Tuy kỹ thuật số hóa đã được sử dụng từ năm 1950 nhưng điểm mới của giai đoạn này chính là các bản đồ được số hóa có thể liên kết với nhau để tạo ra một bức tranh tổng thể về tài nguyên t
Trang 1ĐỀ TÀI: ỨNG DỤNG GIS VÀ GPS HỖ TRỢ CÔNG TÁC QUAN TRẮC VÀ QUẢN
LÝ HỆ THỐNG THU GOM – TRUNG CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ Ở
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Trang 2MỤC LỤC
I Tổng quan 1
1.1 Giới thiệu về GIS 1
1.2 Những cột mốc trong lịch sử hình thành và phát triển công nghệ GIS 3
1.3 Các thành phần của GIS 4
1.4 Chức năng của GIS 4
1.5 Vai trò của hệ thống thông tin địa lý trong nghiên cứu môi trường 4
1.6 Tính cấp thiết 6
II Phương pháp nghiên cứu 7
2.1 Hiện trạng hệ thống thu gom và trung chuyển CTR ở thành phố Cần Thơ 7
2.2 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 9
2.3 Phương tiện nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp lấy số liệu 10
2.5 Phương pháp phân tích 11
III Kết quả và thảo luận 14
3.1 Hiện trạng hoạt động thu gom và trung chuyển CTR bằng xe kéo tay 14
3.2 Thu gom chất thải rắn 14
3.3 Trung chuyển chất thải rắn 17
IV Đề nghị và kết luận 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3MỤC LỤC HÌNH
Hình : 1 Qui trình thu gom chất thải rắn từ sinh hoạt ở thành phố Cần Thơ 8
Hình: 2 Các phương tiện thu gom chất thải rắn tại thành phố Cần Thơ 9
Hình: 3 Bản đồ vị trí địa điểm nghiên cứu 10
Hình: 4 Ứng dụng thiết bị GPS trong quan trắc các hoạt động thu gom CTR 13
Hình: 5 Sự phân bố% thời gian hoạt động của một chuyến 14
Hình: 6 Thời gian, khoảng cách và vận tốc thu gom CTR của ba loại xe 15
Hình: 7 Thời gian thu gom 1 m 3 CTR của 3 loại xe giữa các chuyến trong tuần 16
Hình: 8 Khoảng cách thu gom 1 m3 CTR của 3 loại xe giữa các chuyến trong tuần 17
Hình: 9 Biểu đồ thời gian chờ đợi giữa các chuyến của 3 loại xe trong tuần 18
Trang 4I Tổng quan
1.1 Giới thiệu về GIS
GIS là từ viết tắt của cụm từ Geographical Information Systems
Giáo sư Roger Tomlinson vào năm 1963 đã khiến cả thế giới phải công nhận ông chính làcha đẻ của GIS
Quá trình phát triển xã hội loài người đã nảy sinh yêu cầu giao lưu giữa những ngườiđương thời với nhau và giữa người đời trước và người đời sau Những nội dung họ thôngtin với nhau là phi vật chất nhưng cần được thể hiện thông qua một hình thức nào đó nhưhình vẽ, mô hình, chữ viết
Việc sinh ra chữ viết là một bước ngoặt lớn của nhân loại về khả năng thông tin Bằngmột quyển sách nhỏ họ có thể miêu tả chi tiết một sự vật, một hiện tượng tự nhiên hay xãhội và lưu trữ lại cho các thế hệ sau này nhận thức lại Thế rồi thông tin chữ viết vẫn chưathoả mãn được nhu cầu ngày càng cao của quá trình trao đổi thông tin không gian nhất lànhiều thông tin trên một diện rộng thì việc biểu diễn bằng văn bản đã bộc lộ những yếuđiểm
