1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM

55 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Báo Cáo Tài Chính Công Ty Cổ Phần Dược Phẩm Imexpharm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Phân Tích Tài Chính
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Cao Lãnh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 484,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. Tổng quan về công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm (4)
  • B. Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm6 I. Phân tích kết quả kinh doanh (6)
    • 1. Đánh giá khái quát kết quả kinh doanh (6)
    • 2. Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính (17)
    • II. Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài sản (21)
      • 1. Phân tích khái quát cơ cấu tài sản và nguồn vốn (21)
      • 2. Phân tích tình hình biến động nguồn vốn và sử dụng vốn (23)
    • III. Phân tích cơ cấu tài chính năm 2009 thông qua vốn lưu động và nguồn tài trợ vốn lưu động (30)
    • IV. Phân tích chu kỳ kinh doanh (32)
    • V. Phân tích chu kỳ vốn lưu động (33)
    • VI. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ (35)
    • VII. Phân tích các hệ số tài chính (45)

Nội dung

Tổng quan về công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm

Công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1400384433, lần đầu vào ngày 01 tháng 08 năm 2001 Công ty đã thực hiện nhiều đăng ký thay đổi, với lần gần nhất vào ngày 06 tháng 07 năm 2009, do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Đồng Tháp cấp.

 Trụ sở đăng kí hoạt động kinh doanh: số 4, đường 30/04, phường 1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

 Vốn điều lệ theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh: 116.598.200.000 đồng.

 Sản xuất, mua bán, xuất nhập khẩu dược phẩm; thiết bị và dụng cụ y tế; nguyên liệu bao bì sản xuất thuốc.

Chúng tôi chuyên sản xuất, mua bán và xuất nhập khẩu các sản phẩm thuốc y học cổ truyền, mỹ phẩm, thực phẩm và thực phẩm chức năng Ngoài ra, chúng tôi cũng cung cấp các loại nước uống, bao gồm nước có cồn và nước có ga, cùng với các chất diệt khuẩn và khử trùng an toàn cho người tiêu dùng.

 Cung cấp các dịch vụ hệ thống kho bảo quản các loại thuốc, nguyên liệu làm thuốc.

 Nuôi trồng, chế biến và mua bán dược liệu.

 Kinh doanh ngành du lịch nghỉ dưỡng.

Công ty sở hữu hai nhà máy sản xuất chính tại Đồng Tháp, đạt tiêu chuẩn GMP - ASEAN, cùng với hệ thống kho đạt tiêu chuẩn GSP - ASEAN và phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn GLP - ASEAN Ngoài trụ sở chính, công ty còn có chi nhánh tại TP.HCM với kho bảo quản lớn nhất, cùng văn phòng đại diện tại TP.HCM và các chi nhánh ở Hà Nội, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang.

 Imexpharm là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất nhượng quyền. Hiện tại, Công ty được cấp phép sản xuất gần 200 sản phẩm trong đó trên

Công ty sở hữu 30 sản phẩm nhượng quyền từ các tập đoàn lớn như Sandoz, Union Pharma, Dp Pharma và Innotech (Pháp), chủ yếu tập trung vào các nhóm hạ sốt giảm đau, kháng sinh, vitamin và thực phẩm chức năng Doanh thu từ hoạt động sản xuất chiếm trên 95%, đóng góp 100% lợi nhuận, trong khi doanh thu từ phân phối thuốc không đáng kể Nguyên liệu chủ yếu được nhập từ các nhà sản xuất dược lớn như Sandoz, Roche, và Fyse, chiếm khoảng 40% giá thành sản phẩm Thị trường tiêu thụ chủ yếu nằm ở miền Nam, với Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 50%, TP.HCM 25%, và miền Trung 15% Sản phẩm được phân phối qua hệ thống đại lý nhà thuốc, bệnh viện và công ty phân phối dược địa phương Với doanh thu hàng năm khoảng 350 tỷ đồng, công ty chiếm 3% thị phần dược Việt Nam và nằm trong top 5 công ty có doanh thu sản xuất dược lớn nhất nước.

Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm6 I Phân tích kết quả kinh doanh

Đánh giá khái quát kết quả kinh doanh

BẢNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐVT: Triệu đồng

Căn cứ vào số liệu trên bảng phân tích, ta nhận thấy: a Doanh thu thuần từ việc bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu và doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng của công ty đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây Cụ thể, năm 2007, doanh thu thuần đạt 451,602 triệu đồng, và đến năm 2008, con số này đã tăng lên 561,844 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 24,41% Đến năm 2009, doanh thu tiếp tục tăng lên 660,076 triệu đồng, ghi nhận mức tăng 17,48% so với năm trước Sự phát triển này cho thấy triển vọng tích cực trong hoạt động kinh doanh của công ty.

Từ năm 2007 đến 2009, doanh thu của công ty tăng trưởng ổn định, cho thấy hoạt động tiêu thụ và sản xuất diễn ra thuận lợi, cải thiện vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp trong cùng ngành đạt khoảng 14%, khẳng định vị trí của Imexpharm Mặc dù doanh thu tăng đã dẫn đến sự gia tăng các khoản phải thu, công ty vẫn duy trì được tình hình tài chính ổn định với tiền và các khoản tương đương tiền tăng lên trong năm Điều này góp phần tạo ra sự tăng trưởng và phát triển bền vững cho doanh nghiệp.

 So với Dược Hậu Giang và Domesco thì Imexpharm là một trong những công ty có giá trị doanh thu ở mức thấp Năm 2007, doanh thu thấp hơn

Năm 2006, công ty cùng với 5 đơn vị khác trong ngành dược tham gia chương trình thuốc quốc gia do chính phủ lựa chọn, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật sản xuất Sự sụt giảm doanh thu trong năm 2007 được cho là do nguyên nhân khách quan Tuy nhiên, vào năm 2008, doanh thu tăng trưởng mạnh mẽ với mức 24,41%, nhờ vào sự gia tăng doanh số sản xuất và bán hàng, cũng như việc mở rộng mạng lưới bán hàng ở miền Bắc và miền Trung Xu hướng tăng trưởng doanh thu của Imexpharm phản ánh tình hình chung của ngành dược, mặc dù năm 2009, doanh thu có tăng nhưng tốc độ tăng trưởng lại thấp hơn so với trước đó.

