trung bình chỉ đạt 5,52%, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu là 6,5-7%
Trong giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa trên tăng vốn, đóng góp từ lao động vào TFP còn hạn chế trong khi Việt Nam có lợi thế về lao động hơn là lợi thế về vốn Hiệu quả tăng trưởng kinh tế thấp, khi TFP đóng góp vào tăng trưởng GDP chỉ là 28,94%, vốn đóng góp 51,28% và lao động đóng
góp 19,78%.(Nguồn: Tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 thấp nhất kể từ năm 2000”, Báo Hải quan).
Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác liên quan đến hiệu quả tăng trưởng kinh tế như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (hệ số ICOR) cũng cho thấy xu hướng nói trên Việc huy động được nguồn vốn lớn đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội nhưng về hiệu quả đầu tư thấp, thể hiện qua hệ số ICOR của Việt Nam ở mức cao và tăng dần qua các thời kỳ
Bảng 2 4: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2011-2015
Trang 11- Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009 đến nay, kinh tế thế giới vẫn sụt giảm, tăng trưởng chậm, nền kinh tế Việt Nam bịảnh hưởng không nhỏ.
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta chậm được hoàn thiện; Nhiều bất cập, thiếu đồng bộ, chưa tạo ra được môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh
- Quản lý nhà nước về kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, song đạt hiệu quả chưa cao Chưa tập trung được các nguồn lực, chưa phát huy được các tiềm năng của nền kinh tế; quản lý kinh tế vĩ mô chưa hiệu quả; nhiều chính sách nhưng tính thực tiễn chưa cao; chưa có những giải pháp, chính sách ứng phó linh hoạt, kịp thời với những tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước
2.2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đảm bảo sự hợp lý
Cơ cấu kinh tế đã chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng chưa đảm bảo sự hợp lý, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế diễn ra còn chậm và chất lượng chưa cao Sự phát triển chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động phổ thông Sự dịch chuyển cơ cấu lao động chậm so với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nguyên nhân:
- Thiếu vốn và chưa tận dụng được các nhân tố năng suất tổng hợp TFP TFP tăng với tốc độ thấp, ở Việt Nam mới phát triển theo chiều rộng chưa chuyển mạnh sang phát triển chiều sâu
- Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu không đồng bộ về quy mô, tốc độ tăng trưởng giữa các ngành dẫn đến sự chuyển dịch
cơ cấu lao động Bên cạnh đó đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào một số ngành khai thác nguyên liệu, khoáng sản, những ngành tập trung vốn lớn, một số ngành được bảo hộ cao như lắp ráp ô tô, xe máy
- Những bất cập về chính sách thu hút vốn đầu tư vào nông nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chưa thực sự tạo được sức hấp dẫn đối với cácnhà đầu tư
2.2.3.3 Đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp
Ngân sách cho KH&CN vẫn chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng chi
Hiện nay, Nhà nước duy trì mức đầu tư cho hoạt động KH&CN (chưa tính kinh phí sự nghiệp môi trường và an ninh, quốc phòng) với tỷ lệ khoảng
1,36-1,59% tổng chi ngân sách nhà nước (Nguồn: “Hiệu quả sử dụng ngân sách cho KH&CN”, truyền thông Khoa học công nghệ)
Về tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm và không đồng đều giữa các ngành Phần lớn nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ
Các doanh nghiệp chủ yếu phải nhập khẩu máy móc, thiết bị từ nước ngoài để đổi mới công nghệ Số liệu thống kê cho thấy, hai nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong năm 2014 là máy móc - thiết bị (22.5 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2013) và máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện (18,7 tỷ USD, tăng 5.8%) Tuy nhiên, nguồn gốc xuất xứ của máy móc, thiết bị chủ yếu từ Trung Quốc (35%), tỷ trọng nhập khẩu từ các quốc gia tiên tiến về công nghệ (như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ) rất thấp (17%, 12% và 4,5%) Do vậy, mức độ tiên tiến, hiện đại của các công nghệ, thiết bị được các doanh Nghiệp Việt Nam đầu tư
nhập khẩu còn hạn chế, chủ yếu chỉ ở mức trung bình so với thế giới (Nguồn: “Báo cáo sơ kết thực hiện Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 2020”, Bộ Khoa học và Công nghệ)
2.2.3.4 Xã hội và ô nhiễm môi trường
GDP bình quân đầu người tăng nhưng đời sống người dân cải thiện không đáng kể, chênh lệch giàu nghèo ở nước ta còn lớn Đặc biệt chúng ta có thể kể đến hai vùng Đông Bắc và Tây Nguyên Hai vùng này có hố ngăn cách về giàu – nghèo ngày càng bị khoét rộng hơn, sự phân hóa giàu nghèo ngày một sâu sắc hơn Tuy Nhà nước đã ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các huy n nghèo, xã, thôn bản đ c bi t khó khăn, vùng dân t c và miền núi nhưng mức đầu tư còn thấp so với nhu cầu thực tế Tốc đ giảm nghèo không đồng đều, chưa bền vững Tỷ l nghèo đã giảm nhanh ở các huy n nghèo, xã đ c bi t khó khăn, vùng dân t c nhưng nhiều nơi tỷ l nghèo vẫn còn trên 50%, cá bi t còn trên 60-70% Tỷ trọng h nghèo dân t c thiểu số chiếm 47% tổng số h
Trang 12ngèo trong cả nước, thu nh p bình quân của h dân t c thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nh p bình quân của cả nước, chênh l ch giàu nghèo còn cao biểu
hiện là năm 2014 thu nhập của nhóm giàu gấp 8,5 lần thu nhập của nhóm nghèo ( Nguồn: Báo đi n tử đài tiếng nói Vi t Nam) ện tử đài tiếng nói Việt Nam) ện tử đài tiếng nói Việt Nam)
Nguyên nhân:
- Khu vực thành thị thu hút nhiều vốn đầu tư, thu nhập người dân có tăng tuy nhiên chi phí sinh hoạt lại đắt đỏ, khu vực miền núi nông thôn có ít vốn đầu tư, thu nhập người dân vẫn còn thấp
- Các chính sách giảm nghèo chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho không, trong khi các chính sách tạo sinh kế cho người nghèo còn ít, suất đầu tư thấp
Môi trường tự nhiên ngày càng suy kiệt Các dự án thủy điện, các dự án vốn đầu tư nước ngoài đã nâng cao đời sống người dân, thay đổi bộ mặt cả nước nhưng đi cùng với đó là những tác động không nhỏ tới môi trường, điển hình là sự cố khiến nước từ bãi xỉ thải tràn ra ngoài khu dân cư của nhà máy nhi t đi n Vĩnh Tân 2 (T10/2015), xả thải trực tiếp ra môi trường của Vedan, Thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, trong 5 năm (2011 - 2015), cơ quan này đã thanh tra, kiểm tra 3.440 cơ sở và khu công nghiệp, cụm công nghiệp; qua đó xử phạt đối với 2.170 tổ chức vi phạm với số tiền phạt trên 277 tỷ đồng và buộc các đơn vị phải khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định
Nguyên nhân: Do sự quản lí của nhà nước đối với các dự án đầu tư còn kém hiệu quả, các tiêu chuẩn về môi trường đối với các dự án FDI còn thấp, công
tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp ở địa phương, đặc biệt là việc quản lý, giám sát các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên còn nhiều bất cập Ở nhiều nơi, lãnh đạo các cấp, ngành và chính quyền địa phương còn buông lỏng quản lý, chưa chặt chẽ và quyết liệt
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đang tạo nên một nhu cầu rất lớn về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguyên liệu cho các ngành kinh
tế Việc khai thác, tận dụng tối đa mọi nguồn lực tài nguyên thiên nhiên sẵn có làm cho các chủ thể, trong đó có doanh nghiệp thu về lợi nhuận lớn Ngược lại, chi phí cho vấn đề bảo vệ, tái tạo và cải thiện môi trường tự nhiên làm suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ nghiêm pháp luật về bảo vệ môi trường, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy kiệt
12
Trang 13CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ NHẰM THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1 Nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế
Định hướng
Mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian tới được xác định vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện đại, tạo ra sự tương tác linh hoạt và hiệu quả giữa cách thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực trong nước và bên ngoài, tạo ra năng lực sản xuất ngày càng lớn và có chiều sâu, hiệu quả Cơ chế phân phối hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Thúc đẩy tăng tổng cầu trên thị trường trong và ngoài nước để đạt tăng trưởng GDP tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế Để đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm tới cần có một lộ trình thích hợp Giai đoạn đầu cần hình thành sự tương tác linh hoạt và hiệu quả giữa cách thức tạo ra năng lực sản xuất với sự kết hợp của các nhân tố chiều rộng và chiều sâu một cách hiệu quả, đồng thời phải tạo được cách thức phân phối tương xứng với nó
Giải pháp
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng
giữa các doanh nghiệp bằng cách hoàn thi n chính sách thuế nhằm đảm bảo sự bình đẳng về quyền hạn và nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghi p, không phân bi t thành phần kinh tế để khuyến khích cạnh tranh lành mạnh
- Về công tác điều hành, cải thi n và nâng cao chất lượng của b kế hoạch và đầu tư, sở đầu tư và các ban ngành có liên quan Đưa ra mức chiphí phù hợp cho công tác giám sát, đánh giá đầu tư để tạo điều ki n cho cán b và công ty tư vấn thực hi n tốt nhi m vụ này, trực tiếp nângcao hi u quả hoạt đ ng đầu tư, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng
- Cần tạo điều ki n thu n lợi cho các doanh nghi p tư nhân, h gia đình phát triển sản xuất kinh doanh Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư phát riển, đưa nguồn vốn nhàn rỗi còn lớn trong dân cư vào sản xuất kinh doanh Chú trọng hỗ trợ các doanh nghi p tư nhân vừa và nhỏ Hỗtrợ, tư vấn cho các doanh nghi p tư nhân ở địa phương nên phát triển ngành nghề phù hợp với thị trường, với lợi thế của từng vùng …
- Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã cam kết Giảm tối đa các thủ tục hành chính, bỏ những thủ tục không cần thiết, rút ngắn thời gian cấp phép, giúp doanh nghiệp triển khai dự án nhanh chóng
- Đảm bảo ổn định về kinh tế, chính trị cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các nhà đầu tư tùy theo từng lĩnh vực trong từng thời kỳ
1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý
Định hướng
Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững là mục tiêu phấn đấu của tất cả các nước Để thực hiện được mục tiêu đó cần thiết phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý Trong đó cần phải xác vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ hợp thành giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế Các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế phải được thể hiện cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng và được xác định trong những giai đoạn nhất định, phù hợp với những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của mỗi quốc gia qua từng thời kỳ
Giải pháp
Chuyển dịch cơ cấu ngành:
- Đầu tư tăng mạnh hơn nữa tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta trước hết chính là quá trình phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp, thông qua đó giảm bớt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng khả năng tích luỹ cho dân cư Đây lại chính là điều kiện để tái đầu tư, áp dụng các phương pháp sảnxuất, công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất, trong đó có cả sản xuất nông nghiệp Kết quả là, tất cả các ngành kinh tế đều phát triển, nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn, biểu hiện là tăng tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp và dịch
vụ trong GDP
- Đầu tư chuyển dịch cơ cấu khu vực nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH: đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở khu vực nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động Đồng thời phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách đất đai… nhất là hệ thống pháp luật kinh tế nhằm phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần
Chuyển dịch cơ cấu vùng:
Đầu tư gắn liền với việc hình thành các vùng kinh tế dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, gắn với nhu cầu của thị trường Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình chuyển biến căn bản về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Xoá bỏ tình trạng chia cắt về thị trường giữa các vùng; xoá bỏ tình trạng tự cung tự cấp, đặc biệt là tự cung, tự cấp về lương thực của từng vùng, từng địa phương Mỗi địa phương cần đặt mình trong một thị trường thống nhất, không chỉ là thị trường cả nước mà còn là thị trường quốc tế, trên cơ sở đó xác định những khả năng, thế mạnh của mình để tập trung phát triển, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác lao động có hiệu quả
1.3 Tăng đầu tư cho khoa học công nghệ
Định hướng
Trang 14- Tập trung đầu tư phát triển các tổ chức khoa học công nghệ trọng điểm, liên kết các tổ chức khoa học công nghệ cùng tính chất, lĩnhvực hoặc liên ngành, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh đủ năng lực giải quyết những nhiệm vụ quốc gia
- Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của cán bộ quản lý khoa học công nghệ ở các ngành, các cấp
- Đầu tư phát triển hệ thống các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ, các chợ công nghệ và thiết bị Bảo đảm thực thi pháp luật về
- Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó, đặt trọng tâm đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên phạm vi cả nước Cần có sự phốihợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành trong quá trình thanh tra, kiểm tra; và phải coi trọng dân là "tai mắt" trong thanh tra Kết quả thanh tra,kiểm tra được công bố công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Đầu tư kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Chưa bao giờ chúng ta có cơ hội lớn như tại thời điểm này để lựa chọn mô hình tăng trưởng bền vững hơn Chúng ta phải chuyển dịch nhanh, mạnh các ngành, các khu vực kinh tế hiện đại, tính cạnh tranh cao và ít gây ô nhiễm môi trường hơn; tập trung đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp
lý ở các vùng chậm phát triển; xây dựng và triển khai các dự án theo cơ chế phát triển sạch
- Coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế, tiếp cận các xu thế tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải môi trường, sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát triển Đã đến lúc "nói không" với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn
- Tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường theo hướng hiện đại, đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ ngày càng phức tạp, nặng nề, đáp ứng yêu cầu Bên cạnh đó, tạo cơ chế phối hợp, hợp tác và huy động mọi thành phần kinh tế, toàn xã hội và tranh thủ sự
hỗ trợ của quốc tế cho công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các thành phần kinh
tế, các tổ chức xã hội, mọi người dân tham gia bảo vệ môi trường, làm kinh tế từ môi trường
- Cần bổ sung, hoàn thiện các quy định và cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cụm công nghiệp, làng nghề, các lưu vực sông, môi trường nông thôn, miền núi, biển và hải đảo Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng bộ luật môi trường, chuẩn bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập
Hệ thống pháp luật về môi trường phải tương thích, đồng bộ trong tổng thể hệ thống pháp luật chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
***************************************************************************************
MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.2.1 Đầu tư phát triển tác động tới tăng trưởng kinh tế
Đầu tư tác động tới tổng cầu
F E
P1
P
Trang 15Khi tăng đầu tư (khi các yếu tố khác không thay đổi) dẫn đến đường cầu dịch chuyển từ D1 sang D2 làm sản lượng cân bằng tăng theo từ E đến F
Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung
Hàm tổng cung: Q=f (K,L,R,T,…)
Khi tăng vốn đầu tư thì đường tổng cung tăng dịch chuyển từ S0 sang S1 làm sản lượng cân bằng tăng từAđến B Do đó, đầu tư làm tăng tổng cung của nền kinh tế
Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng
- Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện qua hệ số ICOR- hệ số gia tăng vốn – sản lượng
Hệ số ICOR là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng
Như vậy, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư tăng thêm
- Đầu tư có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao hay thấp mà còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.Thể hiện qua yếu tố TFP phản sự gia tăng chất lượng laođộng, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất TFP phụ thuộc hai yếu tố: tiến bộ công nghệ và hiệu quả sử dụng vốn, lao động
Kết luận: giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế có sự quan hệ chặt chẽ với nhau Đầu tư vốn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kéo theohướng hợp lý Ngược lại, tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý sẽ tạo nguồn đầu
tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn
Đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Vốn và tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư cho các ngành khác nhau sẽ mang lại những hiệu quả khác nhau,dẫn đến sự phát triển của chúng khác nhau Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu ngành
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ
Vốn và tỷ trọng vốn đầu tư vào các vùng lãnh thổ có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng lãnh thổ làm tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế các thành phần kinh tế
Chính sách đầu tư hợp lý và định hướng đầu tư đúng làm tác động đến chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế
S0
P
Trang 16 Tác động của đầu tư đến phát triển khoa học và công nghệ
Đầu tư tác động đến việc tăng cường năng lực khoa học công nghệ của một quốc gia thông qua việc tạo ra các công nghệ nội sinh và ngoại sinh.Mặt khác, việc áp dụng công nghệ mới làm năng suất tăng rồi dẫn đến sản lượng tăng tích lũy tăng rồi dẫn đến phát triển công nghệ
Đầu tư tác động đến tiến bộ xã hội và môi trường
Đầu tư là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời, đầu tư cũng tác động tới môi trường từ nhiều góc độ