Một hình thức thông tin khác đã ra đời, đó là bản đồ Người ta biểu diễn các thông tinkhông gian bằng cách thu nhỏ kích thước sự vật theo một tỉ lệ nào đó rồi vẽ lên mặtphẳng Để biểu diễn độ cao thấp thì dùng các dạng ký hiệu riêng (màu, ghi độ cao, đườngbình độ) Những thông tin biểu diễn các điểm tính chất của sự vật thì giải thích bằng chữ
và số kèm theo các sự vật được biểu diễn Sự có mặt của hệ thông tin bản đồ đã làm chonhiều ngành khoa học kĩ thuật phát triển thêm một bước dài, nhất là khoa học quân sự
Từ lâu bản đồ là một công cụ thông tin quen thuộc đối với loài người Trong quá trìnhphát triển kinh tế kĩ thuật, bản đồ luôn được cải tiến sao cho ngày càng đầy đủ thông tinhơn, ngày càng chính xác hơn Khi khối lượng thông tin quá lớn trên một đơn vị diện tíchbản đồ thì người ta tiến đến việc lập bản đồ chuyên đề Ở bản đồ chuyên đề, chỉ có nhữngthông tin theo một chuyên đề nào đó được biểu diễn Trên một đơn vị diện tích địa lí sẽ
có nhiều loại bản đồ chuyên đề: bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ địa chất, bản
đồ du lịch, bản đồ giao thông, bản đồ hiện trạng xây dựng
Trong những năm đầu thập kỉ 60 (1963-1964) các nhà khoa học ở Canada đã cho ra đời
hệ thông tin địa lý Hệ thống thông tin địa lý kế thừa mọi thành tựu trong ngành bản đồ cả
Trang 5về ý tưởng lẫn thành tựu của kỹ thuật bản đồ Hệ thông tin địa lý bắt đầu hoạt động cũngbằng việc thu thập dữ liệu theo định hướng tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra.
Bên cạnh Canada, nhiều trường đại học ở Mỹ cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựngHệthông tin địa lý Trong các Hệ thông tin địa lý được tạo ra cũng có rất nhiều hệ khôngtồn tại được lâu vì nó được thiết kế cồng kềnh mà giá thành lại cao Lúc đó người ta đặtlên hàng đầu việc khắc phục những khó khăn nảy sinh trong quá trình xử lý các số liệu đồhọa truyền thống Họ tập trung giải quyết vấn đề đưa bản đồ, hình dạng, hình ảnh, số liệuvào máy tính bằng phương pháp số để xử lý các dữ liệu này Tuy kỹ thuật số hóa đã được
sử dụng từ năm 1950 nhưng điểm mới của giai đoạn này chính là các bản đồ được số hóa
có thể liên kết với nhau để tạo ra một bức tranh tổng thể về tài nguyên thiên nhiên củamột khu vực Từ đó máy tính được sử dụng và phân tích các đặc trưng của các nguồn tàinguyên đó, cung cấp các thông tin bổ ích, kịp thời cho việc quy hoạch Việc hoàn thiệnmột Hệ thông tin địa lý còn phụ thuộc vào công nghệ phần cứng mà ở thời kỳ này cácmáy tính IBM 1401 còn chưa đủ mạnh Giai đoạn đầu những năm 60 của thế kỷ trướcđánh dấu sự ra đời của Hệ thông tin địa lý chủ yếu được phục vụ cho công tác điều traquản lý tài nguyên