Năm 2008, các doanh nghiệp cần tập trung vào việc cải tiến hàm lượng khoa học kỹ thuật trong sản phẩm để duy trì tăng trưởng doanh thu và giành lại thị phần, đặc biệt khi thị trường đang bị chiếm lĩnh bởi dược phẩm ngoại giá cao.

Giá vốn hàng bán năm 2008 tăng 23,68% so với năm 2007, đạt 319.809 triệu đồng, nhưng tốc độ tăng này vẫn thấp hơn so với doanh thu (24,41%), dẫn đến giá vốn trên mỗi 100 đồng doanh thu năm 2008 thấp hơn 0,34 đồng so với năm 2007 Nguyên nhân là do giá nguyên vật liệu biến động mạnh, cùng với khó khăn về lạm phát và tỷ giá từ các nước xuất khẩu chính như Trung Quốc và Ấn Độ Dù vậy, Imexpharm duy trì được kim ngạch nhập khẩu nguyên vật liệu ổn định nhờ vào chiến lược tập trung sản xuất các sản phẩm có lợi nhuận và tạm dừng sản xuất các sản phẩm không đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tăng lợi nhuận cho công ty.

Năm 2009, doanh nghiệp đã quản lý hiệu quả chi phí, dẫn đến việc tốc độ tăng giá vốn hàng bán chỉ đạt 14,64%, thấp hơn so với mức tăng doanh thu Điều này đã góp phần làm tăng lợi nhuận gộp từ hoạt động kinh doanh.

Từ năm 2007 đến 2009, công ty ghi nhận sự tăng trưởng liên tục về lợi nhuận gộp Cụ thể, lợi nhuận gộp năm 2007 đạt 193.030 triệu đồng, tăng lên 242.035 triệu đồng vào năm 2008, tương ứng với mức tăng 25,39% Sự gia tăng này chủ yếu nhờ vào tốc độ tăng giá vốn hàng bán thấp hơn so với tốc độ tăng doanh thu.

2007, với 100 đồng doanh thu thì công ty chỉ thu được 42,74 đồng lợi nhuận gộp nhưng đến năm 2008 thì 100 đồng doanh thu công ty thu được 43,08 đồng lợi nhuận gộp.

Năm 2009, lợi nhuận gộp đạt 293.433 triệu đồng, tăng 21,24% so với năm 2008 Mỗi 100 đồng doanh thu, doanh nghiệp tạo ra 44,45 đồng lợi nhuận gộp, tăng 1,37 đồng so với năm trước.

Giữa giai đoạn 2007 đến 2009, doanh số của công ty đã tăng trưởng đáng kể, điều này đã dẫn đến sự gia tăng tương ứng trong chi phí bán hàng của công ty trong những năm này.

2007 công ty phải chịu chi phí bán hàng là 113.380 triệu đồng, đến năm

Năm 2008, chi phí bán hàng đạt 145.012 triệu đồng, tăng 27,9% so với năm trước Tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu cho thấy, công ty phải chi 25,81 đồng cho mỗi 100 đồng doanh thu, tăng từ 25,11 đồng trong năm 2007 Sự gia tăng này có thể được giải thích do công ty mở rộng mạng lưới tiêu thụ ra miền Trung và miền Bắc, dẫn đến nhu cầu tăng cường quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi và vận chuyển hàng hóa Vì vậy, việc tăng chi phí bán hàng trong năm 2008 là hợp lý.

Năm 2009, chi phí bán hàng của công ty tăng lên 181.877 triệu đồng, tăng 25,42% so với năm 2008, với 27,55 đồng chi phí cho mỗi 100 đồng doanh thu, tăng 1,74 đồng so với năm trước Sự gia tăng này đã ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận bán hàng do áp lực cạnh tranh buộc công ty phải đầu tư nhiều hơn vào quảng cáo, khuyến mãi và hoa hồng cho đại lý Ngoài ra, việc mở rộng thị trường cho các sản phẩm hiện có cũng là yếu tố chính dẫn đến sự tăng cao của chi phí bán hàng.

Chi phí quản lý của công ty đã tăng liên tục trong ba năm, với mức tăng 13,86% vào năm 2008 và 20,01% vào năm 2009 Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí quản lý trên doanh thu năm 2008 lại thấp hơn so với năm 2007, giảm từ 4,86 đồng xuống 4,44 đồng cho mỗi 100 đồng doanh thu Sự gia tăng chi phí này chủ yếu do chiến lược mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, với các khoản chi cho đào tạo, hội nghị khoa học và tư vấn tăng lên trong năm 2007 Đến năm 2008, nhờ tái cấu trúc, công ty đã ổn định và giảm chi phí thuê chuyên gia, đồng thời tiết kiệm chi phí đào tạo thông qua chương trình phù hợp với nhu cầu phát triển Do đó, mặc dù chi phí quản lý doanh nghiệp tăng có thể làm giảm lợi nhuận tạm thời, nhưng đây là kết quả tất yếu của chiến lược mở rộng quy mô, góp phần tăng giá trị công ty trong tương lai.

Trong năm 2009, chi phí quản lý doanh nghiệp đã tăng 20,01%, vượt qua tỷ lệ tăng doanh thu, dẫn đến chỉ tiêu chi phí quản lý trên 100 đồng doanh thu tăng từ 4,44 đồng năm 2008 lên 4,54 đồng Sự gia tăng này đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Qua bảng trên ta có thể thấy được lợi nhuận kinh doanh chính của công ty tăng liên tục với tốc độ tăng cao

Năm 2008, lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính đạt 72.054 triệu đồng, tăng 24,83% so với năm 2007 Sang năm 2009, lợi nhuận kinh doanh chính tiếp tục tăng 13,24%, đạt 81.591 triệu đồng Tuy nhiên, sự tăng trưởng doanh thu chỉ giúp công ty gia tăng lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong năm 2008, mà không tương ứng với tỷ lệ tăng doanh thu vào năm 2009.

 Nếu xét trên 100 đồng doanh thu thì lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chính đóng góp năm 2007 là 12,78 đồng; năm 2008 là 12,82 đồng; và năm

Năm 2009, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu giảm, cho thấy lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính tăng chậm hơn doanh thu thuần Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp gia tăng Nếu công ty chấp nhận tăng chi phí để mở rộng thị trường nhằm cải thiện vị thế, thì kết quả này có thể được xem là hợp lý.