- Ở góc độ tích cực, những hoạt động đầu tư sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng tiết kiệm, tài nguyên môi trường là tác động tích cực đến đầu tư phát triển
- Ở góc độ tiêu cực, ô nhiễm môi trường là hoạt động của việc đầu tư
2.2.2 Tác động ngược lại của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư phát triển
Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư
Tăng trưởng kinh tế làm hoàn thiện hơn môi trường đầu tư thông qua việc hoàn thiện cơ chế chính sách Môi trường đầu tư phải được hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước đảm bảo.Nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu vồn đầu tư càng nhiều, yêu cầu hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư, môi trường đầu tư ngày càng một thông thoáng hơn
Tăng trưởng kinh tế cao làm tăng tỷ lệ tích lũy, góp phần bổ sung vốn cho đầu tư phát triển
Tăng trưởng kinh tế làm cho nền kinh tế có nội lực lớn hơn, quy mô vốn của toàn bộ nền kinh tế ngày càng lớn Vốn được sử dụng hiệu quả thì khả năng thu hút vốn càng lớn Phát triển kinh tế thể hiện một sự tăng lên cả về mặt chất và lượng của nền kinh tế, nền kinh tế ngày một hoàn thiện hơn
Cá nhân doanh nghiệp tổ chức kinh doanh thu được lợi nhuận lớn hơn Quy mô tích lũy nhờ đó cũng tăng lên
Tăng trưởng kinh tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện tiền đề để gia tăng đầu tư vào những vùng miền có nhiều lợi thế cạnh tranh mới
Khi nền kinh tế càng tăng trưởng và phát triển mạnh, yêu cầu về cơ sở hạ tầng kĩ thuật ngày càng cao, do đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện hơn cả về số lượng và chất đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2015
3.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2015
3.1.1 Tổng quan về vốn đầu tư phát triển
- Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội Vốn đầu tư tạo điều kiện cho
sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc được đổi mới, nâng cấp hiện đại hoá đồng thời tạo ra các tài sản lưu động lần đầu tiên gắn liền với các tài sản cố định mới tạo ra hoặc được đổi mới
- Vốn đầu tư phát triển là những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy,thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá, cầu cống, đường xá); tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình
độ khoa học kỹ thuật)
- Vốn đầu tư phát triển gồm: vốn đầu tư XDCB và sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn lưu động bổ sung; vốn đầu tư phát triển khác
- Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm: chi phí thăm dò, khảo sát và qui hoạch ngành, vùng lãnh thổ; chi phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia,chi phí cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực không thuộc vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Vốn đầu tư phát triển là vốn được bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư nhằm sau một chu kỳ hoạt động hoặc sau một thời gian nhất định thu về một giá trị nhất định lớn hơn giá trị vốn đã bỏ ra ban đầu Nội dung của vốn đầu tư phát triển gồm: vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư mua sắm thiết
bị máy móc, tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh, vốn đầu tư cho sửa chữa lớn tài sản cố định; vốn đầu tư bổ sung cho vốn lưu động và các nguồn vốn đầu tư phát triển khác như vốn đầu tư để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, cho khoa học công nghệ, cho đào tạo nguồn nhân lực con người
Từ đó ta có:
Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế.
Đơn vị: tỷ đồng
16
Trang 172011 2012 2013 2014 Sơ bộ 2015 Tổng số 924.495 1.010.114 1.094.542 1.220.704 1.367.205
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 55.284 52.93 63.658 61.524 71.095
Công nghiệp chế biến, chế tạo 186.008 222.528 262.846 322.251 356.84
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí 75.347 79.294 66.175 76.906 97.072
Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 23.297 23.94 21.672 23.682 27.618
Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 49.461 64.849 80.887 74.464 68.907
Vận tải, kho bãi 104.653 106.365 117.116 164.798 194.143
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 20.802 27.576 28.677 21.363 20.918
Thông tin và truyền thông 31.617 32.627 31.303 24.048 23.242
Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 18.952 22.425 25.503 17.945 18.321
Hoạt động kinh doanh bất động sản 45.763 52.728 76.837 57.008 60.841
Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 11.556 14.041 18.264 24.903 31.856
Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 29.121 28.788 21.212 12.818 12.305
Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội; quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng; đảm bảo xã hội bắt buộc 28.844 30.606 31.731 46.387 48.262
Giáo dục và đào tạo 27.273 31.415 27.145 41.871 49.903
Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 15.255 18.99 24.505 27.222 33.496
Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 14.607 17.071 15.871 15.137 19.141
Nguồn: tổng cục thống kê
Nhận xét:
- Vốn đầu tư phát triển theo giá hiện hành theo ngành kinh tế cho ta thấy ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ năm 2010 đến năm 2015 ngày càng
có nguồn vốn đầu tư cao trong năm 2015 là 358.84 tỷ đồng tiếp theo là các ngành vận tải kho bãi từ năm 2015 là 194.143 tỷ đồng Và đứng thứ 3 là ngành xây dựng năm 2015 là 113.478 tỷ đồng Trong đó, ngành hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ ngành càng giảm Năm 2011 là 29.121 tỷ đồng đến năm 2015 giảm xuống 12.305 tỷ đồng
3.1 2.Tình hình tăng trưởng kinh tế của việt năm 2010-2105
* Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
-Với quyết tâm cao của cả nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sớm vượt qua giai đoạn khó khăn và phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so với năm 2009 Đây là mức tăng khá cao so với mức tăng 6,31% của năm 2008 và cao hơn hẳn mức 5,32% của năm 2009, vượt mục tiêu đề ra 6,5% Trong 6,78% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,78%; công nghiệp, xây dựng tăng 7,7% và khu vực dịch vụ tăng 7,52% Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, phù hợp và hiệu quả của các bi n pháp và giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết liệt các các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện
-Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm 2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiệntình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý Tổng sản phẩm trong nước tăng đều trong cả ba khu vực và một lần nữa lại thể hiện rõ tính trụ đỡ của khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.Trong 5,89% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53 và khu vực dịch vụ tăng 6,99% Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các bi n pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện
-Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng năm 2012tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý, khẳng định tính kịp thời, đúng đắn và hiệu quả của các bi n pháp và giải pháp thực hiện của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,42%
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012 Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm qua có nhiều bất ổn, sản xuất trong nước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô nên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các bi n pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013 Mức tăng trưởng năm nay cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012
và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế Trong mức tăng 5,98% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp vàthủy sản tăng 3,49%, cao hơn mức 2,64% của năm 2013; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,14%, cao hơn nhiều mức tăng 5,43% của năm trước; khu vực dịch vụ tăng 5,96%
- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014 Mức tăng trưởng năm nay cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2010-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét Trong mức tăng 6,68% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước; khu vực dịch vụ tăng 6,33%
Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương 2109 USD, tăng 57 USD so với năm 2014 Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục có sự chuyển dịch nhưng tốc độ chậm, trong đó khu vực nông,
Trang 18lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,00%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,25%; khu vực dịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 10,02%) Cơ cấu tương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%; 39,04% (thuế là 10,05%)
Bảng 2: Tốc độ tăng sản phẩm trong nước giai đoạn 2010-2015
Đơn vị tính: (%)
Nguồn: tổng cục thống kê
*Đầu tư phát triển
Năm 2015 tiếp tục thực hiện đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế trong đó có tái cơ cấu đầu tư đi đôi với việc tiếp tục giảm dần đầu tư công, giảm tỷ trọng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, hoàn thiện thể chế về đầu tư nhằm huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển.Các ngành và cơ quan chức năng thực hiện đẩy mạnh huy động các nguồn lực và đa dạng hóa hình thức đầu tư, đồng thời tập trung chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư phát triển theo kế hoạch được giao, đặc biệt là các chương trình dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi Môi trường pháp lý đầu tư được đổi mới và từng bước hoàn thiện góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI theo hướng nâng cao chất lượng nguồn vốn, khuyến khích các dự án sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sản xuất các sản phẩm có khả năng cạnh tranh và tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, ưu tiên các dự án phát triển công nghệ phụ trợ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Trong đó:
+ Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010 theo giá thực tế ước tính đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2009 và bằng 41,9% GDP, trong đó có 1980 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương và 4487,5 tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ được Thủ tướng cho phép ứng trước
để bổ sung và đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án quan trọng hoàn thành trong năm 2010 Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm nay, vốn khu vực Nhà nước là 316,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,1% tổng vốn và tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 299,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,1% và tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 214,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,8% và tăng 18,4%
+ Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì bằng 90,6% năm 2010) và bằng 34,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 309,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%
+ Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 989,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP, đây
là năm có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012, vốn khu vực
Nhà nước đạt 374,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,8% tổng vốn và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 385 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 230 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 1,4%
+Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 1091,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước và bằng 30,4%
GDP Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013, vốn khu vực Nhà nước đạt 440,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,4% tổng vốn và tăng 8,4% so với
năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 410,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% và tăng 6,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 240,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 22% và tăng 9,9%
+Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 1220,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với năm 2013 và bằng 31% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 486,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng vốn và tăng 10,1% so với năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 468,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,4% và tăng 13,6%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 265,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,7% và tăng 10,5%
+Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 519,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 38% tổng vốn và tăng 6,7% so với năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 529,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 13%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 318,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 19,9%
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2015 ước tính đạt 220,4 nghìn tỷ đồng, bằng 100,6% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với năm 2014
Bảng 3: Tốc độ phát triển vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của năm 2010– 2015 theo giá hiện hành.
Đơn vị tính: (%)
18
Trang 192010 2011 2012 2013 2014 2015
Nguồn: tổng cục thống kê
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 thu hút 2013 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15,58 tỷ USD, tăng 26,8% về số dự án và giảm 0,4% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014 Đồng thời có 814 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 7,18 tỷ USD Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2015 ước tính đạt 14,5 tỷ USD, tăng 17,4% so với năm trước
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 15,23 tỷUSD, chiếm 66,9% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2809,3 triệu USD, chiếm 12,4%; ngành kinh doanh bất động sản đạt 2394,7 triệu USD, chiếm 10,5%; các ngành còn lại đạt 2320,1 triệu USD, chiếm 10,2%
Trong số 58 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam năm 2015, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 2678,5 triệu USD, chiếm 17,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Ma-lai-xi-a 2447,5 triệu USD, chiếm 15,7%; Xa-moa 1314 triệu USD, chiếm 8,4%; Nhật Bản 1285 triệu USD,chiếm 8,2%; Vương quốc Anh 1265,7 triệu USD, chiếm 8,1%; Xin-ga-po 1035 triệu USD, chiếm 6,6%; Đài Loan 940,4 triệu USD, chiếm 6%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 697,8 triệu USD, chiếm 4,5%; Trung Quốc 665,5 triệu USD, chiếm 4,3%
3.2 MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
3.2.1 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế
3.2.1.1 Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
Vốn là m t trong những yếu tố sản xuất và cũng chiếm m t tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn b nền kinh tế Theo số li u của WB thì đầu tư thường chiếm từ 24% đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước Vốn đầu tư ở nước ta ngày càng tăng, tác đ ng đến GDP tăng theo bảng
Bảng 4: GDP và vốn đầu tư giai đoạn 2010-2015
(Nghìn tỷ đồng)
GDP thực tế(Nghìn tỷ đồng)
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2010 đến nay đều đã vượt qua mốc 30%, trong đó cao nhất là năm 2010 đạt 38,5%
Trong những năm qua, các ngành và cơ quan chức năng đã thực hiện việc đẩy mạnh huy động các nguồn lực và đa dạng hóa hình thức đầu tư, đồng thời tập trung chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư phát triển theo kế hoạch được giao Dựa vào bảng trên
và theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 của Tổng cục thống kê cho biết: vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 519,5 nghìn tỷ đồng,chiếm 38% tổng vốn và tăng 6,7% so với năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 529,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 13%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 318,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 19,9%
Như vậy, với đà tăng trưởng này của vốn đầu tư phát triển, sẽ là một dấu hiệu tốt cho sự tăng trưởng của GDP
Bảng 5: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế, giai đoạn 2010 – 2015.
Đơn vị: nghìn tỷ đồng
Trang 20Năm GDP thực tế Nông, lâm nghiệp và thủy
- Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 7,69%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp ở mức 2,03% do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, nhưng quy mô trong khu vực lớn nhất (chiếm khoảng 75%) nên đóng góp 0,26 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm, là mức tăng trưởng thấp nhất của ngành này trong 6 năm qua do đối mặt với nhiều khó khăn về thời tiết, dịch bệnh, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,39% so với năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%, cao hơn nhiều mức tăng của một số năm trước, đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng của khu vực II và góp phần quan trọng trong mức tăng trưởng chung Ngành khai khoáng tăng 6,50% Ngành xây dựng đạt mức tăng 10,82% so với năm trước, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010
- Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 9,06% so với năm 2014, đóng góp 0,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm; hoạt đ ng kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 2,96%, cao hơn mức tăng 2,80% của năm trước và chủ yếu tập trung vào mua nhà ở, đóng góp 0,16 điểm phần trăm
Từ những thực trạng trên ta thấy rõ được tác động của kích cầu đầu tư làm gia tăng sản lượng, kết hợp với tác động gia tăng sản lượng từ các yếu tố đầu tư vốn, lao động và nhân tố năng suất tổng hợp đã dẫn đến sự tăng trưởng về kinh tế
3.2.1.2 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở hệ số ICOR
Tuy nhiên, ICOR của Việt Nam vẫn ở mức khá cao, hiệu quả đầu tư còn thấp Nguyên nhân làm cho ICOR của Việt Nam cao một phần là do Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng cơ sở, bao gồm cả hạ tầng cơ sở ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xoá đói giảm nghèo, đảm
20
Trang 21bảo an sinh xã hội Nhưng mặt chủ quan vẫn là cơ chế quản lý đầu tư xây dựng lỏng lẻo, lãng phí nghiêm trọng, quy hoạch đầu chưa hợp lý… chính vì vậy, so với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của Việt Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao.