Đến giữa thập kỷ 60 thì Hệ thông tin địa lý đã phát triển, có khả năng phục vụ công táckhai thác và quản lý đô thị như DIME của cơ quan kiểm toán Mỹ, GRDSR của cơ quanthống kê Canada, Năm 1968, Hội địa lý quốc tế đã quyết định thành lập Uỷ ban thuthập và xử lý dữ liệu địa lý Trong những năm 70 ở Bắc Mỹ đã có sự quan tâm nhiều hơnđến việc bảo vệ môi trường và phát triển Hệ thông tin địa lý Cũng trong khung cảnh đó,hàng loạt yếu tố đã thay đổi một cách thuận lợi cho sự phát triển của Hệ thông tin địa lý,đặc biệt là sự giảm giá thành cùng với sự tăng kích thước bộ nhớ, tăng tốc độ tính toáncủa máy tính Chính nhờ những thuận lợi này mà Hệ thông tin địa lý dần dần đượcthương mại hóa Đứng đầu trong lĩnh vực thương mại phải kể đến các cơ quan, công ty:ESRI, GIMNS, Intergraph Chính ở thời kỳ này đã xảy ra “loạn khuôn dạng dữ liệu” vàvấn đề phải nghiên cứu khả năng giao diện giữa các khuôn dạng Năm 1977 đã có 54 Hệthông tin địa lý khác nhau trên thế giới Bên cạnh Hệ thông tin địa lý, thời kỳ này cònphát triển mạnh mẽ các kỹ thuật xử lý ảnh viễn thám Một hướng nghiên cứu kết hợp Hệthông tin địa lý và viễn thám được đặt ra và cùng bắt đầu thực hiện
Thập kỷ 80 được đánh dấu bởi các nhu cầu sử dụng Hệ thông tin địa lý ngày càng tăngvới các quy mô khác nhau Người ta tiếp tục giải quyết những tồn tại của những nămtrước mà nổi lên là vấn đề số hóa dữ liệu: sai số, chuyển đổi khuôn dạng Thời kỳ này
có sự nhảy vọt về tốc độ tính toán, sự mềm dẻo trong việc xử lý dữ liệu không gian Thập
kỷ này được đánh dấu bởi sự nảy sinh các nhu cầu mới trong ứng dụng Hệ thông tin địa
lý như: Khảo sát thị trường, đánh giá khả thi các phương án quy hoạch, sử dụng tối ưu
Trang 6các nguồn tài nguyên, các bài toán giao thông, cấp thoát nước Có thể nói đây là thời kỳbùng nổ Hệ thông tin địa lý
Những năm đầu của thập kỷ 90 được đánh dấu bằng việc nghiên cứu sự hoà nhập giữaviễn thám và Hệ thống thông tin địa lý Các nước Bắc Mỹ và châu Âu gặt hái được nhiềuthành công trong lĩnh vực này Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng đã thành lậpđược nhiều trung tâm nghiên cứu viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý Rất nhiều hộithảo quốc tếvề ứng dụng viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý được tổ chức nhằm traođổi kinh nghiệm và thảo luận về khả năng phát triền các ứng dụng của công nghệ Hệthống thông tin địa lý
Hệ thông tin địa lý có thể được định nghĩa như là tập hợp các công cụ để thu thập, lưutrữ, chỉnh sửa, truy cập, phân tích và cập nhật các thông tin địa lý cho một mục đíchchuyên biệt
1.2 Những cột mốc trong lịch sử hình thành và phát triển công nghệ GIS
Dưới đây liệt kê vắn tắt những thời điểm, sự kiện lịch sử, tên tuổi các tổ chức và các nhàkhoa học đã có đóng góp quan trọng vào quá trình hình thành và phát triển của công nghệGIS
1963 – Phòng đồ họa vi tính của trường Đại học tổng hợp Harvard (R Fisher, J.Dangermond, D Sinton, N Chrisman, G Dutton, S Morehouse, T Peuker)
1963 – Thành lập Hiệp hội các hệ thống thông tin đô thị và khu vực (URISA)
1964 – Symap ra đời (Hệ thống phần mềm vẽ bản đồ cơ sở do Đại học tổng hợpHarvard xây dựng)
Giữa những năm 60 – Tổng cục Điều tra dân số của Mỹ xây dựng quy trình vẽ bản
đồ địa chính theo địa chỉ (D Cooke, M White xây dựng lý thuyết về quan hệkhông gian cho các dữ liệu địa lý)