 Nhìn vào bảng phân tích trên ta có thể thấy được tăng trưởng rõ rệt trong chỉ tiêu doanh thu từ hoạt động tài chính trong 2 năm 2007 và 2008 Năm

Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính

BẢNG PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHÍNH ĐVT: Triệu đồng

Số tiền %/DTT của DTT của HQ

Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy rằng:

Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm và cung ứng dịch vụ năm 2009 đã tăng 9.537 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 13,24% so với năm 2008 Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính trên doanh thu năm 2009 giảm 0,46 đồng, từ 12,82 đồng xuống còn 12,36 đồng cho mỗi 100 đồng doanh thu Điều này cho thấy công ty chưa sử dụng hiệu quả chi phí, dẫn đến sự giảm lợi nhuận Mặc dù vậy, lợi nhuận kinh doanh chính của công ty vẫn tăng chủ yếu nhờ vào việc gia tăng quy mô tiêu thụ sản phẩm.

 Phân tích các nhân tố tác động đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính trong năm 2009

 Tác động của doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ

Dựa trên phân tích, chúng ta có thể xác định công thức để đo lường mức độ ảnh hưởng của doanh thu đối với lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính.

Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính phụ thuộc vào biến động của doanh thu thuần, trong khi tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu giữ nguyên ở mức kỳ gốc Khi áp dụng công thức tính toán, chúng ta có thể xác định sự ảnh hưởng của doanh thu thuần đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính.

Năm 2009, công ty ghi nhận rằng với mỗi 100 đồng doanh thu bán hàng, 55.55 đồng được dùng để chi trả giá vốn hàng bán, để lại 44.45 đồng lãi gộp Sau khi trừ các chi phí cho hoạt động bán hàng và quản lý, công ty còn 12.36 đồng để chi cho các khoản khác như lãi vay và thuế, phản ánh tỷ suất lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính trên doanh thu.

Doanh thu bán hàng năm 2009 đạt 98.232 triệu đồng, và nếu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu không thay đổi so với năm 2008, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính sẽ tăng lên 12.598 triệu đồng.

 Tác động của tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu

Tương tự, ta cũng có phương trình xác định mức độ ảnh hưởng của %LNG đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính của IMP như sau:

Năm 2009, do giá vốn hàng bán giảm, tỷ lệ lãi gộp của công ty đã tăng lên 1,38%, có nghĩa là mỗi 100 đồng doanh thu bán hàng, công ty đạt được lợi nhuận gộp tương ứng.

2009 sẽ tăng thêm 1,38 đồng Như vậy, trong điều kiện doanh thu thuần năm 2009 đạt mức 660.076 triệu đồng thì lợi nhuận gộp tăng thêm là 9.081 đồng.

 Tác động của tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu

Năm 2009, tỷ lệ chi phí bán hàng trên doanh thu của công ty IMP là 27,55%, tương đương với việc công ty phải chi 27,55 đồng cho hoạt động bán hàng trên mỗi 100 đồng doanh thu, tăng 1,74 đồng so với năm 2008 Với doanh thu đạt 660.076 triệu đồng, tổng chi phí bán hàng tăng thêm 11.511 triệu đồng, dẫn đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính của công ty giảm 11.511 triệu đồng.

 Tác động của tỷ lệ chi phí quản lý doanh nghiệp trên doanh thu

Phương trình xác định mức độ ảnh hưởng của tỷ suất chi phí quản lý doanh nghiệp:

Năm 2009, công ty IMP chi 4,54 đồng cho hoạt động quản lý doanh nghiệp trên mỗi 100 đồng doanh thu, tăng 0,1 đồng so với năm 2008 Với giá trị hàng bán đạt 660.076 triệu đồng, công ty đã chi 630 triệu đồng cho chi phí quản lý doanh nghiệp, dẫn đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính giảm 630 triệu đồng.

Tổng hợp tác động của các nhân tố

Tác động do doanh thu bán hàng tăng: 12.598

Tác động do % lãi gộp tăng thêm 9.081

Tác động do % chi phí bán hàng tăng (11.511)

Tác động do % chi phí quản lý doanh nghiệp tăng (630) Tác động tổng hợp lên lợi nhuận HĐKD chính: 9.538 Nhận xét:

Năm 2009, doanh thu bán hàng của IMP đạt 98.232 triệu đồng, với lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính dự kiến tăng 12.598 triệu đồng nếu tỷ lệ sinh lời giữ nguyên Tuy nhiên, nhờ kiểm soát tốt giá vốn hàng bán, tỷ lệ lãi gộp tăng, giúp lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính tăng thêm 9.081 triệu đồng Mặc dù vậy, chiến lược mở rộng thị trường đã làm chi phí bán hàng tăng nhanh hơn doanh thu, dẫn đến lợi nhuận giảm 11.511 triệu đồng Cuối cùng, chi phí quản lý trên 100 đồng doanh thu tăng khiến công ty giảm 630 triệu đồng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh chính.

Công ty Imexpharm đã thực hiện chiến lược kinh doanh hiệu quả, với lợi nhuận từ hoạt động chính tăng ổn định trong năm 2009, điều này được đánh giá tích cực Mặc dù chi phí bán hàng có tăng trong năm nay, nhưng đây chỉ là sự gia tăng tạm thời do công ty đang mở rộng sản xuất và cần tăng cường quảng cáo, tiếp thị Điều này không phải là kết quả xấu Hy vọng rằng trong những năm tới, việc mở rộng thị trường và tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ giúp lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính của công ty đạt mức cao hơn.

Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài sản

1 PHÂN TÍCH KHÁI QUÁT CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN

CHỈ TIÊU TỶ TRỌNG SO SÁNH

2 Đầu tư tài chính ngắn hạn 27.32% 4.31% 1.75% -23.01% -2.56%

5 Tài sản ngắn hạn khác 1.93% 1.09% 1.03% -0.84% -0.06%

2 Đầu tư tài chính dài hạn 4.06% 6.57% 2.44% 2.51% -4.13%

3 Tài sản dài hạn khác 5.47% 4.54% 1.95% -0.93% -2.59%

2 Nguồn kinh phí và quỹ khác 0.46% 0.55% 0.76% 0.09% 0.21%

Qua bảng phân tích trên ta thấy trong cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn năm

2008 chiếm tỷ trọng là 66,76% giảm 15,91% so với năm 2007, năm 2009 là

Tài sản ngắn hạn năm 2008 giảm 5,31% so với năm trước, chiếm 72,07% tổng tài sản Nguyên nhân chủ yếu là do sự suy giảm của các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, mặc dù tiền và các tài sản ngắn hạn khác có tăng nhưng không đủ bù đắp cho sự sụt giảm này Hệ quả là tỷ trọng tài sản ngắn hạn giảm đã dẫn đến sự gia tăng tỷ trọng tài sản dài hạn, chủ yếu nhờ vào sự gia tăng đầu tư vào tài sản cố định của công ty.