3.2.1.3 Đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Bảng 6.Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành theo khu vực từ 2010-2015
Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực
Quan sát Bảng 7, phần hoạt động đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, FDI theo vùng, khu vực, tại Đông Nam Bộ, và đồng bằng sông Hồng
là 2 khu vực có nền kinh tế trọng điểm của cả nước, được đầu tư với số vốn khủng chiếm gần 60% tỉ trọng vốn FDI, tuy nhiên có thể thấy sự mất cân đối trong việc phân đều vốn của các vùng, khu vực Tây Nguyên thì số vốn đầu tư chỉ chiếm 0,2% tổng số vốn
Bảng 7: FDI theovùng từ 2010-2015
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Bảng 8: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2010-1015.
Trang 222015 38,0 38,7 23,3
Nguồn: Tổng cục thống kê
Từ bảng có thể thấy, thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư, lúc cao nhất lên đến 40,4% (năm 2013) và có xu hướng giảm nhẹ đến năm 2015 (38%) Thành phần kinh tế ngoài nhà nước giữ tỷ trọng ổn định, còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng giảm từ 25,8% (năm 2010) xuống còn 21,7% (năm 2014) và tăng nhẹ lên 23,3% (năm 2015)
Bên cạnh khu vực kinh tế trong nước, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI cũng ngày càng có những đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế của cả nước Cơ cấu của các thành phần đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các thành phần kinh tế ngoài nhà nước và giảm tỷ trọng của kinh tế nhà nước phù hợp với chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế nhưng vẫn đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN
3.2.1.4 Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ
Đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia.Trong vài năm trở lại đây, nước ta đã dành một lượng vốn lớn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ Thống kê cho thấy, đầu tư cho khoa học
và công nghệ đã chiếm 2% tổng chi ngân sách, tức là khoảng 0,5% GDP của cả nước Nhờ nguồn lực đầu tư nói trên, tiềm lực khoa học và công nghệ đãđược tăng cường, từ xây dựng hạ tầng cơ sở (cơ quan làm việc, xưởng và trại thực nghiệm, phòng thí nghiệm) cho đến sửa chữa nhỏ, tăng cường máy móc thiết bị hiện đại Công tác nghiên cứu khoa học đã được cải thiện một bước Cán bộ khoa học và công nghệ đã được tham gia các khóa đào tạo, nâng cao trình độ trong và ngoài nước, từ đó đã có được những đề tài khoa học và sản phẩm công nghệ có giá trị, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
3.2.1.5 Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội và môi trường
Đầu tư giữ vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một xã hội tiến
bộ Nhờ có đầu tư hợp lý, trọng tâm trọng điểm và đồng bộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mức sống vật chất, tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế giáo dục Hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 1160 USD (năm 2010) lên đến 2200 USD (năm 2015), giúp cải thiện đời sống người dân Ngoài ra, thu hút đầu tư nước ngoài giúp giải quyết việc làm cho lao động phổ thông của nước ta Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh
tế năm 2015 ước tính 52,9 triệu người, tăng 142 nghìn người so với năm 2014 Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2015, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 44,3% (Năm 2014 là 46,3%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22,9% (Năm 2014 là 21,5%); khu vực dịch
vụ chiếm 32,8% (Năm 2014 là 32,2%)
Đối với vấn đề môi trường, đầu tư tác động tới môi trường nước ta từ nhiều góc độ Ở góc độ tích cực, những hình thức đầu tư phát triển sản xuất sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm…tài nguyên môi trường sẽ giúp khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng lại môi trường sinh thái Trong khi đó, vẫn còn nhiều dự án đầu tư gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Nhiều doanh nghiệp FDI chưa tuân thủ nghiêm các quy định về BVMT khi đầu tư sản xuất, kinh doanh vào Việt Nam.Các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam về cơ bản có trình độ công nghệ sản xuất trung bình, tiêu tốnnhiều tài nguyên thiên nhiên, lượng phát thải lớn Một số doanh nghiệp đã gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng, làm biến đổi hệ sinh thái, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, an sinh xã hội trên địa bàn và gây bức xúc trong dư luận nhân dân Điển hình là xả thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty bột ngọt Vedan, hay dự án Fomusa ở Hà Tĩnh đã gây nên những hậu quả môi trường nghiêm trọng tại bãi biển Vũng Áng…
Có thể nói, những tác động tích cực của hoạt động đầu tư là không thể phủ nhận Tuy nhiên đầu tư cũng kéo theo rất nhiều vấn đề bất cập về xã hội vàmôi trường mà không thể giải quyết trong thời gian ngắn
3.2.2 Tác động ngược lại của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư phát triển
3.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư tốt khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, giảm thấp chi phí và rủi ro Một môi trường đầu tư tốt không chỉ mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp mà còn nâng cao hiệu quả trên toàn phạm vi xã hội Theo nghĩa chung môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đên hoạt động đầu tư Môi trường đầu tư hấp dẫn là môi trường hiệu quả có đầu tư cao, mức độ rủi ro thấp Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân
tố như: Chính sách cơ chế ưu đãi đầu tư của nước chủ nhà, điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng kinh tế, mức độ hoàn thiện về thể chế hành chính pháp lí, khả năng ổn định về mặt chính trị xã hội, độ mở của nền kinh tế, sự phát triển hệ thống thị trường Các nhân tố trên có mỗi quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu tư, nhất thiết phải quan tâm đồng bộ các nhân tố ảnh hưởng trên
Thứ nhất, sự ra đời và hoàn thiện luật đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy lượng vốn đầu tư vào nước ta Ngay sau khi luật đâu tư nước ngoài
được ban hành,trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trỗi dậy nhờ thực hiện chủ trương đổi mới sau một thời gian dài lâm vào khủng hoảng,chính phủ Việt Nam đã kiên trì thực hiện lộ trình cải cách luật pháp tạo ra một sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, trong đó điều đặc biệt là Việt Nam xem đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế đa thành phần Với luật này ,Việt Nam đã tạo ra một môi trường đầu tư bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo cơ chế thị trường đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư chiến lược nói riêng thường nhìn xa trông rộng ,không chỉ vì những lợi ích trước mắt mà họ muốn làm ăn lâu dài , thế nên những cam kết theo
lộ trình như vậy tạo điều kiện thuận lợicho đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam
22
Trang 23Luật doanh nghiệp ban hành năm 2005 là một luật duy nhất áp dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp trong nước cũng nhưu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều quan trọng luật này không phân biệt đối xử với các doanh nghiệp trong hay ngoài nước mà bình đẳng trước pháp luật , trong việc tiếp cận đất đai, lao động,ưu đãi đầu tư Ngoài ra,các nhà đầu tư cũng được hưởng sự đảm bảo của Nhà nước như : vốn của nhà đầu tưu không
bị quốc hữu hóa , không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính nếu trong trường hợp phải trưng mua và trưng dụng phải được bồi thường trên cơ sở đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư Việc giải quyết tranh chấp ,nhà đầu tư được tiếp cận tòa án , trọng tài quốc tế khi giải quyết tranh chấp Chính phủ đảm bảo cân đối ngoại tệ cho các dự án quan trọng, bỏ khống chế lãi suất trần đối với các khoản vay về ngoại tệ và các khoản vay nước ngoài
Thứ hai ,việc nhà nước đàu tư đáng kể cho cở sở hạ tầng kinh tế -xã hội như cầu đường , khoa học công nghệ , hệ thống thông tin liên lạc , điện
nước đẩy mạnh cải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước trong những năm qua đã cải thiện rõ rệt môi trường , điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp
Nhiều thành tựu được ghi nhận như : trong nông nghiệp đã thực hiện thành công dự án “Giải mã genome, một số giống lúa bản địa ở Việt Nam” , mở
ra triển vọng về khai thác trình tự gen phục vụ nghiên cứu, chọn tạo các giống lúa mới đem lại hiệu quả cao cho sản xuất; về lĩnh vực giao thông vận tảithì kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam đã tăng 36 bậc ( từ vị trí 103 lên vị trí 67) trong Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới, hệ thống đường cao tốc mới hoàn thành đã đưa nước ta đứng top 3 trong các nước có hệ thống đường cao tốc lớn và hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á; trong lĩnh vực công nghệ thông tin- truyền thông thì đã có những sản phẩm giúp Việt Nam là mục những công nghệ mới nhất trên thế giới như thiết kế chip vi điều khiển, các thiết bị ngoại vi của máy tính, thiết bị truyền thông , thiết bị di động được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam và thế giới
Thứ ba ,nền kinh tế chính trị Việt Nam ổn định tạo môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, Việt Nam
được xem là một quốc gia có nền kinh tế chính trị ổn định Mặc dù còn đó những thế lực thù địch muốn chống phá nhưng với sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và chính sách tôn giáo mềm dẻo linh hoạt của Việt Nam đã giữ vững được nền hòa bình , tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nói riêng
và kinh tế nói chung Trong số 10 nước Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường đầu tư thuận lợi ở khía cạnh chính trị ổn định Con người Việt Nam hiền hòa, luôn có thái độ hợp tác chân thành, luôn muốn làm bạn với tất cả các nước
Bảng 9: Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm
Nguồn: Báo cáo cảm nhận môi trường kinh doanh năm 2015
Qua báo cáo cảm nhận kinh doanh năm 2015, được ban thư ký diễn đàn kinh doanh Việt Nam, căn cứ số liệu trên điều tra tiến hành trong tháng 9/2015 Cụ thể tính theo điểm từ tốt đến kém thì năm 2012 chỉ đạt 2.67 điểm(năm 2011 đạt 2.79 điểm) Trong khi đó năm 2013 đạt mức 2.81 điểm và các năm 2014-2015 đạt 2.87 điểm
Tác động tích cực:
Việt Nam chủ đông lựa chọn gia nhập WTO đã là một thông điệp mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư Các luật mới về đầu tư kinh doanh cũng như nghị định hướng dẫn về chính phủ được ban hành trên thực tế đã tạo ra một cơ sở pháp lí đồng bộ và minh bạch, một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ các rào cản về hoạt động đầu tư kinh doanh Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã và đang mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước nhằm xóa bỏ độc quyền, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển như đất đai, nguồn vốn, khoa học công nghệ, thông tin Hiện nay chính phủ đang đẩy mạnh tiến độ và mở rộng diện cổ phần doanh nghiệp nhà nước,
kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong các ngành điện lực, cơ khí, hóa chất, xi măng, xây dựng, vận tải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm Đồng thời rà soát chỉnh sửa các quy hoạnh ngành và sản phẩm quan trọng nhằm phát huy các lợi thế và khuyến khích mở rộng sự tham gia các nhà đầu tư các thành phần kinh tế
Để khắc phục những trở ngại kết cấu hạ tầng, Chính phủ Việt Nam đã và đang tập trung đầu tư vào vốn ngân sách, vốn ODA và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, nâng cấp các công trinh, cấp thoat nước, giao thông, cảng biển…
Công cuộc cải cách hành chính tại Việt Nam cũng đã và đang được đẩy mạnh theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính ở mọi khâu, mọi cấp liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh rút ngắn thời gian và giảm chi phí gia nhập thị trường Cùng với việc mở rộng diện dự án đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, Chính phủ đã phân cấp triệt để cho chính quyền địa phương trong việc giải quyết thủ tục giấy cấp chứng nhận đầu tư và quản lí dự án đầu tư
Tác động tiêu cực:
Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Chính sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đã tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư thuận lợi, mở cửa cho các hoạt động đầu tư mới Nhưng bên cạnh đó còn một số mặt hạn chế như:
Cải cách chậm hơn các nước: Thực tế những cải cách đang diễn ra ở những các nước khác trong khu vực cũng tiếp tục cải cách và làm tốt nhanh hơn Việt Nam nên được xếp hạng cao hơn
Trang 24Ở mục xếp hạng xuất khẩu Việt Nam đứng thứ 68 trên toàn cầu nhưng so với các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan haynhóm các nước ASEAN khác,Việt Nam lại cạnh tranh kém hơn Việt Nam cần xem xét nguồn gốc chất lượng các dự án đầu tư FDI đổ vào Việt Nam thời gian qua hơn là quan tâm đến số lương gia tăng.