1967 – GIS Canađa ra đời (R Tomlinson là tác giả của thuật ngữ GIS)
1967 – Thành lập Cơ quan đo vẽ bản đồ thực nghiệm ở Anh (Boyle, Rhind)
1969 – Thành lập Intergraph và ESRI (Dangermond và Morehouse)
1973 – Các hội nghị về Hệ thống thông tin đô thị (URPIS) được tổ chức tạiÔxtrâylia dẫn đến sự thành lập của Tổ chức các hệ thống thông tin đô thị Ôxtrâylia(AURISA) năm 1975
1974 – Các hội nghị về AutoCarto được tổ chức
1973 – ODYSSEY (tiền thân của phần mềm GIS do Tổng hợp Harvard xây dựng)
ra đời
1978 – Hệ thống hiển thị thông tin nội địa Nhà Trắng (Mỹ) ra đời
Trang 7 Phần mềm: gồm 5 nhóm công cụ cơ bản ( công cụ nhập và biên tập dữ liệu, hệthống quản lý cơ sở dữ liệu, công cụ truy vấn và hiễn thị dữ liệu, công cụ phân tích
dữ liệu, hệ giao tiếp đồ họa với người sử dụng (GUI), có hai loại phần mềm( phầnmềm thương mại, phần mềm nguồn mở)
Dữ liệu: được xây dựng bởi chính người sử dụng hoặc thu thập từ các nguồn bênngoài, có hai loại dữ liệu chính được mô tả trong GIS( dữ liệu không gian, dữ liệuphi không gian)
Phương pháp và thủ tục: là công cụ dùng để điều hành GIS, là tập hợp kinhnghiệm của con người và là thành phần quan trọng không thể thiếu của GIS
Con người: thành phần này được ví như bộ nảo của GIS con người tham gia vàonhiều quá trình một cách trực tiếp hay gián tiếp, có hai nhóm người trongGIS( người sử dụng hệ thống, thao tác viên hệ thống)
1.4 Chức năng của GIS
Có 5 chức năng chính của GIS:
1.5 Vai trò của hệ thống thông tin địa lý trong nghiên cứu môi trường
Thế kỷ XX là thế kỷ của những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực tin học, điện tử và nghiêncứu vũ trụ Những tiến bộ đó đã thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành khoa học, trong
đó có địa lý và bản đồ học
Theo giáo sư khoa địa lý trường Đại học tổng hợp quốc gia Lômônôxốp của nước Nga,Berliant A.M, chuyên gia hàng đầu thế giới về hệ thống thông tin địa lý (GIS), GIS pháttriển như một sự nối tiếp phương pháp tiếp cận tổng hợp và hệ thống trong một môitrường thông tin địa lý GIS được đặc trưng bởi mức độ tự động hoá cao, dựa trên nềntảng các dữ liệu bản đồ đã được số hoá và dựa trên cơ sở tri thức, phương pháp tiếp cận
hệ thống trong biểu diễn và phân tích các hệ thống địa vật lý Dạng bản đồ đặc biệt nàyđặc trưng bởi tính tác vụ, đối thoại và sử dụng các phương tiện xây dựng, thiết kế bản đồ
Trang 8Đặc tính đầu tiên của GIS là tính đa phương án cho phép đánh giá nhiều khía cạnh khácnhau của tình huống và các giải pháp đa dạng Đặc tính tiếp theo của GIS là tính đa môitrường nhờ đó có thể kết hợp các biễu diễn văn bản, âm thanh và các ký hiệu Nhưng đặctính lớn nhất của công nghệ mới là chúng đưa chúng ta tới nhiều dạng biểu diễn mới: bản
đồ điện tử, các mô hình máy tính 3 chiều và mô hình động dạng phim…