Vào năm 2009, sự gia tăng tài sản ngắn hạn trong cơ cấu tài sản chủ yếu là do công ty tăng cường các khoản phải thu và dự trữ tồn kho Đồng thời, tỷ trọng tài sản dài hạn giảm 8,02% do công ty giảm các khoản đầu tư tài chính dài hạn cũng như đầu tư vào tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác Sự thay đổi này trong cơ cấu tài sản được đánh giá là hợp lý và hiệu quả.

Tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn của công ty đã tăng từ 12,47% vào đầu năm 2007 lên 25,73% vào cuối năm 2009 Sự gia tăng này chủ yếu do công ty đã mở rộng nợ vay ngắn hạn và dài hạn, trong đó nợ ngắn hạn đáp ứng nhu cầu vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn Điều này dẫn đến sự giảm sút của nguồn vốn dài hạn, đặc biệt là vốn chủ sở hữu, giảm 12,43% so với năm 2008.

Từ năm 2007 đến 2009, tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong cơ cấu tài sản của công ty có xu hướng tăng, nhờ vào việc gia tăng các khoản phải thu, giúp doanh nghiệp bán chịu nhiều hơn và thu hút khách hàng, từ đó tăng doanh số Việc cắt giảm đầu tư tài chính dài hạn cũng đã tạo ra nguồn tiền cho các hoạt động khác Tuy nhiên, việc tăng nợ vay để cải thiện nguồn vốn ngắn hạn có thể tạo ra rủi ro tài chính và thanh toán, yêu cầu công ty phải sử dụng nợ vay một cách hiệu quả Đồng thời, giảm vốn chủ sở hữu đã làm cho cơ cấu vốn của công ty trở nên kém an toàn hơn.

2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG NGUỒN VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN

SỬ DỤNG VỐN Số tiền Tỷ trọng NGUỒN VỐN Số tiền Tỷ trọng

2 HTK 10.188 5,47% 2 DP giảm giá CKĐT 4,138 2,22%

3 DP giảm giá HTK 249 0,13% 3 CKPT 9,551 5,13%

4 TSCĐ 87.616 47,03% 4 DP Pthu khó đòi 184 0,10%

II Giảm NV 6.913 3,71% II Tăng NV 34,899 18,73%

3 Ngồn kinh phí 554 0,30% 3 Vay DH 1.231 0,66%

Căn cứ vào bảng phân tích trên ta nhận thấy:

Năm 2008, tổng giá trị sử dụng vốn của công ty đạt 186.304 triệu đồng, chủ yếu được đầu tư vào tài sản với 179.391 triệu đồng, chiếm 96,29% Phần còn lại, 3,71%, được sử dụng để giảm bớt vốn chủ sở hữu.

 Cụ thể các mục đích sử dụng vốn trong năm 2008 như sau:

- Doanh nghiệp gia tăng đầu tư tài sản cố định 87.616 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 47,03%.

- Tăng tiền và các khoản tương đương tiền 61.636 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 33.08%.

- Tăng đầu tư tài chính dài hạn 19.702 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 10.58%.

- Ngoài ra doanh nghiệp còn tăng mức dự trữ hàng tồn kho và dự phòng giảm giá hàng tồn kho 10.437 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,6 %.

Vào năm 2008, công ty chủ yếu sử dụng vốn để đầu tư vào tài sản cố định, qua đó nâng cao năng lực sản xuất Đầu tư vào máy móc và trang thiết bị hiện đại đã cải thiện năng suất lao động, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô tiêu thụ sản phẩm Kết quả là doanh thu của công ty đã tăng lên trong năm này Đồng thời, tiền thu vào cũng cao hơn chi ra nhờ việc tăng tiền gửi có kỳ hạn dưới 3 tháng, dẫn đến sự gia tăng 33,08% trong dòng tiền.

Để tài trợ cho việc sử dụng vốn năm 2008, công ty đã giảm tài sản 151.405 triệu đồng, từ đó tài trợ được 81,27% cho nhu cầu vốn Phần còn lại 18,73% được hỗ trợ từ việc gia tăng các quỹ, phải trả người bán, vay dài hạn và nguồn vốn khác từ chủ sở hữu.

 Cụ thể các nguồn vốn được tạo ra để tài trợ cho việc sử dụng vốn trong năn

Nguồn vốn chủ yếu được tạo ra để tài trợ cho việc sử dụng vốn, với việc giảm bớt đầu tư tài chính ngắn hạn đạt 125.450 triệu đồng, đáp ứng 67,34% nhu cầu sử dụng vốn trong năm.

- Giảm các khoản phải thu 9.551 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,13%.

- Giảm đầu tư vào tài sản ngắn hạn khác và tài sản dài hạn khác 8.487 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 4,55%.

- Doanh nghiệp gia tăng quỹ đầu tư phát triển 23.535 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 12,63%.

- Gia tăng các khoản phải trả người bán 7.581 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 4,07%.

Nguồn vốn chủ yếu được tạo ra để tài trợ cho việc giảm đầu tư tài chính ngắn hạn, giúp doanh nghiệp có thêm tiền cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn Cụ thể, công ty đã rút tiền gửi ngắn hạn để đầu tư vào dự án nhà máy Cephalosporin Bình Dương, mua đất cho văn phòng và xây dựng kho, cũng như chi nhánh tại các khu vực khác nhằm mở rộng hệ thống phân phối Việc tăng quỹ đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra thuận lợi hơn.

Nguồn vốn được tạo ra chủ yếu là từ bên trong chiếm tỷ trọng 81,27%.

Trong năm 2008, tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh, cùng với sự gia tăng của nguồn vốn dài hạn để hỗ trợ cho tài sản dài hạn Tuy nhiên, mức tăng này không đủ, dẫn đến việc phần còn lại của tài sản dài hạn phải được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, làm giảm độ an toàn của cơ cấu vốn công ty.