Chưa tiếp cận hết không gian cải cách: Tuy đã có những cải cách về nhất định và không gian cải cách rất lớn nhưng Việt Nam chưa tiếp cận mạnh mẽ không gian đó bằng các nước trong khu vực Ngay cả lĩnh vực tín dụng được cải cách nhưng chưa cải cách triệt để và còn chậm
Môi trường pháp lí: Việt Nam cũng đã có sự thay đổi, khoảng 30 luật và pháp lệnh đã được sửa đổi cho thích hợp với các nguyên tắc và quy định của
WTO, đó là nền tảng đẻ thu hút đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, hệ thống pháp luật vẫn tồn tại nhiều hạn chế Trước hết phải nhận thấy rằng chính sách Việt Nam đúng đắn nhưng quá trinh thực hiện chưa thống nhất, quy định về thủ tục rườm rà,quy định của địa phương hay các quy định quy mô hơn, nhiều bất cập, chồng chéo hoặc không rõ ràng tạo khó khăn nhất định cho doanh nghiệp.Một trong những hạn chế chủ yếu làm mất dần lợi thế cạnh tranh trong môi trường đầu tư của Việt Nam chính là mức thuế chưa hợp lí, ảnh hưởng tớihoạt động sản xuất kinh doanh và làm mất dần đi nhiều ưu đãi đầu tư ưu đãi về thuế đất, giải phóng mặt bằng, xúc tiến thương mại tại các địa phương Mức thuế hiện nay tại Việt Nam được coi là cao nhất trong khu vực làm nản lòng các nhà đầu tư và ảnh hưởng tới việc xin cấp phép đầu tư Việc tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô, cách tính thuế, thời điểm thuế nhập khẩu các linh kiên phụ tùng cho lắp ráp ôtô, xe máy trong quá trinh thực hiện nội địa hóa chưa sát thực tế không chỉ làm mất đi khả năng và cơ hội phát triển sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trong lĩnh vực này mà còn làm chi phí khác của doanh nghiệp tăng Mặt khác thuế thu nhập cá nhân được tích lũy làm cho Việt Nam trở thành quốc gia có mức thuế cao nhất
ở trong khu vực (10%-60%) trong khu vực Trung Quốc là 5%-40%, Singapor là 3%-22% Có thể nói rằng môi trường chính trị, luật pháp chính là nhân tố hàng đầu tác động đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Chính vì vậy, bên cạnh những thành công đã đạt được Việt Nam cần có những biện pháp khắc phục hạn chế còn tồn tại
Về luật pháp và chính sách: Hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư vẫn còn một số điểm thiếu đồn bộ và nhất quán giữa các luật chung và các quy
luật chuyên ngành Vì vậy trên thực tế đã tao ra các cách hiểu khác nhau gây rất nhiều khó khăn cho việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như hướng dẫn các doanh nghiệp xử lý các vẫn đè phát sinh trong quá trình triển khai dự án
Về công tác quy hoạch: Công tác quy hoạch lãnh thổ ngành nghề khu vực sản phẩm còn yếu và thiếu Nhiều địa phương cấp phép tran lan, khai tăng
vốn đăng kí của dự án để có thành tích, để cạnh tranh nhau, dẫn đến cung cấp quá nhiều các giấy phép cho các dự án cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng thị trường dư thừa, lãng phí hiệu quả, đầu tư thấp
3.2.2.2 Tăng trưởng kinh tế góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, năng lực công nghệ
Thống kê của Bộ GTVT cho thấy, nguồn vốn nước ngoài được thu hút và đầu tư vào ngành GTVT hiện có nguồn ODA (và vốn vay ưu đãi) và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Vốn nước ngoài chiếm gần 32% tổng chi đầu tư vào ngành GTVT, trong đó, ODA chiếm 28% và còn lại là FDI (số liệu ước tính, chưa được thống kê đầy đủ, chiếm khoảng 4%)
Vốn ODA tập trung bố trí phần lớn cho lĩnh vực hạ tầng đường bộ (cao tốc, quốc lộ, cầu lớn, đường tỉnh, giao thông nông thôn), một phần cho lĩnh vực
hạ tầng cảng hàng không, hạ tầng hàng hải, hạ tầng đường thủy, hạ tầng đường sắt (tuyến đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị)
Vốn nước ngoài sử dụng cho đầu tư hạ tầng giao thông (do Bộ GTVT quản lý) bình quân hằng năm ở các giai đoạn 2001 - 2005, 2006 - 2010 và 2011 -
2014 liên tục tăng, tương ứng từ 6 nghìn tỷ đồng lên 12 nghìn tỷ đồng và 37 nghìn tỷ đồng (khoảng 381, 634 triệu và 1,65 tỷ USD)
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số dự án đầu tư năm 2015 đạt mức cao nhất so với các năm trước Vốn đầu tư trong
3 năm liên tiếp gần đây (2013 - 2015) đã vượt qua con số 20 tỷ USD Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn FDI vào Việt Nam, năm 2015, Hàn Quốc vẫn dẫn đầu, chiếm khoảng 30% trên tổng số vốn FDI vào Việt Nam, tiếp tục cho thấy sự hiện diện mạnh mẽ của doanh nghiệp Hàn Quốc Hàn Quốc cũng dẫn đầu cả về số dự án, số vốn đăng ký mới cũng như mở rộng Nhật Bản đứng vị trí thứ 3 xét về tổng số vốn đầu tư và xếp thứ 2 về số dự
án đầu tư vào nước ta
Về mặt tích cực:
Cơ sở hạ tầng là rất quan trong trong sự phát triển kinh tế, không có cơ sở hạ tần thì không có điểm tựa cho nền kinh tế được Cơ sở hạ tầng là một thiết yếu đầu tiên cho việc xây dưng doanh nghiệp và điều kiền cần để một doanh nghiệp có thể đi vào hoạt động Trong những năm gần đây, cùng với
sự phát triển kinh tế việc tốc độ tăng đo thị hóa cũng tăng nhanh, bộ mặt đất nước cuxg có những tiến triển rõ rệt
Con số tổng đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam ở mức 10%GDP rât cao so với tiêu chuẩn quốc tế Mạng lưới đường bộ Việt Nam đã tăng gấp đôi chiều dài so với những năm gần đây và chất lượng đường được cải thiện rõ rệt Tất cả các khu vực đo thi và 88% các hộ gia đình nông thôn có điện Số người được dùng nước sạch tăng.Hiện nay bên cạnh nguồn vốn đầu tư của nhà nước đầu tư lớn cho các công trình hạ tầng Bên cạnh đó chúng ta tập chung thu hút vào công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất
Việt Nam hiện có rất nhiều điểm hấp dẫn đầu tư nước ngoài, đó không chỉ ưu đãi của thiên nhiên về đia lí- nằm ở trung tâm châu Á, mà còn có môi trường chính trị - xã hội ổn định thị trường tiêu thụ lớn với hơn 80 triệu dân nguồn nhân công dồi dào và đặc biệt chính phủ Việt Nam rất quyết tâm cho việc tạo điều kiên cho các nhà đầu tư
Về mặt tiêu cực:
Cơ sở hạ tầng vẫn luôn là cản trở lớn nhất cho sự phát triển doanh nghiệp Vấn đề điện năng thiếu hụt không ổn định, cảng biển tắc nghẽn, giao thông đường bộ yếu kém, tất cả đều ảnh hưởng năng nề đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng chi phí kinh doanh, giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp
Vấn đề được quan tâm hiện nay là trong các điều luật chưa nêu rõ những gì mà nhà đầu tư nhận được hay lợi ích khi đầu tư
24
Trang 25Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn lớn và cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của tăng trưởng kinh tế và thiếu lao động trình độ cao Nếu không được nâng cấp cơ sở hạ tầng sẽ trở thành nút cổ chai đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Nhìn chung cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn nhiều bất cập, ở những thành phố lớn như Hà Nội, Tp HCM luôn xảy ra tình trang ách tắc giao thông trong giờ cao điểm, tổng quan của các con phố chính cầ quy hoạch tổng thể để xây dựng được hình ảnh đẹp trong mắt khách du lịch đến tham quan.
3.2.2.3 Tăng trưởng kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm vốn cho đầu tư
Nguồn vốn đầu tư là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định đến hiệu quả hoạt động đầu tư của mỗi quốc gia Nguồn vốn dầu tư có dồi dào thì hoạt động đầu tư mới có hiệu quả cao và ngược lại Nguồn vốn đầu tư phát triển trên phương diện vĩ mô bao gồm nguồn vốn trong nước (Vốn nước ngoài, vốn dân doanh và vốn thị trường vốn) và nguồn vốn nước ngoài (FDI, ODA, vốn vay thương mại nước ngoài và vốn trên thị trường quốc tế
Về mặt tích cực:
Cơ cấu thu chi ngân sách đã có những chuyển biến tích cực theo hướng bền vững hơn Trong thu ngân sách, tỷ trọng thu nội địa đã tăng từ 58% giai đoạn 2006-2010 lên khoảng 68% giai đoạn 2011-2015, đến năm 2015 ước chiếm khoảng 74% tổng thu NSNN Trong khi đó, sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đang có xu hướng giảm dần Trong cơ cấu thu nội địa, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh đã trở thành nguồn thu giữ vai trò quan trọng của NSNN Về chi ngân sách, chi cho giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, sự nghiệp bảo vệ môi trường tiếp tục được đảm bảo theo các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội Cơ chế phân bổ vốn đầu tư từng bước được thực hiện theo kế hoạch trung hạn, tạo điều kiện cho các bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc bố trí nguồn lực theo thứ tự ưu tiên phù hợp với tình hình thực tế; cơ chế phân cấp quản lý đầu tư tiếp tục được hoàn thiện
Tăng trưởng kinh tế góp phần mở rộng quan hệ ngoại giao của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và toàn thế giới , từ đó tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài , giai đoạn 2011-2015 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam liên tục tăng Hiện nay ,Việt Nam đã thu hút được khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đưa vốn đầu tư dưới các hình thức khác nhau
Trong những năm gần đây thì cùng với sự tăng trưởng chung của nền kinh tế thì quy mô tổng thu ngân sách không ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau ( thuế, phí , ) Đi cùng với nó thì mức chi cho đầu tư phát triển cũng gia tăng đáng kể Tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015 tăng khoảng 2 lần so với giai đoạn 2006-2010 , tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm huy động đạt 5.617,1 nghìn tỷ đồng ; tỉ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP bình quân 5 năm đạt 31,7% ( trong đó vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước 5 năm là 1.206,9 nghìn tỉ đồng ,chiếm 21,5%)
Tăng trưởng đầu tư của Việt Nam (theo giá so sánh năm 2010) giai đoạn 2011 - 2014 chỉ đạt 3,85%, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước đó (giai đoạn 2006 - 2010 đạt 13,42%) do tác động không thuận lợi của kinh tế trong nước và quốc tế Năm 2015, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo giá hiện hành ước tăng 12%, tương đương 32,6% GDP và vượt kế hoạch đề ra
Trong giai đoạn 2011 - 2015, vốn FDI thực hiện đạt 59,96 tỷ USD, vốn cấp mới và tăng thêm đạt 96,39 tỷ USD, đều vượt mục tiêu đã đề ra (mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2011-2015 là 57,3 - 58 tỷ USD vốn thực hiện, vốn cấp mới và tăng thêm là 86 tỷ USD) nhờ nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế, phí và hải quan
Chính sách tài khóa được thực hiện theo hướng tiết kiệm, chặt chẽ, cơ cấu thu chi chuyển dịch theo hướng bền vững hơn, an ninh tài chính quốc gia được đảm bảo
Về mặt tiêu cực:
Trong bối cảnh kinh tế phát triển không thuận lợi, tăng trưởng thấp hơn dự kiến, ảnh hưởng đến thu NSNN; tích lũy của nền kinh tế còn nhỏ, khả năng huy động đầu tư từ các nguồn ngoài NSNN còn hạn chế nên những năm qua Việt Nam đã chủ động điều hành bội chi NSNN theo hướng linh hoạt, chấpnhận bội chi cao ở một số thời điểm để có thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển Bội chi NSNN năm 2015 dự kiến 5% GDP tuy có hơn so với mục tiêu 4,5% GDP đã được Quốc hội thông qua nhưng đã thể hiện xu hướng giảm so với hai năm trước đó (năm 2013 là 6,6%, năm 2014 là 5,69%)
3.2.3 Những hạn chế trong mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng sụt giảm do cơ chế chính sách ngày càng không theo kịp với tình hình mới làm cho hiệu quả của vốn đầu tư giảm sút mạnh, kết quả
là tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng nhanh trong khi tốc độ tăng GDP chậm
- Đầu tư của khu vực nước ngoài chủ yếu chỉ tập trung vào một số ngành khai thác nguyên liệu, khoáng sản (như dầu thô…), những ngành tập trung vốn lớn, một số ngành được bảo hộ cao như lắp ráp ô tô, xe máy, sản xuất thép…
- Mặc dù kết quả thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI tiếp tục tăng hơn so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và
cơ hội hiện có, khi các nhà đầu tư lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ đang coi Việt Nam là một trong những địa bàn đầu tư ưu tiên
- Vốn ngân sách nhà nước quản lí, sử dụng thiếu minh bạch Cấp phát, phân bổ còn nhiều lãng phí
- Tỷ lệ giải ngân ODA còn thấp, sử dụng vốn chưa hiệu qủa, làm lãng phí nguồn ngân sách của nhà nước
- Về FDI: quá trình hấp thụ ở Việt Nam còn kém, công tác quản lí doanh nghiệp FDI còn nhiều khó khăn Ngoài ra, số lượng dự án không triển khai vấn đề về chuyển giá, trốn thuế của các Doanh nghiệp FDI còn diễn biến phức tạp; tiếp cận đất của các nhà đầu tư cũng còn nhiều khó khăn Tỷ trọng vốn FDI trong nông nghiệp chỉ đạt ở mức thấp, với tỷ lệ vốn như vậy khó có thể đưa nông nghiệp hóa được
Trang 26- Hành lang pháp lý còn nhiều bất cập: Các chính sách thay đổi, luật chưa nhất quán Quy định về thủ tục còn rườm rà, quy định của địa phương hay các quy định có tính vi mô hơn, nhiều bất cập, chồng chéo hoặc không rõ ràng tạo khó khăn có nhiều doanh nghiệp Bên cạnh
đó, mức thuế chưa hợp lý làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và kinh doanh, làm mất đi nhiều ưu đãi đầu tư như ưu đãi về thuế đất, giảiphóng mặt bằng,… ở các địa phương
CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
4.1 MỤC TIÊU VÀ QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẾN 2020
4.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam đến 2020
Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 142/2016/QH13 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, trong đó có nêu rõ mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế tổng quát như sau: Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh Phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường Tăng cường quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế.Giữ gìn hòa bình, ổn định, tạo môi trường, Điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước.Nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Cụ thể các chỉ tiêu
Các chỉ tiêu về kinh tế:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm 6,5 - 7%/năm
GDP bình quân đầu người năm 2020 Khoảng 3.200 - 3.500 USD
Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP năm 2020 Khoảng 85%
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm Khoảng 32-34% GDP
Bội chi ngân sách nhà nước năm 2020 dưới 4% GDP
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng Khoảng 30 - 35%
Năng suất lao động xã hội bình quân tăng Khoảng 5%/năm
Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 - 1,5%/năm
Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2020 đạt 38 - 40%
Các chỉ tiêu về xã hội:
Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội năm 2020 Khoảng 40%
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt Khoảng 65 - 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%
Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2020 dưới 4%
Đến năm 2020 có 9 - 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân
Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2020 đạt trên 80% dân số
Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân Khoảng 1,0 - 1,5%/năm
Các chỉ tiêu về môi trường:
Tỷ lệ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh năm 2020 là 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn
Tỷ lệ chất thải nguy hại được xử lý năm 2020 là 85%
Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý năm 2020 là 95 - 100%
Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 42%
Có thể nói, 2017 là năm quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 Chính vì vậy, Quốc hội, Chính phủ đã quyết tâm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm 2017 Nếu như năm 2017 không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% thì việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,5-6,7% của cả giai đoạn 2016-2020 sẽ rất khó khăn
4.1.2 Phương hướng đầu tư đến năm 2020
26
Trang 27Phương hướng đầu tư của nước ta đến năm 2020 là thực hiện đầu tư phải gắn liền với mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế nhanh, bền vững Và như vậy thì cần tăng khả năng tích luỹ của nền kinh tế đồng thời tranh thủ thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài để tạo thêm nguồn lực phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mặt khác vẫn phải đảm bảo mục tiêu cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Thực hiện đầu tư hiệu quả, xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý đầu tư có trọng điểm, tránh lãng phí, dàn trải nhất là nguồn vốn ngân sách nhà nước
Trong bối cảnh môi trường thế giới có nhiều bất định, không gian chính sách đang bị thu hẹp, điều hành chính sách trong năm 2017 cần tập trung vào những phương hướng sau:
Thứ nhất, điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cần cân bằng với các mục tiêu.