Tầm quan trọng của công nghệ GIS được khẳng định trong phát biểu của tổng thống MỹBill Clinton Hệ thống thông tin địa lý đã trở thành một khâu đột phá trong bài toán hỗ trợcho sự phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường Cáccông nghệ hiện đại cho phép giải quyết một cách có hiệu quả bài toán thu nhận, truyền,phân tích, trực giác hoá các dữ liệu gắn kết không gian, thiết lập các dữ liệu bản đồ.Khi ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong công tác quản lý chất thải rắn (CTR) đô thị,thì dữ liệu quản lý trên giấy dưới dạng báo cáo, sơ đồ… trước đây từng bước được đưavào máy tính, với khả năng xử lý của công nghệ GIS, thông tin cung cấp cho lãnh đạo sẽnhanh chóng, trực quan và chính xác hơn rất nhiều so với cách quản lý và xử lý thủ côngtrên giấy Do đó sẽ tiết kiệm được kinh phí cho việc tìm kiếm và xử lý thông tin
Tình hình nghiên cứu và ứng dụng GIS quản lý CTR tại một số nước trên thế
kì chôn lấp đảm bảo rằng hiệu quả của phương pháp lựa chọn sẽ đạt được và dung tíchchứa là lớn nhất
GIS cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình quan trắc môi trường ở các bãichôn lấp đã đóng cửa Damian C Green, chuyên viên môi trường thuộc Đại họcSunderland trong bài báo “GIS và ứng dụng nó trong quản lý chất thải rắn tại nước Anh”
đã trình bày kinh nghiệm của nước Anh trong thiết kế, xây dựng các bãi chôn lấp chấtthải
Theo quan điểm của Senthil Shanmugan, tính cấp thiết cần ứng dụng GIS trong công tácquản lý chất thải rắn là:
- 80% thông tin được sử dụng liên quan tới quản lý CTR có liên quan tới dữ liệu khônggian
- Sự tích hợp thông tin từ những mức độ cần nền chung là GIS
- GIS là môi trường thuận lợi cho tích hợp một số lượng lớn thông tin Trong bài toánquản lý CTR số lượng thông tin này là rất lớn
- Bản đồ và các dữ liệu không gian không còn là sự quí hiếm nữa mà đã trở thành côngviệc hằng ngày
Trang 9- Rất nhiều dữ liệu liên quan tới CTR liên quan tới vị trí không gian nhưng vẫn chưađược ứng dụng vào GIS Không có sự cập nhập chính xác dữ liệu.
- Không thể xử lý bằng tay hay bằng công cụ không chuyên một khối lượng lớn dữ liệuliên quan tới CTR
- Một hệ thống ứng dụng GIS sẽ tạo cơ sở cho sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, sử dụng máymóc có hiệu quả và các phương tiện chuyên chở hiện đại
Từ đó các chuyên gia thành phố Bangalore Agenda, Ấn độ đã xây dựng dự án ứng dụngGIS trong công tác quản lý CTR sinh hoạt cho thành phố Bangalore Mục tiêu được đặt
ra cho dự án này là:
- Biến GIS thành công cụ giúp cho ra quyết định đầu tư vào cơ sở hạ tầng một cách thuậnlợi
- Quản lý tổng hợp và thống nhất hệ thống các vị trí đặt thùng rác theo các tuyến đường
- Tìm ra lộ trình ngắn nhất từ các điểm trung chuyển tới các bãi chôn lấp
- Tối ưu hóa sử dụng cơ sở hạ tầng dựa trên ứng dụng công nghệ GIS (tìm đường đi ngắnnhất)
- Giúp ra quyết định tối ưu hóa số lượng điểm thu gom và vận chuyển các thùng rác
- Tối ưu hóa sử dụng nhiên liệu trong hệ thống xe vận chuyển được sử dụng
- Tối ưu hóa sự chuyên chở thùng rác từ điểm thu gom đến bãi chôn lấp
1.6 Tính cấp thiết