SỬ DỤNG VỐN Số tiền Tỷ trọng NGUỒN VỐN Số tiền Tỷ trọng

I Tăng tài sản 162,267 92.02% I Giảm tài sản 27,208 15.43%

II Giảm NV 14,067 7.98% II Tăng NV 149,126 84.57%

Năm 2009, tổng vốn sử dụng của công ty đạt 176.334 triệu đồng, trong đó tài sản tăng lên 162.267 triệu đồng, chiếm 92.02%, trong khi phần còn lại 7.98% là do giảm nguồn vốn.

 Cụ thể các mục đích sử dụng vốn trong năm 2009 như sau:

Mục đích sử dụng vốn trong năm của công ty là gia tăng các khoản phải thu, với mức tăng 69.031 triệu (39,15%), cho thấy công ty đã áp dụng chính sách bán chịu nhiều hơn Chính sách này giúp mở rộng thị trường và doanh số, đồng thời củng cố niềm tin giữa đại lý và công ty Tuy nhiên, việc bán chịu cũng có thể dẫn đến thiếu vốn và giảm năng lực chi trả nếu quản lý nợ không hiệu quả, gây gánh nặng cho công ty khi khách hàng không thanh toán Do đó, công ty cần quản lý chặt chẽ các khoản nợ và thiết lập dự phòng hợp lý cho các khoản nợ.

Hàng tồn kho đã tăng lên 47.666 triệu, chiếm 27.03% tổng tài sản, chủ yếu do nguyên liệu và vật liệu gia tăng Trong khi đó, thành phẩm tồn kho chỉ tăng nhẹ hoặc giảm, cho thấy sự gia tăng hàng tồn kho không phải do hàng không bán được mà là do công ty chuẩn bị cho quy trình sản xuất mới với khối lượng lớn hơn Sự tăng trưởng này phản ánh nhu cầu thị trường tăng lên, điều này là tín hiệu tích cực cho công ty.

Công ty đã tăng 24.160 triệu đồng tiền và các khoản tương đương tiền so với năm 2008, chiếm 13.7% tổng tài sản Sự gia tăng này cải thiện tính thanh khoản, đảm bảo khả năng chi trả và giảm thiểu rủi ro Mặc dù lượng tiền lớn có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, mức tăng 13.7% không quá lớn, do đó ít tác động đến lợi nhuận của công ty Việc sử dụng vốn như vậy là hiệu quả.

Tài sản cố định của công ty đã tăng 20.361 triệu đồng, chiếm 11.55% tổng tài sản, chủ yếu nhờ vào việc mua sắm thiết bị máy móc và gia tăng quyền sử dụng đất Việc đầu tư vào máy móc hiện đại không chỉ nâng cao năng suất sản xuất mà còn giúp công ty sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng hơn Điều này góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh so với các đối thủ trong ngành, từ đó cải thiện vị thế và năng lực của công ty trên thị trường.

Phân tích cơ cấu tài chính năm 2009 thông qua vốn lưu động và nguồn tài trợ vốn lưu động

LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN TÀI TRỢ VỐN LƯU ĐỘNG

Bảng 1: Phân tích Vốn lưu động ( VLĐ)

Nhu cầu vốn lưu động năm 2009 đã tăng 57.042 triệu đồng, dẫn đến việc doanh nghiệp cần huy động thêm vốn để tài trợ cho tài sản lưu động Sự gia tăng này chủ yếu do công ty đã đầu tư mạnh vào tài sản ngắn hạn với mức tăng 129.007 triệu đồng Mặc dù các khoản phải trả ngắn hạn cũng tăng, nhưng mức tăng chỉ đạt 71.965 triệu đồng, thấp hơn so với sự gia tăng của tài sản ngắn hạn so với năm 2008.

Trong năm 2009, tài sản ngắn hạn của công ty tăng 129.007 triệu đồng, trong khi các khoản phải trả ngắn hạn chỉ tăng 71.965 triệu đồng, dẫn đến nhu cầu vốn lưu động (VLĐ) tăng thêm 57.042 triệu đồng Sự gia tăng này không hoàn toàn được tài trợ bằng nợ phải trả, buộc doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn tài trợ khác qua việc tăng nợ vay ngắn hạn, gây áp lực thanh toán và tăng rủi ro tài chính Nguyên nhân chính của sự gia tăng nhu cầu VLĐ là do doanh nghiệp mở rộng các khoản phải thu, tăng dự trữ hàng tồn kho, đầu tư vào tài sản cố định và tăng lượng tiền mặt.

Bảng 2: Phân tích Vốn lưu động ròng ( VLĐR)

Năm 2009, VLĐR tăng 30.281 triệu đồng so với năm 2008, chủ yếu do tài sản dài hạn tăng 6.051 triệu đồng Nếu nguồn vốn dài hạn không tăng, vốn lưu động ròng sẽ giảm 6.051 triệu đồng Tuy nhiên, nguồn vốn dài hạn đã tăng 36.332 triệu đồng, chủ yếu từ tăng vốn chủ sở hữu, dẫn đến sự gia tăng VLĐR Cuối năm 2009, nguồn vốn dài hạn không chỉ đủ để tài trợ cho tài sản dài hạn mà còn hỗ trợ một phần nhu cầu VLĐ, tạo ra cơ cấu tài chính an toàn hơn cho doanh nghiệp, mặc dù cần lưu ý rằng chi phí sử dụng nợ dài hạn cao hơn.

3 PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY

Bảng 3: Phân tích VLĐ và các nguồn tài trợ VLĐ

2 Nguồn tài trợ a VLĐR 349,816 319,535 30,281 b Vay NH 30,761 4,000 26,761

Trong năm 2009, nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản lưu động đã tăng lên 30.281 triệu đồng, cho thấy sự gia tăng vốn lưu động ròng trong năm đó.

Năm 2009, vốn lưu động ròng của công ty tăng nhờ vào sự gia tăng vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn Cụ thể, tài sản dài hạn của công ty tăng 6.051 triệu đồng, trong khi nguồn vốn dài hạn tăng 36.332 triệu đồng.

Tỷ lệ VLĐR/VLĐ năm 2009 của công ty đạt 91,92%, cho thấy rằng với mỗi 100 đồng nhu cầu vốn lưu động, công ty chỉ cần 91,92 đồng từ nguồn vốn dài hạn, giảm 6,85 đồng so với năm 2008.