Mỗi chính sách đưa ra khó có thể đạt được tất cả các mục tiêu, thậm chí để đạt được mục tiêu này cần phải hy sinh mục tiêu khác Do đó, việc điều hành chính sách phải xác định được “điểm cân bằng” sao cho hài hòa với các mục tiêu
Cụ thể chính sách tiền tệ phải làm sao cân bằng giữa mục tiêu ổn định tỷ giá để kiềm chế lạm phát, duy trì sự an toàn về nợ quốc gia và mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ sản xuất của doanh nghiệp; giữa việc khôi phục niềm tin của dân chúng với đồng nội tệ trước mắt và xu hướng lên giá thực của nội tệ về lâu dài
Chính sách tài khóa phải đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ phục hồi tăng trưởng và mục tiêu duy trì một mức thâm hụt NSNN hợp lý để không ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công, giữa yêu cầu trợ giúp doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm, đảm bảo an sinh xã hội và yêu cầu tập trung nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, đầu tư cho nguồn lực con người
Thứ hai, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cần phối hợp chặt chẽ.
Đối với chính sách tiền tệ, hiện nay tỷ lệ trên GDP của tín dụng đã ở mức giới hạn, việc nới lỏng tiền tệ có thể ảnh hưởng đến mục tiêu kiềm chế lạm phát và gia tăng tỷ lệ nợ xấu Trong khi đó, chính sách tài khóa đã bị giới hạn bởi mức nợ công.Việc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
sẽ tạo điều kiện mở rộng không gian chính sách
Thứ ba, thực hiện đồng bộ các giải pháp.
Bất cứ sự can thiệp nào của Chính phủ cũng có thể dẫn đến những ảnh hưởng phụ không mong muốn Do đó, các chính sách đưa ra cần phải lường trước và hạn chế được các tác dụng phụ
4.2 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ
4.2.1 Phân bổ và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
4.2.1.1 Nguồn vốn trong nước
Vốn ngân sách nhà nước
Đối với các dự án cần sử dụng vốn ngân sách cần tăng cường tính công khai, minh bạch trong đầu tư, tăng cường giám sát đối với vốn đầu tư phát triển Không triển khai tổ chức thực hiện chương trình, dự án thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn và tính khả thi và hiệu quả thấp Loại bỏ những dự án, chương trình không thể đáp ứng những nhu cầu và điều kiện cần thiết về tài chính, mặt bằng thị trường… Tất cả hoạt động đầu tư có liên quan đến sử dụng vốn ngân sách nhà nước cần phải được kiểm tra giám sát
Đối với đầu tư tạo doanh nghiệp, cần tiếp tục đa dạng hóa các nguồn vốn Giảm bao cấp dưới nhiều hình thức cho đầu tư như trợ cấp giá, lãi suất thấp, khoanh nợ, xóa nợ dẫn đến sự ỷ lại của các doanh nghiệp Tiếp tục đẩy mạnh chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
Về phân bổ nguồn vốn ngân sách nhà nước, cần xây dựng chiến lược đầu tư hợp lý bằng cách xác định các lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư trong thời gian tới
Nhà nước nên có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu triển khai Chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư theo hướng khai thác mọi tiềm năng, đẩy nhanh tốc độ phát triển của khu vực công nghiệp và dịch vụ Các ngành công nghệ cao cần được ưu tiên và quan tâm hàng đầu
Nguồn vốn từ doanh nghiệp
Cần tăng cường huy động nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước nhằm củng cố nội lực kinh tế của đất nước Đối với doanh nghiệp vừa vànhỏ cần thực hiện những chính sách hỗ trợ tích cực, chính sách hỗ trợ kĩ thuật và quan trọng hơn là chính sách tạo cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư tưnhân Đối với cùng một dự án, ưu tiên quyền phát triển và thực hiện dự án cho các nhà đầu tư trong nước
Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước đầu tư phát triển và hoàn thành các ngành dịch vụ truyền thống: vận tải, thương mại, nhà hàng, khách sạn, du lịch, dịch vụ
4.2.1.2 Nguồn vốn từ nước ngoài (gồm ODA và FDI)
Hoàn thiện môi trường đầu tư và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư bao gồm: bổ sung và hoàn thiện danh mục dự án với những ưu đãi, điều kiện hỗ trợ cụ thể kèm theo để nhà đầu tư lựa chọn, quy định rõ các hình thức ưu đãi, tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính, bảo đảm địa điểm và hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư
Xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách động viên khuyến khích thành phần kinh tế nước ngoài đầu tư vốn phát triển kinh tế
Trang 28Cải cách cơ chế hành chính: trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính nhằm giảm thời gian và chi phí cho các chủ đầu tư.
4.2.2 Tương xứng nguồn vốn với tiềm năng và cơ hội
4.2.2.1 Giải pháp thu hút đầu tư từ nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó được huy động từ chính nội lực của đất nước, sẵn có trong dân,
và không phải chịu áp lực ràng buộc về chính trị như nguồn vốn huy động từ nước ngoài
Cần tổ chức huy động vốn trong dân như mở xổ số kiến thiết, phát hành trái phiếu chính phủ,…dùng nguồn vốn thu được đó vào xây dựng các công trình công cộng hoặc các hoạt động phúc lợi như giáo dục, y tế,…nhưng không đưa nguồn thu này thành một nguồn thu thường xuyên, ổn định của ngân sách nhà nước
Nâng cao tính minh bạch, dân chủ, công khai trong quản lý ngân sách nhà nước Phát huy vai trò của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định và giám sát ngân sách Xây dựng thể chế giám sát tài chính đồng bộ, hiện đại hoá công nghệ giám sát
Chính sách tiền tệ và tín dụng:
Mục tiêu của chính sách tiền tệ trong những năm tới là ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh
hệ thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá để ổn định kinh tế vĩ mô, tăng dự trữ ngoại tệ, khuyến khích doanh nghiệp và nhân dân tiết kiệm, đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh Ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ phù hợp với điều kiện đất nước, có thể tăng lãi suất tiền gửi để tăng tiết kiệm của người dân và giảm lãi suất tiền vay khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất
4.2.2.2 Thu hút đầu tư từ nước ngoài
Giải pháp thu hút nguồn vốn ODA
Tiếp tục tranh thủ nguồn vốn ODA Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn các công trình, dự án đã được ký kết; xây dựng Chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA cho thời kỳ mới, tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở các trung tâm kinh tế và các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn
Giải pháp thu hút nguồn vốn FDI
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách liên quan đến FDI theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế
- Mở rộng lĩnh vực đầu tư phù hợp với cam kết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư tại Việt Nam; thiết lập cơ chế để doanh nghiệp FDI được xây dựng kinh doanh nhà
ở và phát triển khu đô thị mới; khuyến khích đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; mở rộng hợp tác đầu
tư trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch
- Xây dựng và triển khai hiệu quả các dự án gọi vốn đầu tư, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn cơ hội đầu tư, cần nâng cao chất lượng xây dựng quy định và danh mục dự án gọi vốn FDI.Điều này làm cơ sở thực hiện chương trình vận động đầu tư Những thông tin về mục tiêu, địa điểm,hình thức, đối tác thực hiện dự án trong danh mục phải có độ chính xác và tin cậy cao Căn cứ danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI, chuẩn bị kỹ một số
dự án đầu tư quan trọng, chọn mời trực tiếp một vài tập đoàn lớn trong ngành, lĩnh vực quan trọng vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án Tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng như các dịch vụ có hàm lượng trí tuệ và giá trị gia tăng cao (tài chính, ngân hàng, giám định, đánh giá tài sản kiến trúc và xây dựng, marketing, phân phối và dịch vụ hậu cần); các dự án trong lĩnh vực hạ tầng cơ sở; các dự án sử dụng công nghệ cao và nhân công có chuyên môn cao;các dự án khu du lịch, thương mại, giải trí
Xây dựng hệ thống các Trung tâm xúc tiến đầu tư của Bộ kế hoạch & đầu tư (Bộ KH&ĐT) tại các khu vực Xây dựng một hệ thống các văn phòng của Bộ KH&ĐT đảm trách vai trò như một trung tâm xúc tiến đầu tư tại 8 khu vực đầu tư lớn: Miền núi và trung du Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng, bắc miền Trung, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực dầu khí ngoài khơi Các Trung tâm xúc tiến đầu tư thay mặt Bộ KH& ĐT giải quyết những vấn đề liên quan đến đầu tư nước ngoài tại các địa phương và chủ động triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm hỗ trợ cho các địa phương đẩy mạnh hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài Các trung tâm xúc tiến phải được kết nối để đảm bảo thông tin được cập nhật và luôn được chia sẻ giữa văn phòng trung tâm và các văn phòng khu vực nhằm đạt được hiệu quả nhờ tính thống nhất và liên kết giữa các địa phương
4.2.2.3 Nâng cao chất lượng trong nước
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao năng suất lao động
28
Trang 29Tiếp tục đầu tư cho giáo dục và đào tạo Đặc biệt là đầu tư phát triển nguồn nhân lực có trình độ khoa học công nghệ cao, xây dựng và tạo ra đội ngũ cán bộ quản lý giỏi ở các cấp, các ngành cùng với đội ngũ công nhân lành nghề Bên cạnh đó, cũng cần phải chú trọng đến nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn Thực hiện các biện pháp hỗ trợ về y tế, môi trường phòng chống bệnh tật, bảo hiểm y tế để đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất xã hội.
Đổi mới và hoàn thiện chính sách đầu tư vào công nghệ nhằm nâng caonănglực cạnh tranh
Thực hiện tốt đổi mới công nghệ sẽ quyết định đến nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng
Cần tập trung hơn vàokhai thác và sử dụng triệt để các nguồn lực của nhà nước trong các chương trình khoa học công nghệ, tránh dàn trải vốn cho những chương trình chưa gắn với đòi hỏi thiết thực của cuộc sống Nhà nước cần có cơ chế đánh giá và khuyến khích đúng đắn, thỏa đáng cho các kết quả nghiên cứu và đóng góp thiết thực của các cá nhân và tập thể, tăng cường công tác bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và trí tuệ
Khi lựa chọncông nghệ cần chú trọng đến tính phổ biến của công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả công nghệ được chuyển giao
*************************************************************
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA VỐN TRONG NƯỚC VÀ VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA VỐN NƯỚC NGOÀI
2.1.1 Đối với vốn trong nước
Trong nền kinh tế thế giới nói chung, nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định, tác động trực tiếp đến sự tăng trưởng và phát triển về kinh tế của nước nhà
Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế: sử dụng để đầu tư cho các dự ánkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển ở mọi lĩnh vực khác nhau
Định hướng cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, phát triển đồng đều bằng việc nguồn vốn đầu tư trong nước tập trung vào những ngành quan trọng như công nghiệp, dịch vụ, cơ cấu kinh tế của quốc gia sẽ từng bước biến chuyển theo định hướng đã đề ra của nhà nước: tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm tỉ trọng nông nghiệp và theo đó, nguồn vốn nước ngoài có được định hướng đầu tư, tiếp tục trợ giúp nguồn vốn trong nước đẩy nhanh thời kì quá độ đưa nền kinh tế quốc gia tiếp tục phát triển lên một trình độ cao hơn
Nguồn vốn trong nước thường được sử dụng cho việc đầu tư phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế đạt đến yêu cầu nhất định của nền kinh
tế thế giới nhằm thu hút đầu tư từ nước ngoài
Một trong số những vai trò không thể không kể đến của nguồn vốn trong nước đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế đó là : nguồn vốn đầu tư trongnước đặc biệt là nguồn vốn dồi dào của khu vực dân cư và tư nhân là tác động lớn nhất thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng và đồng bộ, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề,
Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1.2 Đối với vốn nước ngoài
Nếu như nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định thì nguồn vồn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi đầu tạo “cú hích” cho sự phát triển
Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong nguồn vốn nước ngoài có vai trò giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển về nguồn nhân lực, giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư trong nước ở cácnước đang và chậm phát triển
Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) giúp kích thích các công ty khác tham gia đầu tư, góp phần thu hút viện trợ phát triển chính thức, gia tăng tốc
độ phát triển kinh tế, do đó tăng tỷ lệ huy động vốn trong nước Ngoài ra, FDI còn góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế, góp phần giải quyết việc làm và đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực Số lượng lao động có việc làm và trình độ chuyên môn cao ngày càng tăng FDI còn thay đổi tư duy và phong cách lao động theo kiểu công nghiệp hiện đại, là lực lượng tiếp thu chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lí tiến bộ Từ đó mà làm việc hiệu quả và năng suất lao động tăng thể hiện qua việc thị trường quốc tế đã chấp nhận sản phẩm của các nước kém phát triển này Do đó, FDI còn có vai trò mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài
2.2 Đánh giá tình hình vốn trong nước và vốn nước ngoài của Việt Nam
Bức tranh kinh tế Việt Nam trong những năm trở lại đây mang nhiều màu sắc khác nhau Đó là những chấm phá ở tốc độ tăng trưởng kinh tế, GDP hằng năm có sự thay đổi, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng Những chuyển biến tích cực ấy phản ánh sự đúng đắn và sang tạo trong đường lối, chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự linh hoath và mạnh bạo hội nhập của các doanh nghiệp trong nước Và thực sự thiếu sót khi không đề cập tới những đóng góp to lớn của các nhà đầu tư nước ngoài Trong tổng thể bức tranh kinh tế ấy được vẽ lên bởi những con số về nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Đây cũng là cơ sở, căn cứ cho nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu kinh tế đưa ra được những phán đoán cho nền kinh tế Việt Nam
Dưới đây là một vài đánh giá về tình hình nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài của Việt Nam:
2.2.1 Đối với vốn trong nước