Ô nhiễm môi trường là vấn đề nan giải của nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũngkhông ngoại lệ Trong những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trởnên trầm trọng và phổ biến dẫn tới suy thoái môi trường đất, nước, không khí, đặc biệt làtại các đô thị lớn lượng CTR – rác – ngày càng gia tăng cùng với tốc độ gia tăng dân sốvà
đô thị hóa Theo thống kê, tại thành phố Cần Thơ tổng lượng rác thải sinh ra khoảng 795tấn rác tươi/ngày vào năm 2006, năm 2007 tổng lượng rác thải sinh ra là 800 tấn ráctươi/ngày (Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ, 2008), năm 2008 con sốnày là 843 tấn rác tươi/ngày hay khoảng 310 ngàn tấn rác tươi/năm, chưa kể rác côngnghiệp, rác y tế và rác độc hại Nếu tính thành thể tích thì tương đương 1 triệu m3 ráctươi/năm, lượng rác này nếu đổ thành lớp nén chặt dày 0,5m thì phải cần 500 ngàn m2(SởTài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ, 2009) Trong khi đó Cần Thơ hiện nayhoàn toàn không có bãi rác đúng tiêu chuẩn, hay nhà máy xử lý rác hợp qui định Do đó,vấn đề quản lý CTR đã trở thành vấn đề bức xúc và cần được quan tâm đúng mức hơn.Theo Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ (2008) công tác giữ gìn vệ sinhmôi trường trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã và đang được thực hiện khá chặt chẽ Tuynhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần quan tâm giải quyết, đặc biệt là hệ thốngtrung chuyển CTR hiện nay Các xe thu gom (xe kéo tay) thực hiện thu gom CTR tại hộgia đình và trung chuyển tại các điểm hẹn trên đường, các xe này nối đuôi nhau chờ đợirất lâu tại điểm hẹn gây cản trở giao thông, rơi vãi nước rỉ, bốc mùi hôi…ảnh hưởngkhông tốt đến môi trường xung quanh Do đó, việc nghiên cứu đánh giá các hoạt động
Trang 10của hệ thống thu gom và trung chuyển hiện tại nhằm tìm ra cách khắc phục là việc làmcấp bách và rất cần thiết.
Ngày nay GIS được ứng dụng phổ biến trong việc quản lý và xử lý các vấn đề kinh tế, xãhội và môi trường (Trần Vĩnh Phước et al., 2003) Ví dụ như ứng dụng GIS/GPS trongquan trắc và quản lý chất thải rắn nhằm phân tích dựa trên vị trí các nguồn thải, chế độthủy văn, địa hình đất gió, đường xá,… để quy hoạch tuyến vận chuyển, nơi tập trung,nơi xử lý chất thải, Có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của GIStrong việc quản lý và qui hoạch các vấn đề liên quan quản lý và xử lý CTR đô thị Trong
số đó, Nguyễn Tiến Hoàng et al.(2010) đã nghiên cứu hai vấn đề: xây dựng cơ sở dữ liệuGIS về hệ thống thu gom CTR và ứng dụng GIS thử nghiệm sắp xếp lại hệ thống thùngrác hiện tại Đây là căn cứ quan trọng để thành phố tiến hành điều chỉnh quy hoạch mạnglưới thu gom CTR hợp lý Một nghiên cứu điển hình khác của Bruce Gordon Wilson vàJulie K Vincent (2007) cũng sử dụng thiết bị GPS thu thập dữ liệu và đánh giá hiệu quảhoạt động của trạm trung chuyển Trong nghiên cứu này tác giả ứng dụng GIS/GPS trongquan trắc và quản lý CTR nhằm đánh giá hiện trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thugom – trung chuyển CTR bằng xe kéo tay Mục tiêu của nghiên cứu này ứng dụng công