Tỷ lệ VLĐR/TSNH năm 2009 đạt 66,35%, giảm 13,89% so với năm 2008, cho thấy công ty đã giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn dài hạn để hình thành tài sản ngắn hạn.

Phân tích VLĐR của công ty từ năm 2007 đến 2009 cho thấy nguồn tài trợ chủ yếu là vốn dài hạn, với tỷ lệ trên 90%, tạo nên một cơ cấu vốn an toàn và không gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ Tuy nhiên, việc duy trì cơ cấu vốn quá an toàn và VLĐR lớn cũng dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao và giảm tính linh hoạt trong tài chính của công ty.

Phân tích chu kỳ kinh doanh

Bảng phân tích ĐVT: Triệu đồng

Trong năm 2008, chu kỳ kinh doanh của công ty là 205 ngày, bao gồm 161 ngày tồn kho và 44 ngày thu tiền Đến năm 2009, chu kỳ kinh doanh tăng lên 236 ngày, với 169 ngày tồn kho và 67 ngày thu tiền, tăng 31 ngày so với năm trước Sự gia tăng này bao gồm 8 ngày tồn kho và 23 ngày thu tiền, nguyên nhân chính là do doanh nghiệp tăng cường dự trữ nguyên vật liệu và hàng hóa, với hàng tồn kho cuối năm 2009 tăng 27,03%, cao hơn tỷ lệ tăng giá vốn hàng bán là 14,64% Đồng thời, số ngày thu tiền tăng lên do công ty gia tăng việc bán chịu cho khách hàng nhằm thúc đẩy doanh thu.

Vào năm 2009, chu kỳ kinh doanh tăng trưởng đã thúc đẩy doanh nghiệp cần nhiều vốn lưu động hơn, từ đó mở rộng hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Phân tích chu kỳ vốn lưu động

Chu kỳ vốn lưu động (VLĐ) của công ty đã tăng từ 159 ngày năm 2008 lên 192 ngày năm 2009, cho thấy tốc độ lưu chuyển VLĐ chậm hơn và hiệu quả sử dụng vốn kém hơn so với năm trước Sự gia tăng này đã dẫn đến việc tăng VLĐ trong chu kỳ kinh doanh.

 Chu kỳ VLĐ của công ty chịu ảnh hưởng bởi:

- Số ngày tồn kho năm 2009 là 169 ngày, tăng 8 ngày so với năm 2008 Tốc độ luân chuyển tồn kho kém hơn năm 2008, đã làm tăng chu kỳ kinh doanh

Trong vòng 8 ngày, chu kỳ vốn lưu động (VLĐ) đã tăng thêm 8 ngày, dẫn đến nhu cầu VLĐ tăng so với năm trước Nguyên nhân chính là các doanh nghiệp đã gia tăng lượng tồn kho nguyên vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tăng khối lượng sản phẩm.

Năm 2009, số ngày thu tiền tăng 23 ngày so với năm 2008, cho thấy tình hình thu tiền bán hàng của công ty kém hơn Thời gian khách hàng chiếm dụng tiền của công ty dài hơn, dẫn đến tốc độ luân chuyển các khoản phải thu giảm Kết quả là chu kỳ kinh doanh kéo dài thêm 23 ngày, làm tăng chu kỳ vốn lưu động tương ứng Nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp gia tăng bán chịu để thu hút khách hàng và tăng doanh thu, đồng thời trả trước cho các nhà cung cấp.

Năm 2009, số ngày trả tiền mua hàng giảm 2 ngày so với năm 2008, cho thấy thời gian doanh nghiệp chiếm dụng vốn của nhà cung cấp giảm, dẫn đến việc chu kỳ vốn lưu động tăng thêm 2 ngày và nhu cầu vốn lưu động gia tăng Sự giảm thời gian chiếm dụng vốn này không chỉ giúp doanh nghiệp nhận được chiết khấu thanh toán mà còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp.

Chu kỳ vốn lưu động (VLĐ) năm 2009 tăng 33 ngày so với năm 2008, dẫn đến nhu cầu VLĐ tăng cao ở doanh nghiệp Nguyên nhân chính là do doanh nghiệp tăng cường dự trữ hàng tồn kho, làm giảm tốc độ luân chuyển tồn kho, cùng với việc gia tăng bán chịu cho khách hàng, khiến số ngày thu tiền kéo dài Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp cần tăng cường quản lý các khoản phải thu, giảm nợ chiếm dụng và nợ khó đòi.

 Mức gia tăng VLĐ do thay đổi nhu cầu VLĐ

- Số ngày tồn kho tăng 8 ngày đã làm gia tăng VLĐ: 8 x 1.018 = 8.144 trđ.

- Số ngày thu tiền tăng 23 ngày đã làm gia tăng VLĐ: 23 x 1.834 = 42.182 trđ.

- Số ngày trả tiền giảm 2 ngày đã làm gia tăng VLĐ: 2 x 1.154 = 2.308 trđ.Như vậy chu kỳ VLĐ tăng 33 ngày làm gia tăng nhu cầu VLĐ là 52.634 triệu đồng.

Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1 PHÂN TÍCH LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ a LCTT từ hoạt động kinh doanh

I Lưu chuyển tiền tệ từ HĐSXKD 2009 2008

2 Điều chỉnh cho các khoản 1,712 38,467

Khấu hao tài sản cố định 12,535 11,581

Lãi từ hoạt động đầu tư -14,531 19,219

3 Tiền từ HĐKD trước thay đổi VLĐ 67,419 96,733

Tăng các khoản phải thu -72,477 9,551

Tăng tài sản ngắn hạn khác -1,049 4,477

Tăng các khoản phải trả 71,965 8,477

Tiền thu khác từ HĐKD 21,325 5,080

Tiền chi khác từ HĐKD -53,363 -51,449

Năm 2009, công ty ghi nhận lợi nhuận sau thuế (EAT) đạt 65.707 triệu đồng, tuy nhiên lưu chuyển tiền tệ ròng từ hoạt động kinh doanh lại âm 14.868 triệu đồng, thấp hơn EAT tới 80.575 triệu đồng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cần được phân tích kỹ lưỡng.

Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) trong năm 2009 đạt 12.535 triệu đồng, là khoản chi phí làm giảm lợi nhuận nhưng không ảnh hưởng đến dòng tiền thực tế Khoản khấu hao này sẽ được cộng vào lợi nhuận để xác định lợi nhuận trước thuế (EAT) từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) Do đó, EAT sẽ thấp hơn dòng tiền từ HĐKD 12.535 triệu đồng.

Trong năm 2009, công ty đã thực hiện trích lập thêm 3.708 triệu đồng cho các khoản dự phòng như dự phòng giảm giá chứng khoán ngắn hạn, dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư dài hạn Mặc dù điều này làm giảm lợi nhuận, nhưng do không có tiền chi ra, nên không ảnh hưởng đến tiền từ hoạt động kinh doanh Do đó, EAT thấp hơn LCTT từ hoạt động kinh doanh là 3.708 triệu đồng.

Trong năm, không có lãi hoặc lỗ từ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện, do đó không ảnh hưởng đến lợi nhuận ròng và không làm thay đổi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.

Lãi từ hoạt động đầu tư đạt 14.531 triệu đồng, góp phần tăng lợi nhuận ròng mà không ảnh hưởng đến dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Do đó, lợi nhuận sau thuế (EAT) cao hơn lợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh (LCTT) là 14.531 triệu đồng.

Nhu cầu vốn lưu động trong hoạt động kinh doanh chính của công ty vào cuối năm 2008 giảm 48.235 triệu đồng so với năm 2007, dẫn đến lợi nhuận sau thuế (EAT) thấp hơn tiền ròng từ hoạt động kinh doanh (HDKD) cùng số tiền này.

Các khoản phải thu đã tăng 72.477 triệu đồng, dẫn đến giảm tiền ròng trong hoạt động kinh doanh tương ứng với mức giảm này Cụ thể, phải thu khách hàng tăng 72.364 triệu đồng và các khoản phải thu khác tăng 1.237 triệu đồng Bên cạnh đó, danh mục trả trước cho người bán (cả trong nước và nước ngoài) đã giảm 1.124 triệu đồng.

Hàng tồn kho đã tăng lên 48.688 triệu đồng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến ngân lưu ròng từ hoạt động kinh doanh, giảm 48.688 triệu đồng Cụ thể, nguyên liệu và vật liệu tăng 58.778 triệu đồng, trong khi công cụ và dụng cụ giảm 146 triệu đồng Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tăng 1.630 triệu đồng, nhưng thành phẩm lại giảm 15.195 triệu đồng Hàng hóa tăng 3.946 triệu đồng, còn hàng gửi đi bán giảm 325 triệu đồng.

Tài sản ngắn hạn khác đã tăng thêm 1.049 triệu đồng, dẫn đến việc giảm tương ứng 1.049 triệu đồng trong lợi nhuận hoạt động kinh doanh Trong đó, sự gia tăng đáng chú ý đến từ các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn lên tới 3.781 triệu đồng Tuy nhiên, cũng ghi nhận sự sụt giảm ở các khoản tạm ứng 2.249 triệu đồng, tài sản thiếu chờ xử lý 15 triệu đồng, chi phí trả trước ngắn hạn 130 triệu đồng, và thuế GTGT được khấu trừ 339 triệu đồng.

Trong năm tài chính 2009, các khoản phải trả của doanh nghiệp tăng 71.965 triệu đồng, dẫn đến việc tăng LCTT từ hoạt động kinh doanh tương ứng Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả người bán tăng 10.564 triệu đồng, người mua trả tiền trước tăng 46.340 triệu đồng, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tăng 9.950 triệu đồng, phải trả người lao động tăng 938 triệu đồng, chi phí phải trả tăng 3.497 triệu đồng, và các khoản phải trả, phải nộp khác tăng 677 triệu đồng Các khoản nợ này không bao gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền từ hoạt động tài chính.

 Tiền thu khác từ hoạt động kinh doanh 21.325 triệu đồng làm ngân lưu ròng từ HĐKD tăng tương ứng 21.325 triệu.

 Tiền chi khác từ hoạt động kinh doanh là 53.363 triệu đồng làm ngân lưu ròng từ HĐKD giảm tương ứng 53.363 triệu đồng b LCTT từ hoạt động đầu tư

II Lưu chuyển tiền từ HĐĐT 2,009 2,008

1 Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ và các TSDH khác -41,371 -86,676

2 Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ và các TSDH khác 33,503 19

3 Đầu tư tài chính ròng 15,520 105,300

4 Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lơi nhuận được chia 5,339 12,527

Lưu chuyển tiền tệ ròng từ hoạt động đầu tư năm 2009 đạt 12.991 triệu đồng, cho thấy tình hình đầu tư của doanh nghiệp giảm sút do công ty đã bán bớt tài sản cố định và thu hồi các khoản đầu tư tài chính Số tiền thu được từ hoạt động đầu tư có thể được sử dụng để bù đắp cho việc mua sắm tài sản cố định hoặc đầu tư xây dựng cơ bản, sẽ được phân tích chi tiết trong phần phân tích nguồn tiền và sử dụng tiền của công ty trong năm 2009.

Năm 2009, công ty đã đầu tư mạnh mẽ vào việc mua sắm tài sản cố định mới với tổng giá trị lên đến 41.371 triệu đồng, dẫn đến sự giảm 41.371 triệu đồng trong lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư Sự đầu tư này đã làm biến động lớn trong tài sản cố định, với sự thay đổi giá trị đạt 20.361 triệu đồng (152.338 triệu đồng - 131.977 triệu đồng).

Imexpharm đã đầu tư vào việc mua sắm các tài sản cố định hữu hình, bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn, thiết bị và dụng cụ quản lý, cùng với các tài sản cố định khác.

Công ty đã đầu tư 55.070 triệu đồng vào tài sản cố định vô hình (TSCĐ vô hình) trong năm, bao gồm 18.652 triệu đồng chi cho quyền sử dụng đất.

Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang của doanh nghiệp trong năm 2009 đạt 40.949 triệu đồng, tập trung vào các dự án quan trọng như nhà máy Cephalosporin tại Bình Dương và trung tâm dược liệu Đồng Tháp Mười.