Trang 30Huy động vốn đầu tư toàn xã hội trong những năm gần đây có sự tăng trưởng Năm 2015, con số này đạt gần 1367,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2014 và bằng 32,6% GDP cả nước
Năm 2016, nguồn huy động vốn chỉ ở mức 31% GDP cả nước, đã giảm so với năm 2015, tuy nhiên con số này cũng được các chuyên gia đánh giá ở mức độ khá cao, và coi đó là bước tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới 2016 có nhiều biến động
Hoạt động của các doanh nghiệp trong nước có nhiều chuyển biến tích cực Các doanh nghiệp đăng kí hoạt động năm 2015 tăng cả về số lượng và số vốn đăng kí Cụ thể mức tăng là 26,6% ở số doanh nghiệp đăng kí thành lập và 39,1% với số vốn đăng kí
Năm 2016, chỉ ở số nguồn vốn trong nước, có thể thấy được sự đột phá khá nhiều so với năm 2015 Bên cạnh đó, con số thống kê năm 2014 đề lại nhiều lo lắng cho giới chuyên gia và nhà chức trách, khi số liệu thống kê cho thấy số lượng doanh nghiệp giảm, 2,7% và số vốn chỉ tăng ở mức 8,4% Những thay đổi đáng mừng vào năm 2015 khẳng định nhiều nỗ lực và cố gắng của các cấp lãnh đạo và trên hết là bản thân các doanh nghiệp trong nước Điều đó thể hiện ở chỗ, năm 2015, số doanh nghiệp quay lại hoạt động tăng 39,5% so với 2014, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể , chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm giảm 3,6%
Theo nguồn tin mới nhất của Tổng cục thống kê đưa ra cho biết, nguồn vốn đầu tư thực hiện từ NSNN tăng 1,9% so với cùng kì năm ngoái
Thực tế cho thấy, các tập đoàn lớn của Việt Nam luôn tăng cường nguồn vốn của mình đầu tư cho nhiều dự án mới Phạm vi hoạt động của họ không chỉ trong nước mà còn vươn ra thị trường Quốc tế Những tên tuổi phải kể đến như: Hoàng Anh Gia Lai, Viettel, Duy Lợi,… Một ông lớn trong nước mà chúng ta không thể bỏ qua chính là tập đoàn Vin Group Lĩnh vực hoạt động của tập đoàn này vô cùng đa dạng và phong phú Họ đầu tư nguồn kinh phí lớn cho bất động sản, chuỗi cửa hàng, siêu thị, bệnh viện,…, với nguồn cơ sở vật chất ở mức cao, đáp ứng thị hiếu của đa dạng các tầng lớp trong
xã hội Hàng loạt Vincom ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh,… đi vào hoạt động, cho thấy tiềm lực đầu tư lớn của tập đoàn
Những năm trở lại đây, tên gọi FLC dần trở lên quen thuộc với người dân Viêt Nam Để xây dựng hình ảnh thương hiệu FLC trên lãnh thổ Việt Nam, đó
là cả sự đầu tư và chiến lược lâu dài của FLC Group
Những dẫn chứng nêu trên cho thấy, nền kinh tế Việt Nam nói chung và tình hình đầu tư vốn trong nước nói riêng đang có nhiều khởi sắc Mặc dù chịu
sự ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, vấp phải khó khăn của nền kinh tế trong nước, song các doanh nghiệp nội địa vẫn luôn cố gắng, nỗ lực để từng bước lớn mạnh Tăng cường nguồn vốn, mở rộng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và không ngừng hội nhập Đó là chiến lược mà các doanh nghiệp hướng tới
Bên cạnh những thuận lợi từ môi trường hoạt động, kinh doanh; môi trường pháp lý, chính sách khuyến khích doanh nghiệp của Đảng và Nhà Nước, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với không ít những khó khan, do vậy, nguồn vốn trong nước cũng có nhiều biến động, có những thời điểm suy giảm dẫn đến sự phá sản của nhiều công ty
Nền kinh tế là cuộc chạy đua của bản lĩnh và tư duy, vì vậy, môi trường này sẽ là nơi để chắt lọc lại những doanh nghiệp có đủ năng lực và tiềm lực nhất Đây cũng là quy luật tất yếu trong kinh doanh, do vậy, trước hết phải quản lí và sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả và thông minh nhất Như vậy, họ mới có thể đứng vững trên thị trường Việt Nam
2.2.2 Đối với vốn nước ngoài
Việt Nam tham gia vào các hiệp hội (WTO, FTA, TPP,…), kí kết các hiệp định, tạo mở sân chơi công bằng, thuận lợi cho các đối tác, nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thu hút mạnh mẽ nguồn vốn nước ngoài
Tháng 4/ 2014, tổng số dự án đầu tư trực tiếp (FDI) còn hiệu lực ở Việt Nam là trên 16300 dự án với vốn đầu tư thực tế là khoảng 238 tỷ USD
Theo Cục đầu tư nước ngoài: 20/05/2014: cả nước có 500 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng kí gần 4 tỷ USD Tháng 5/2014, các dự án đầu tư nước ngoài đã được giải ngân là 4,6 tỷ USD, tăng 0,4% (năm 2013)
Các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài: công nghiệp chế biến, chế tạo, bán lẻ, bất động sản, vận chuyển, xây dựng,…
Bên cạnh đó, đối tác đầu tư truyền thống Nhật Bản (ODA), Hàn Quốc, Trung Quốc,… trong nhiều năm trở lại đây, chúng ta có thêm những bạn bè Châu
Âu và một số khu vực khác Ví dụ: trong lĩnh vực vận chuyển (Logistics) có các nguồn vốn từ các công ty lớn như: APL, NYK,… (họ lập công ty với 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nội địa)
- Nói tới hoạt động đầu tư vốn nước ngoài phải kể tới các công ty:
+ SAMSUNG: Họ rót vào Việt Nam hơn 14 tỷ USD, mở rộng các khu công nghiệp Bắc Ninh, Bình Dương,…
+ AEON: Dự án mở rộng 20 siêu thị (2020)
+ LG: Khai trương nhà máy 1,5 tỷ USD ở Hải Phòng
Việt Nam trở thành thị trường trọng điểm của tập đoàn [5]
Đánh giá:
- Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vẫn tăng, song những con số này vẫn chưa phản ánh chính xác thực tế:
+ FDI vào Việt Nam là 293 tỷ USD (7/2016) nhưng vốn giải nhân thực tế chỉ chiếm phân nửa
+ 2,2 tỷ USD vốn ODA đã kí hiệp định vẫn chưa giải ngân
30
Trang 31- Rõ ràng, nguồn vốn đầu tư này vẫn chưa thực sự hiệu quả do thị trường kinh tế biến động, chính sách cho các doanh nghiệp nước ngoàicòn nhiều vướng mắc, khó khăn, nguồn lao động trong nước chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, cơ sở vật chất còn kém.
Đó là những trở ngại trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
2.3 Đánh giá vai trò quyết định của vốn trong nước và vai trò quan trọng của vốn nước ngoài ở Việt Nam
2.3.1 Đối với vốn trong nước
Trong quá trình phát triển kinh tế không một quốc gia nào có thể phủ nhận tầm quan trọng của các nguồn vốn, đặc biệt là vốn trong nước Tại Việt Nam, để đạt dược mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7-8% mỗi năm trong giai đoạn 2001-2005 thì cần lượng vốn hàng năm khoảng 55-60 tỷ USD Vì vậy, huy động các nguồn vốn vào quá trình đầu tư phát triển là hết sức cần thiết
Nhưng trên thực tế, những năm qua nguồn vốn huy động từ bên ngoài (FDI,ODA), có xu hướng ngày càng giảm, nếu năm 2010 vốn trong nước đạt 605,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,2% ,vốn nước ngoài chiếm 25,8% ( 214,5 nghìn tỷ đồng ) trong tổng vốn huy động thì đến năm 2015 con số này thay đổi
là 76,7% vốn trong nước (1049,1 nghìn tỷ đồng), còn vốn nước ngoài chỉ chiếm 23,3% (318,1 nghìn tỷ đồng)
Như vậy có thể thấy huy động vốn từ bên ngoài ngày càng khó khăn hơn Mặt khác huy động vốn nước ngoài còn mang theo nhiều hạn chế như: mang nợ nước ngoài, bị ràng buộc các điều kiện về kinh tế, chính trị,đòi hỏi một lượng vốn đối ứng
Vì vậy, để nền kinh tế phát triển ổn định và vững chắa thì thu hút vốn trong nước có ý nghĩa hơn cả, nó giữ một vai trò quyết định trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam Điều này được thể hiện như sau:
- Huy động được nguồn vốn trong nước là tiền đề vật chất cho việc vay vốn nước ngoài, phản ánh sức mạnh của nền kinh tế đang phát triển, đảm bảo khả năng thanh toán bền vững trong quan hệ tín dụng đố với các nước Là động lục thúc đẩy các nước mạnh dạn đầu tư mà không
- Huy động vốn bằng lãi suất cao là động lực thúc đẩy người có tiền tiết kiệm chi tiêu,mua xắm, xây dựng chưa cần thiết, dành tiền gửi vao Nhà nước để sinh lời, đồng thời giải quyết được tình trạng thiếu vốn đầu tư
- Muốn huy động vốn nhiều phải có lãi suất cao tức là “đầu vào cao”, dẫn đến “đầu ra cao” đó là nguyên tắc trong kinh doanh tiền tệ Tuy nhiên đó là “nổi bật” còn “bề sâu” cũng phải suy ngẫm một cách nghiêm túc là lãi suất huy động có cao nhưng Nhà nước tập trung và tích tụ được vốn, giảm dần vốn di vay nước ngoài, nhân dân tăng thêm thu nhập là cái gốc để nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên làm cho nứoc mạnh, dân giầu
- Huy động nguồn vốn trong nước ngày càng nhiều, tỷ lệ vay nước ngoài giảm đi một cách hợp lý là biện pháp tiết kiệm ngoại tệ cho Nhà nước,
và đưa nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định
2.3.2 Đối với vốn nước ngoài
Nhu cầu đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng trở nên bức thiết trong điều kiện của xu thế quốc tế hoá đời sống, kinh tế, cách mạng khoa học công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng tăng Đối với các nước đang phát triển nhất là Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá khả năng phát triển
Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá để đưa đất nước từ một nền kinh tế kém phát triển, nghèo nàn, lạc hậu sớm trở thành một nước công nghiệp, có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn Nhận thức được điều này, cùng với việc hội nhập về kinh tế, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết để đẩy nhanh hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế, từng bước bắt nhịp với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Trong chặng đường đầu khi tích luỹ trong nội bộ nền kinh tế còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Nguồn vốn có thể từ trongnước nhưng thực tế cho thấy tỉ lệ tiết kiệm này rất thấp chưa đủ tài trợ cho đầu tư đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững Do đó nguồn vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vô cùng cần thiết Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài càng có vai trò quan trọng hơn Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ưu điểm hơn nhiều so với các nguồn vốn nước ngoài khác và nó có tác động sâu rộng đến nền kinh tế đất nước Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo động lực phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới
Do vậy, nước ta luôn tìm mọi cách đưa ra những chính sách nhằm khuyến khích và không ngừng cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư đồng thời cần phải có chiến lược khai thác và sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn này để phục vụ tăng trưởng kinh tế Và thực tế từ các bài học về phát triển ở Việt Nam đã khẳng định rằng: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế
2.4 Nguyên nhân chênh lệch vai trò giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài
2.4.1 Nguyên nhân từ vốn trong nước
Trang 32Vốn trong nước được coi là nhân tố nội lực của mỗi quốc gia vì nó mang tính ổn định và bền vững Tuy toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu của thời đại nhưng nó cũng không bao hàm ý nghĩa là nguồn vốn nước ngoài sẽ dần thay thế vai trò của vốn trong nước Nội lực có tốt thì mới phát huy được hết vai trò của ngoại lực (vốn nước ngoài) Vốn trong nước mang tính ổn định và bền vững vì lẽ nó do yếu tố trong nước quyết định chứ không chịu ảnh hưởng của nhân tố bên ngoài (như tình hình kinh tế-xã hội, an ninh của nước ngoài, mối quan hệ giữa hai Nhà nước ) Nguồn vốn này trong nước có thể chủ động trong việc huy động và sử dụng mà không phải chịu bất cứ một sự chi phối nào từ các tổ chức, quốc gia nào, cũng như không có một ràngbuộc nào về chính trị Sự phát triển kinh tế của một nước phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước Ở một số nước , khuvực kinh tế Nhà nước được coi là khu vực quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo và nó thường chi phối trong những ngành, lĩnh vực quan trọng Những ngành cần Nhà nước đứng ra đảm nhiệm như lĩnh vực cần thiết nhưng khả năng thu hồi vốn lâu, lợi nhuận lại thấp (xây dựng cơ sở hạ tầng) nên khôngnhiều nhà đầu tư nào có mong muốn đầu tư vào, những lĩnh vực mà Nhà nước phải đứng ra độc quyền (phân phối điện, nước), những lĩnh vực mới còn tiểm ẩn những rủi ro cao, hay lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ
Nhà nước cũng đầu tư vào hoạt động kinh tế như một doanh nghiêp thông thường, lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước lại trở thành nguồn thu của ngân sách Nhà nước Vai trò quan trọng của Ngân sách Nhà nước là công cụ tài chính vĩ mô sắc bén nhất, hữu hiệu nhất, là công cụ bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.Các doanh nghiệp trong nước luôn là lực lượng đi đầu trong việ ứng dụng khoa học-công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật Vì vậy, nguồn vốn các doanh nghiệp có vai trò hữu hiệu, hỗ trợ cho sự điều tiết định hướng vĩ mô của nền kinh tế
Như vậy, đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đi đến sự phồn vinh một cách chắc chắn, lâu bền Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản có vai trò quyết định, cho phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước Trong lịch sử phát triển của các nước trên phương diện lý luận chung, bất kì nước nào cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính Sự chi viện, bổ sungbên ngoài chỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc gia
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi 1 quốc gia không chỉ phát triển đơn lẻ mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác Chính vì thế, nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát huy được nội lực nguồn vốn trong nước thì sẽ có được thế chủ động trong việc điều hành nền kinh tế và ổn định các chính sách kinh tế
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được sự phát triển bền vững Để phát triển kinh tế có nhiều con đuờng khác nhau Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước Thực tế đã cho thấy các nước này có thể đạtđược mức tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ thuộc vào nước cho vay, bởi họ không thấy được cũng như không phát huy được tính quyết định của nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn trong nước chiếm một tỉ trọng ưu thế ( > 50%) trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội .Nếu tỉ trọng này quá thấp so với vốn nước ngoài thì sẽ dẫn đến giảm khả năng thanh toán và có thể không kiểm soát được sự thâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia gây lũng đoạn thị trường, thu hẹp thị trường của các doanh nghiệp trong nước và sản xuất trong nước không phát triển
2.4.2 Nguyên nhân từ vốn nước ngoài
Không ai có thể phủ nhận được những vai trò hết sức quan trọng của nguồn vốn từ ngoài nước đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia như:
- Hỗ trợ cho những thiếu hụt về vốn trong nước.
- Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế
- Làm gia tăng nguồn vốn trong nước thông qua : Tạo công ăn việc làm cho nguồn lao động dư thừa, giải quyết thất nghiệp, tăng thu nhập cho công nhân, từ đó tăng tiêu dùng, tăng tích luỹ, tăng nguồn vốn trong nước
- Tạo thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần tăng tích luỹ nguồn vốn trong nước
Tuy nhiên, không phải lúc nào nguồn vốn nước ngoài cũng mang lại hiệu quả như mong muốn mà nó cũng luôn tiềm ẩn những nguy cơ cho nước tiếp nhận và tác động tới nguồn vốn trong nước đặc biệt là về khả năng trong tương lai của nguồn vốn này:
- Luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngoài nhất là đối với nguồn ODA
- Nguồn vốn nước ngoài di chuyển vào trong nước làm tăng thu nhập của vốn nước ngoài trên thị trường trong nước và làm giảm thu nhập của nguồn vốn trong nước
- Nguồn vốn nước ngoài được đầu tư khá nhiều vào khai thác tài nguyên, dẫn đến làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước
- Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh không cân sức giữa doanh nghiệp trong nước với và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm phá sản doanh nghiệp trong nước và gây thất nghiệp
- Làm chảy máu chất xám sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Chính vì lẽ đó, một quốc gia nếu muốn phát triển một cách bền vững thì vai trò của vốn trong nước là yếu tố quyết định, và nguồn vốn nước ngoài là một công cụ quan trọng để hỗ trợ cho nguồn vốn trong nước
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
32
Trang 33nó là sự bổ trợ , thay thế và thúc đẩy những mặt mạnh và yếu của từng nguồn vốn cụ thể và có những cống hiến tích cực cho nền kinh tế.
Nguồn vốn trong nước tập trung vào nhiệm vụ tạo dựng những cơ sơ kiến trúc hạ tầng kỹ thuật ,phát triển các ngành, các lĩnh vực then chốt để có thể tạo dựng một khung sườn vững chắc cho nền kinh tế trước những cơn sóng của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Nguồn vốn ngoài nước là phép cộng quan trọng cho nhu cầu vốn phát triển của cả nền kinh tế Các nguồn vốn này hướng tới sự phát triển trong những lĩnh vực cụ thể để tìm kiếm nguồn lợi kinh tế dồi dào ở một đất nước còn nhiều tiềm năng phát triển nhu Việt Nam Chúng cũng đồng thời là ưu thế mà một quốc gia đang phát triển như chúng ta có thể tận dụng cùng với các nguồn lực trong nước để rút ngắn thời gian CNH – HĐH nền kinh tế
Nhận thức được vai trò của từng nguồn vốn cụ thể và mối quan hệ bổ trợ giữa hai nguồn vốn này sẽ giúp chúng ta có được những định hướng chính xác, xây dựng chiến lược hợp lý để có thể phát huy hơn nữa những đóng góp của các nguồn vốn này vào mục tiêu phát triển
Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài rất chặt chẽ, chúng bổ sung cho nhau để tạo thành một tổng thể thống nhất Nguồn vốn trong nước tác động tới nguồn vốn nước ngoài một cách gián tiếp thông qua cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường đầu tư… Nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước Cùng với đó, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng làm tăng trực tiếp nguồn vốn trong nước thông qua ngân sách nhà nước Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng tạo nguồn ngoại tệ giúp các doanh nghiệp trong nước thuận lợi hơn trong xuất nhập khẩu
3.2 Khuyến nghị
3.2.1 Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong cơ cấu nguồn vốn của các quốc gia
- Thời đại ngày nay không có một dân tộc nào, không nền kinh tế nào có thể phát triển trong sự tồn tại riêng lẻ Sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều, tuỳ thuộc lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi nước, và mọi nền kinh tế
- Do điều kiện địa lý, sự phân bố không đồng đều nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên không có một quốc gia nào có khả năng tự đảm bảo các sản phẩm phục vụ cho quốc gia đó, lịch sử đã chứng minh điều đó Quan hệ đối ngoại đã tạo ra nhiều hình thức hợp tác để phát triển là cơ sở của quan hệ kinh tế quốc tế
3.2.2 Tăng cường thu hút vốn và công nghệ nước ngoài tạo cơ hội “cất cánh” cho nền kinh tế dựa trên việc tận dụng các nguồn lực chưa có
3.3 Đề xuất rút ra từ kết quả nghiên cứu
3.3.1 Giải pháp chung:
3.3.1.1 Tạo lập, duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế
Muốn như vậy chúng ta phải thu hút vốn đầu tư Vốn đầu tư càng được sử dụng hiệu quả thì khả năng thu hút vốn càng lớn với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích luỹ của nên kinh tế có khả năng gia tăng Từ đó ngược lại là tín hieeuh để thu hút vốn
3.3.1.2 Đảm bảo ổn định môi trường kinh tế
Sự ổn định của mooi trường kinh tế luôn được coi là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư Sự an toàn ổn định yêu cầu môi trường kinh tế ổn định, không gặp rủi ro do yếu tố chính trị hay môi trường kinh doanh gây ra
Nhưng ổn định kinh tế vĩ mô cũng phải gắn liền với mức ổn định trong tăng trưởng, đảm bảo thu hút có hiệu quả vốn đầu tư cho tăng trưởng Ví dụ:
- Ổn định giá trị tiền tệ: kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của lạm phát nếu xảy ra
- Lãi suất và tỷ giá hối đối luôn ổn định
3.3.1.3 Xây dựng các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả
Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện đượccác nhiệm vụ của chính sác tài chính quốc gia
Phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa nguốn vốn đầu tư trong nước vad nguồn vốn đầu tư nước ngoaig Quán triệt nguyên tắc: vốn trong nước là quyết định và vốn nước ngoài là quan trọng
Cần đa dạng hoá và hiện đại hoá các hình thức và phương tiện huy động vốn
3.3.2 Giải pháp đối với từng nguốn vốn cụ thể
3.3.2.1 Vốn trong nước
- Các giái pháp tăng nguồn vốn NSNN:
Trang 34Chính phủ cần phải tích cực, chủ động phối hợp với các bộ các ngành, địa phương có liên quan để rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sachs tài nguyên nhằm cải thiên hơn môi trường đầu tư kinh doanh, tạo bước đột phá tròn khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong nước, tập trung thu hút vốn.
Từng bước điều chinh cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng các nguồn thu chịu ảnh hưởng từ sản xuất kinh doanh trong nước, giảm tỷ trọng các nguồn thu chịu ảnh hưởng của các yếu tố thị trường nước ngoài như thu ở khâu thuế xuất nhập khẩu
Triển khai có hiệu quả nhất công tác quản lý thuế Giảm bớt các hình thức bao cấp qua thuế như thuế ưu đãi, miễn thuế Nên hướng người dân trong nước vào việc sử dụng các khoản tiết kiệm cho đầu tư sản xuất kinh doanh
Phải điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách hợp lý theo hướng tăng cường chi cho đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, xoá đói giảm nghèo, tiến tới loại bỏ hoàn toàn các hình thức bao cấp trợ cấp, chi cho hàng hoá công cộng, vay ưu đãi dẫn đến giảm NSNN
Đẩy mạnh cái cách hành chính nâng cao năng lực quản lý của nhà nước một cách công khai minh bạch, tiết kiệm chống lãng phí, nhất là vấn nạn tiêu cực
Tăng nguồn vốn NSNN bằng việc cho thuê dất đai- công thổ quốc gia, đẩy mạnh việc bán, khoá cho thuê và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra có thể huy động ngân sách bằng việc phát hành các loại trái phiếu chính phủ hay từ thị trường chứng khoán
- Giải pháp thu hút nguồn tiết kiệm tư nhân vào đầu tư phát triển:
Có chính sách lãi suất hợp lý, kích thích dân cư nâng cao tỷ lệ tiết kiệm tạo nguồn cho nên kinh tế
Giảm thiểu chi phí trung gian tài chính
Xã hội hoá hoạt động đầu tư, cho phép nhà đầu tư tư nhân tham gia vào các lĩnh vực trước đây là độc quyền của nhà nước nhằm tối ưu hoá hiệu quả đồng vốn đầu tư từ đó nâng cao chỉ số ICOR toàn xã hội
3.3.2.2 Vốn nước ngoài
- Giải pháp thu hút vốn FDI:
Thực hiện cải cách hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật rõ rang ổn định và mang tính cạnh tranh cao theo thông lệ quốc tế, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam thoả thuận
Nhà nước cần tăng cường đầu tư cơ sở hậ tầng còn yếu kém, hỗ trợ đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để có thể tiếp nhận công nghệ hiện đại, nhằm tăng tính cạnh tranh của môi trường đầu tư
Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị dung cho đào tạo
Cần hoàn chỉnh quy hoạch đầu tư quốc gia, trên cơ sở đó xác định danh mục dự án quốc gia cần kêu gọi đầu tư nước ngoài Muốn vậy các bộ ngành phải kết hợp với nhau để xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch từng ngành từng địa phương, trên cơ sở đó xây dựng chiến lược thu hút vốn Khuyến khích cố phần hoá các doanh nghiệp FDI để huy động vốn từ các tầng lớp dân cư giúp cho việc thâm nhập của người Việt Nam trong việc điều tiết và quản lý các doanh nghiệp có vốn nước ngoài
Xây dựng một chiến lược thu hút và sử dụng có hiệu quả dòng vốn FDI, lồng ghép chiến lược này vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội cũng như chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế
Đổi mới tư duy về thu hút và sử dụng vốn FDI theo hướng tự do hoá hơn, cần chú trọng đến chất lượng của dòng vốn hơn nữa
Phối hợp một cách chặt chẽ nhịp nhàng hơn giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch nhằm xây dựng hình ảnh quốc gia chung với tầm nhìn, chiến luoc và chính sách phát triển quốc gia
Các doanh nghiệp trng nước cần tự mình lan toả bằng cách tham gia vào chuỗi giá trị của các công ty này trên thị trường thế giới
- Giải pháp thu hút vốn ODA:
Các bộ, cơ quan, địa phương, đơn vị thực hiện các biện pháp thiết thực đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách giải toả mặt bằng gắn với tái định cư, tạo điều kiện thực hiên việc giải ngân nhanh, đúng quy định của các chương trình, dự án ODA đã cam kết
Trong chỉ đạo thực hiện kế hoạch cần ưu tiên đảm bảo đủ vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA để thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết với nhà tài trợ Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung cơ chế quản lý vốn ODA, tăng cướng công tác đánh giá, thẩm định hiệu quả các chương trình, dự án ODA.Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, thu hút và sử dụng vốn ODA, đồng thời xây dựng danh mục các chương trình dự án quan trọng đầu tư bằng nguồn vốn ODA để ưu tiên
Quảng bá hình ảnh Việt Nam: tích cực gia nhập các tổ chức trên thế giới, mở rộng quan hệ ngoại giao để giới thiệu với bạn bè quốc tế về một Việt Nam hấp dẫn nhiều triển vọng để phát triển
- Thu hút vốn giản tiếp qua thị trường vốn:
34
Trang 35Tiếp tục thực hiện các chính sách vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng cả nền kinh tế.
Minh bạch thông tin và đồng bộ chính sách: khuyến khích các tổ chức tài chính nước ngoài mua cố phần ngân hàng, công ty chứng khoán trong nước ban hành luật hướng đến tự do hoá nguồn vốn đầu tư, bảo vệ nhà đầu tư, cho phép các quỹ đầu tư nước ngoài đặt chi nhánh tại Việt Nam
Thực thi chính sách mở cửa thu hút vốn thiết lập các chính sách bình đẳng về ưu đãi đầu tư, chính sách thuế phí, lệ phí giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tăng cương an ninh hệ thống tài chính, thực hiện kiểm soát vốn khi cần thiết
Xếp hạng tín nhiệm để thu hút đầu tư, xếp hạng các doanh nghiệp có quy mô lớn đã và đang cổ phần hoá các doanh nghiep đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.3.3 Giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
Phải nhận thức được vai trò của từng nguồn vốn đối với phát triển kinh tế xã hôi, luôn luôn coi nguồn vốn trong nước là quyết định nguồn vốn nước ngoài là quan trọng, nguồn vốn trong nước là nội lực có thể chủ động trong việc quản lý và sử dụng Phải quán triệt quan điểm: trước khi đi nhờ sự trợ giúp tuwg bên ngoài thì hãy đứng vững trên đôi chân của mình
Về lâu dài, cần phải thực hiện tốt chức năng hoạch đinh chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong mối quan hệ mật thiết với các nguon vốn thu hút đầu tư Nâng cao quy hoạch tổng thế, có chính sách huy động đồng bộ các nguồn vốn, phù hợp với quy hoạc ngàng, lãnh thổ và lĩnh vực
3.4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Phương pháp nghiên cứu hầu như chỉ đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế đơn thuần trong một quốc gia mà không có sự đối chiếu so sánh với các quốc gia khác trên thế giới nên người nghiên cứu nên bổ sung số liệu, mô hình đánh gia thực tế từ đó đưa ra những so sánh đối chiếu nhằm tăng sức thuyết phục cho bài luận
Bài viết đa số chỉ đánh giá tác động của FDI đến một số ngành mà nước ta có thế mạnh, sau đó là kết luận tổng thể về tác động của vốn nước ngoài tới
sự phát triển kinh tế cả nước để khắc phục yếu điểm trên chúng ta nên mở rộng phạm vi nghiên cứu dành nhiều thời gian hơn để kết quả nghiên cứu trở nên tin cậy hơn
HỆ SỐ ICOR LÀ GÌ? ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA NÓ TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM
2.1.Lý thuyết về h số ICOR: ệ số ICOR:
Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư Nếu hệ số ICOR thấp, chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao và ngược lại
2.1.2 Giả định :
Icor được dùng làm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trong trường hợp nền Kt phát triển bình thường và tương đối ổn định trong dài hạn (5 năm, 10 năm…) mà không có những diễn biến bất thường như khủng hoảng tài chính… khi dùng icor để thể hiện vốn đầu tư và tăng tưởng KT cần phải kèm theo 2 giả định:
Nền kinh tế luôn cân bằng ở dưới sản lượng tiềm năng Để có thể huy động được các nguồn lực dư thừa cần phải đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất.Công nghệ không đổi, sự kết hợp giữa vốn và lao động được thực hiện theo một hệ số cố định
2.1.3 Công thức:
- Phương pháp tuyệt số đối:
Trang 36ICOR1 =
Ý nghĩa: cần gia tăng bao nhiêu đơn vị vốn để gia tăng 1 đơn vị sản lượng.
- Phương pháp tương đối
ICOR2 =
Ý nghĩa: cần gia tăng bao nhiêu phần trăm vốn để tăng lên 1% GDP.