cụ GIS/GPS là để đánh giá các thông số thu gom một xe kéo tay (trên một đơn vị thể tíchhoặc một đơn vị khối lượng), cụ thể: thời gian, đoạn đường, vận tốc
Bên cạnh đó đánh giá các hoạt động thu gom CTR bằng xe kéo tay như:
a) Di chuyển từ bãi đậu xe đến nơi lấy CTR,
b) Di chuyển từ nơi thu gom CTR cuối cùng đến điểm hẹn,
c) Chờ đợi,
d) Đổ(trung chuyển) CTR,
e) Di chuyển của xe kéo tay ở mỗi chuyến hoặc cả ngày
Qua đó phân tích những khó khăn và thuận lợi của hệ thống hiện tại làm cơ sở chonhững nghiên cứu chuyên sâu trong tương lai
II Phương pháp nghiên cứu
2.1 Hiện trạng hệ thống thu gom và trung chuyển CTR ở thành phố Cần Thơ
Trước đây thành phố thu gom CTR vào ban ngày, nhưng theo kế hoạch hành động số 28ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2006 thì trên địa bàn quận Ninh Kiều chuyển sang thugom CTR ở quận vào ban đêm Việc thu gom CTR diễn ra định kỳ hàng ngày, bắt đầu lúc18:00 và kết thúc lúc 22:00 (riêng tuyến Nguyễn Văn Cừ nối dài, Trần Hoàng Na, TầmVu,… thu gom từ 8:00 – 15:00)
Trang 11Hình : 1 Qui trình thu gom chất thải rắn từ sinh hoạt ở thành phố Cần Thơ
Hình 1 mô tả qui trình thu gom CTR sinh hoạt ở thành phố Cần Thơ, CTR được các hộdân bỏ vào thùng chứa chuyên dụng hoặc thùng chứa tạm, túi nilong,… trước khi đổ vào
xe rác Hình thức thu gom là từng hộ gia đình, công nhân dùng xe kéo tay đến từng nhàthu gom CTR; sau khi thu gom đầy các xe kéo tay công nhân sẽ di chuyển các xe này đếnđiểm hẹn chờ trung chuyển sang các xe ép (xe tải); và cuối cùng CTR sẽ được vậnchuyển ra bãi rác Tân Long chôn lấp
Có 03 hình thức đổ rác từ hộ gia đình lên xe thu gom (xe kéo tay):
a) Người dân trữ rác trong nhà đợi khi công nhân thu gom đến và gõ kẻng thì họ
mang rác ra xe đổ,
b) Người dân vứt các thùng/túi rác trước cửa nhà và công nhân thu gom sẽ tự nhặt
bỏ vào xe,
c) Nhiều hộ gia đình cùng bỏ rác vào một vị trí chung gần nhà (như cột điện, đất
trống, ) và công nhân thu gom sẽ tự nhặt bỏ vào xe
Các phương tiện thu gom CTR chính hiện nay ở thành phố Cần Thơ bao gồm ba loại:a) Xe đẩy tay dung tích 660L – xe loại 1,
b) Xe kéo tay dung tích 1.000L – xe loại 2,
c) Xe kéo có gắn động cơ dung tích 1.000L – xe loại 3 (Hình 2)
Theo quan sát thực tế hiện nay tại Cần Thơ công nhân dùng xe kéo tay (hay xe đẩy tay)
để thu gom chất thải sinh hoạt từ các hộ dân có thiết kế không phù hợp (quá cũ, thànhcao) gây vất vả cho người thu gom Ngoài ra, quá trình thu gom và vận chuyển CTR rađiểm hẹn thường rơi vãi và rỉ nước rác xuống đường gây mất vệ sinh, mỹ quan và lây landịch bệnh tại các điểm hẹn trên đường phố
Hiện trạng trung chuyển CTR cũng có nhiều bất cập, các xe thu gom thực hiện trungchuyển tại các điểm hẹn trên đường, các xe này nối đuôi nhau chờ đợi rất lâu tại điểm