Trong đó: Vt –Vốn đầu tư năm t
Gt-1- GDP năm t
Chú ý:
- Ba đại lượng V t , G t , G t-1 tính theo giá của 1 năm nào đó ( thường được sử dụng là giá thực tế năm nghiên cứu hoặc giá cố định)
- Từ 2 công thức trên ta có thể rút ra như sau:
ICOR 1 = ICOR 2 x Chỉ số phát triển GDP năm t
Do đó ICOR tính theo phương pháp tuyệt đối cao hơn ICOR tính theo phương pháp tương đối trong trường hợp tăng trưởng kinh tế dương.
2.1.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của hệ số ICOR
- Phản ánh hiệu quả dử dụng vốn: so sánh hiệu quả sử dụng vốn (hay hiệu quả đầu tư) Giữa các thời kỳ hệ số icor cao hơn chứng tỏ thời kỳ đó
sử dụng vốn kém hơn Xu hướng giữa các nền kinh tế phát triển thường sử dụng những công nghệ cao, cần nhiều vốn thì hiệu quả sử dụng vốn thấp, như trong công nghiệp cần hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn nông nghiệp Giữa các ngành, khu vực cần những hiệu quả sử dụng vốn khác nhau sao cho phù hợp với ngành, với khu vực Cơ sở để dự báo tốc độ phát triển KT và quy mô vốn đầu tư
Nhược điểm:
- ICOR là 1 chỉ số đã được đơn giản hóa nên khó đánh giá được được các hiệu quả kinh tế - xã hội
- Icor chỉ mới phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm
- Icor cũng bỏ qua sự tác động của ngoại ứng như điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ chế chính sách…
- Hệ số icor không tính đến độ trễ của yếu tố thời gian, của kết quả và chi phí, các vấn đề tái đầu tư
- Icor chưa thể hiện rõ được các vấn đề về các loại tài sản vô hình, tài sản tài chính nên không phân tích rõ được sự ảnh hưởng của đầu tư tới thu nhập quốc dân
- Bên cạnh đó, nó chưa phản ánh rõ trình độ kỹ thuật của sản xuất, vì ICOR là tỷ lệ đầu tư/sản lượng gia tăng Chẳng hạn, một bên có kỹ thuật sản xuất kém hơn, với 1 lượng đầu tư tương đối cũng có thể cải thiện chỉ số ICOR xấp xỉ bằng với bên có trình độ kỹ thuật cao hơn Nguyên nhân vì kỹ thuật càng cao thì càng chậm cải tiến
2.1.5 Ý nghĩa của hệ số ICOR
- Phản ánh số lượng vốn cần thiết để gia tăng 1 đơn vị sản lượng
- Phản ánh trình độ của công nghệ sản xuất:
+ Công nghệ cần nhiều vốn thì hệ số ICOR cao
+ Công nghệ cần ít vốn, nhiều lao động thì hệ số ICOR thấp
- Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: so sánh hiệu quả sử dụng vốn (hay là hiệu quả đầu tư)
36
Trang 37+ Giữa các thời kỳ: hệ số ICOR cao hơn thì chứng tỏ nền kinh tế sử dụng vốn kém hiệu quả hơn Tuy nhiên giữa các thời kỳ độ dài khác nhau thì sự thay đổi công nghệ hay các vấn đề giữa vốn và lao động cũng là khác nhau.
+ Giữa các khu vực: trên thực tế thì thường khu vực nhà nước sẽ có hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn khu vực tư nhân do nhiều lý do Tuy nhiên điều này có thể không đúng với trường hợp đặc thù của một số quốc gia
+ Giữa các ngành kinh tế: ví dụ như hiệu quả sử dụng vốn trong ngành nông nghiệp khác với 2 ngành còn lại
- So sánh vai trò của vốn với các nhân tố tăng trưởng khác
ICOR cho biết 1 đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng sản lượng Qua đó ta có thể thấy ý nghĩa của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế
so với các yếu tố tăng trưởng khác
- Sử dụng để lập kế hoạch kinh tế: cần đầu tư bao nhiêu vốn để đạt được mục tiêu đề ra
2.2 Hệ số ICOR và mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Tình hình đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Theo số liệu của Tổng Cục Thống Kê, giai đoạn 2010-2015, tổng số vốn đầu tư của Việt Nam tăng mạnh, cụ thể là năm 2010, số vốn đầu tư của nước ta ở mức 830278 tỷ đồng, đã tăng lên 1367205 tỷ đồng vào năm 2015 Đây được coi như một tín hiệu tích cực trong lĩnh vực đầu tư cũng như sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Hình 1: Tổng số vốn đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2010- 2015.
Đơn vị : tỷ đồng
0 200000
ta giai đoạn 2010- 2015, chúng ta sẽ đi vào phân tích các lĩnh vực đầu tư,cụ thể làđầu tư theo kh vực kinh tế của Việt Nam bao gồm : khuvực kinh tế nhà nươc, khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Hình 2: Cơ cấu tổng vốn đầu
tư theo ba khu vực kinh tế nói trên từ năm 2010 đến nay
Trang 38Nguồn : Nhóm thu thập số liệu và tổng hợp
Xét về cơ cấu vốn đầu tư :
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước trong giai đoạn 2010-2015 có sự thay đổi nhẹ, 38,1%( năm 2010) xuống 38%( năm 2015) Trong đó thì giữa các năm của giai đoạn lại có sự thay đổi ko ổn định, cụ thể như trong năm 2011 thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực nhà nước có sự tăng nhẹ 0,8% so với năm 2011 Sau đó lại giảm vào năm 2012 (giảm 1,1%), giai đoạn này thì vào năm 2013 là thời gian khu vực nhà nước có tỷ trọng đầu tư cao nhất ( 40,4%)
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có sự sụt giảm đáng kể, từ 36,1%( năm 2010) xuống còn 30,7 %( năm 2015) Trong giai đoạn 2010-2014, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực này có sự tăng giảm ổn định Riêng giai đoạn năm 2014 đến 21015 thì lại có sự giảm sút rõ rệt (giảm 7,7%)
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định, có sự thay đổi trong hai giai đoạn, từ năm 2010 đến năm 2012 thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực này có sự giảm xuống rõ rệt Trái ngược với điều đó thì những năm 2013 đến 2015 lại có xu hướng tăng dần lên Tuy nhiên so với năm 2010 thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực nước ngoài vẫn có sự sụt giảm, 25,8% ( năm 2010) xuống còn 23,3% ( năm 2015)
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn ở mức cao và chiếm tỷ trọng cao nhất (bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt khoảng 39,1%)
2.2.2 Hệ số ICOR của nước ta giai đoạn 2010-2015
Hệ số ICOR là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế, phản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu
tư thực hiện tăng thêm để tăng thêm 1 đồng tổng sản phẩm trong nước (GDP) Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là một trong những cơ sở để rà soát và sửa đổi mục tiêu đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả về chất lượng sử dụng vốn đầu tư Dưới đây là biểu đồ thể hiện sự thay đổi của hệ số ICOR nước ta giai đoạn 2010 đến nay :
Hình 3: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015
Nguồn : Nhóm tự tổng hợp từ số liệu của TCTK
Nhìn lại hệ số ICOR, thì hệ số ICOR của nước ta đang ở mức rất cao Cụ thể, ICOR của việt Nam đạt 5,73 vào năm 2010, sau đó có sự tăng mạnh nhất lên mức 6,66 vào năm 2012 Từ năm 2013 đến nay thì ICOR của nước ta đang có xu hướng giảm nhẹ, xuống còn 4,62 năm 2015, tức là ứng với 1 đồng GDP thì Việt Nam cần đến 4,62 đồng vốn đầu tư ( có thể xem là một tín hiệu tích cực về đầu tư )
Theo khuyến cáo của các nước phát triển thì hệ số ICOR của các nước đang phát triển nên từ 3,00 đến 4,00 nghĩa là có hiệu quả trong việc sử dụng vốnđầu tư, ICOR của Việt Nam luôn ở mức cao hơn so với khuyến cáo của các nước phát triển nghĩa là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Việt Nam là thấp , biểu hiện của sự lãng phí trong đầu tư
So với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của Việt Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao Lí giải cho hiện tưởng này làViệt Nam đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng cơ sở, bao gồm cả hạ tầng cơ sở ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội Nhưng mặt chủ quan vẫn là cơ chế quản lý đầu tư xây dựng lỏng lẻo, lãng phí nghiêm trọng, quy hoạch đầu chưa hợp lý
2.2.3 Thực trạng đầu tư tác đ ng tới chất lượng tăng trưởng kinh tế thông qua hệ số ICOR
2.2.3.1 Hệ số ICOR qua các năm tác động tới tăng trưởng Việt Nam
Hình 4: Hệ số ICOR và tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 - 2015
38
Trang 39Qua bảng trên ta thấy, khi hệ số ICOR tăng cao thì tốc độ tăng trưởng GDP sẽ giảm xuống Như năm 2012, ICOR là 6,66 và tăng trưởng là 5,03%; năm
2015 ICOR là 4,62 thì tăng trưởng đạt mức 6,68% một năm ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp dẫn đến tăng trưởng kinh tế sẽ không cao
Hệ số ICOR giai đoạn 2010-2015 là 5,61, tức là để có 1 đồng tăng trưởng cần 5,61 đồng vốn đầu tư Hệ số này đã có xu hướng giảm so với giai đoạn 2006-2010 (6,96) Cũng rất đáng ghi nhận khi trong bối cảnh tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP giảm mạnh (còn khoảng 32,6% GDP vào năm 2015) thì tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức hợp lý Nhưng hệ số ICOR này vẫn cao hơn các nước trong khu vực và một số nước trong giai đoạn pháttriển Nếu như giai đoạn 2011 - 2014, ICOR của Việt Nam là 6,92 thì của Indonesia chỉ là 3,86; Philippines là 4; Malaysia là 5,1 Thậm chí, ICOR của Việt Nam còn cao gấp hơn 2,5 lần Lào, nền kinh tế “được coi là” kém phát triển hơn (giai đoạn 2011 - 2014, ICOR của Lào chỉ có 4,2) Không có nước nào có
hệ số ICOR cao như Việt Nam, điều này chứng tỏ rằng nền kinh tế Việt Nam thiếu hiệu quả, năng suất rất thấp Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kết quả tăng trưởng càng cao, nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và tính chất của công nghệ sản xuất Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế Với quá trình hội nhập kinh tế thế giới nhanh như hiện tại, điều này làm giảm lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế cũng như gia tăng khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia khác, xuất hiện nguy cơ càng tụt hậu về kinh tế, kĩ thuật,…dẫn đến tăng trưởng kinh tế không được cao
Bảng 1: Trung bình chỉ số ICOR của một số nước Châu Á, 2011, 2015
Nguồn: Tính toán dựa trên IMF
So sánh với các nước trong khu vực, chỉ số ICOR của Việt Nam tính trung bình trong giai đoạn từ năm 2011 - 2015 chỉ tương đương với Malaysia, cao hơn Myanmar, Philippines và đặc biệt là cao hơn so với Campuchia Nếu theo số liệu này, trung bình trong giai đoạn 5 năm từ 2011 -
2015, Việt Nam cần đầu tư thêm 4.57 đồng để thu về thêm 1 đồng sản lượng thì Campuchia chỉ cần đầu tư 3.21 đồng, thấp hơn gần 30%
Hệ số ICOR giai đoạn này tuy đã giảm so với giai đoạn trước ( giai đoạn 2006-2010 là 6,96) nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của World Bank: đối với một nước đang phát triển, hệ số ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững So sánh với các nước trong khu vực, ICOR của Việt Nam gần gấp đôi, có nghĩa là hiệu suất đầu tư chỉ bằng một nửa
Bảng 2: So sánh ICOR của một số nước phát triển (1970-1984)
Trang 40Trung bình của nhóm tăng trưởng cao 3,6
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 7_2009
Từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5,1, đã có những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam Tuy nhiên, ICOR của Việt Nam năm 2010 đến năm 2012 liên tục tăng qua các các năm (từ 5,73 đến 6,66), chứng tỏ hiệu quả đầu tư không những thấp mà còn sụt giảm ICOR năm 2012 cao gấp 1,16 lần năm 2010 Đồng thời, năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 5,03%, đây là năm có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây (Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm 2000: 34,2%; 2001: 35,4%; 2002: 37,4%; 2003: 39,0%; 2004: 40,7%; 2005: 40,9%; 2006: 41,5%; 2007: 46,5%; 2008: 41,5%; 2009: 42,7%; 2010: 41,9%; 2011: 36,4%.) ICOR cao và tăng, hiệu quả đầu tư thấp và giảm là một trong những yếu tố tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát cao, lặp đi lặp lại, là nguyên nhân quan trọng gây bội chi ngân sách, làm tăng nợ công, tăng nhập siêu…
Song hiệu quả đầu tư thể hiện qua chỉ số ICOR đã có nhiều cải thiện Năm 2012 chỉ số ICOR là 6,6; năm 2013 là 5,6; năm 2014 là 5,2 và năm 2015 là 4,62 Chỉ số ICOR giảm cho thấy hiệu quả đầu tư của cả nền kinh tế đã có dấu hiệu được cải thiện Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa hồi phục lại tốc độ tăng trước khi nền kinh tế rơi vào khó khăn, vẫn chưa đạt được mức bình quân 7%/năm nhiều năm trước đồng thời các ngành kinh tế tăng trưởng cũng đang chậm lại, bình quân dưới 7%/năm Nhưng để đạt được 1% tăng trưởng chúng ta đã phải sử dụng mức vốn đầu tư ít hơn
Dù tăng trưởng kinh tế đã dần hồi phục, với tăng trưởng GDP đạt 6,68% trong năm 2015 - mức cao nhất kể từ năm 2008 đến nay, song hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) tiếp tục ở mức cao đang đặt ra nhiều vấn đề đối với chất lượng tăng trưởng và hiệu quả đầu tư tại Việt Nam
2.2.3.2 Hệ số ICOR theo khu vực kinh tế tác động tới tăng trường Việt Nam
Bảng 3: Tốc độ tăng GDP và tỷ lệ đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Nguồn: Dữ liệu từ Tổng cục Thống kê
Hình 5: ICOR theo khu vực 2010-2015
5.67
1.46
10.67 4.80
5.70 2.82
2.98
1.40
4.47
16.64 2.22
2.07
1.17
ICOR theo khu vực năm 2010-2015
Khu vực Nhà nước Khu vực ngoài Nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn: Nhóm tự tính toán dựa vào dữ liệu TCTK
ICOR trung bình của khu vực Nhà nước giai đoạn 2010-2015 là 4,51; khu vực ngoài Nhà nước là 4,73 và khu vực FDI là 4,66 Lâu nay hầu hết các nhà kinh tế đều nói đến thành phần kinh tế nhà nước hiệu quả kém nhất, nhưng qua tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy khu vực ngoài nhà nước mới là khu vực hiệu quả nhất giai đoạn 2010-2015
Khu vực có vốnđầu tư nướcngoài
Khu vực Nhànước
Khu vực ngoàiNhà nước
Khu vực có vốnđầu tư nướcngoài