Phân tích các hệ số tài chính

1 CÁC HỆ SỐ KHẢ NĂNG THANH TOÁN

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời của công ty đã giảm mạnh trong ba năm qua, từ 6.7 vào cuối năm 2007 xuống 5.06 vào cuối năm 2008 và chỉ còn 2.97 vào cuối năm 2009 Mặc dù tỷ lệ này vẫn lớn hơn 1, cho thấy công ty vẫn có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nhưng sự sụt giảm này chỉ ra rằng cơ cấu tài chính của công ty kém an toàn hơn và chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các năm trước Tuy nhiên, tỷ lệ cao vẫn chứng tỏ rằng tài sản ngắn hạn đủ để đảm bảo thanh toán các khoản nợ trong vòng một năm tới Bên cạnh đó, công ty đang dần cải thiện cơ cấu tài chính, cho thấy rằng trong những năm trước, doanh nghiệp đã sử dụng tài sản không hiệu quả và vốn bị ứ đọng.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh vào cuối năm 2009 đạt 1.83, giảm 1.27 so với năm 2008 và 2.75 so với năm 2007 Điều này có nghĩa là mỗi đồng nợ ngắn hạn vào cuối năm 2009 được đảm bảo bởi 1.83 đồng tài sản có tính thanh khoản cao, khi loại trừ hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác Mặc dù hệ số này có xu hướng giảm, nhưng trong cả ba năm, tỷ lệ vẫn lớn hơn 0.5, cho thấy khả năng thanh toán vẫn được đánh giá là tốt.

Số ngày thu tiền bán hàng năm 2009 đã tăng lên 67 ngày, tăng 23 ngày so với năm 2008, cho thấy công ty gặp khó khăn trong việc kiểm soát các khoản phải thu và vốn luân chuyển chậm hơn Sự gia tăng này có thể do chính sách bán hàng được nới lỏng để tăng doanh thu, với doanh thu thuần năm 2009 đạt 660,076 triệu đồng, tăng 98,232 triệu đồng so với năm trước Ngoài ra, công ty cũng có thể phải đối mặt với các khoản nợ quá hạn khó đòi, làm giảm khả năng thanh toán ngắn hạn.

Năm 2009, số ngày tồn kho đạt 170 ngày, tăng 8 ngày so với năm 2008, cho thấy khả năng quản lý tồn kho của công ty có dấu hiệu kém hơn, có thể do chính sách mua hàng thay đổi nhằm hưởng chiết khấu thương mại Sự gia tăng số ngày tồn kho phản ánh tốc độ luân chuyển hàng hóa chậm, dẫn đến khả năng luân chuyển vốn giảm, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong năm.

Năm 2009, công ty duy trì giá trị tài sản ngắn hạn để đảm bảo nghĩa vụ nợ ngắn hạn, nhưng khả năng thanh toán ngắn hạn có xu hướng giảm Để cải thiện tình hình tài chính, công ty cần tăng cường quản lý tồn kho và phải thu, từ đó nâng cao khả năng luân chuyển vốn và khả năng thanh toán trong những năm tới.

2 CÁC CHỈ TIÊU SINH LỜI CỦA VỐN a Tỉ lệ hoàn vốn ROI

ROI năm 2009 tăng 0,16% so với năm 2008, cho thấy công ty đã cải thiện khả năng sử dụng vốn, đóng góp tốt hơn cho lợi nhuận nền kinh tế Cụ thể, mỗi 100 đồng vốn đầu tư năm 2008 tạo ra 12,24 đồng lợi nhuận, trong khi năm 2009 con số này là 12,4 đồng Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng năm 2009 vẫn chưa cao so với năm trước.

 ROI phụ thuộc vào 2 nhân tố:

Năm 2009, EBIT/DTT đạt 12,47%, giảm 0,22% so với năm 2008, cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí chưa tính đến lãi vay và thuế giảm kém hơn so với năm trước Sự sụt giảm này có thể dẫn đến gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận và làm giảm ROI.

Ta thấy, cứ 100 đồng doanh thu thì làm EBIT giảm 0,22 đồng.

Nếu vòng quay tổng vốn không thay đổi thì 100 đồng vốn bỏ ra sẽ tạo được96,47 đồng doanh thu và cứ 96,47 đồng doanh thu sẽ làm EBIT giảm 0,21 đồng.

 Kết luận: Do hiệu quả sử dụng chi phí giảm làm cho ROI giảm 0,21%.

- DTT/TVBQ: tốc độ luân chuyển vốn năm 2009 nhanh hơn năm 2008

0.0295 vòng, góp phần làm gia tăng hiệu quả sử dụng vốn và làm cho ROI tăng lên.

Mỗi 100 đồng vốn đầu tư mang lại doanh thu tăng thêm 2,95 đồng, và từ mỗi 100 đồng doanh thu, doanh nghiệp tạo ra 12,47 đồng EBIT Như vậy, với 2,95 đồng doanh thu, doanh nghiệp sẽ thu về 0,37 đồng EBIT.

 Kết luận: Việc gia tăng hiệu quả sử dụng vốn đã góp phần làm cho ROI tăng thêm 0,37%.

Dưới tác động của hai nhân tố, ROI đã tăng 0,16% so với năm 2008, nhờ vào việc công ty gia tăng tốc độ luân chuyển vốn Nếu không có sự sụt giảm hiệu quả sử dụng chi phí, ROI có thể tăng cao hơn nữa Để tiếp tục gia tăng ROI, công ty cần kiểm soát chặt chẽ hơn việc sử dụng chi phí nhằm nâng cao hiệu quả.

 Qua bảng trên ta thấy ROA năm 2009 đạt mức 10,11%, tăng 0,04% so với năm 2008 Điều này chứng tỏ hiệu quả đầu tư năm 2009 có tốt hơn năm

Trong năm 2008, lợi nhuận trước lãi và sau thuế từ mỗi 100 đồng đầu tư vào tài sản đạt 10,08 đồng, trong khi năm 2009 con số này tăng nhẹ lên 10,11 đồng Mặc dù sự gia tăng không đáng kể, nhưng vẫn cho thấy sự ổn định trong khả năng sinh lời của các khoản đầu tư.

Sự gia tăng này tạo ra tâm lý tích cực cho các nhà đầu tư, từ đó củng cố niềm tin của họ và ảnh hưởng tích cực đến khả năng huy động vốn trong tương lai để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh.

 ROA phụ thuộc vào 2 nhân tố:

- NOI/DTT: Tỉ lệ này giảm 0,27% chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí giảm làm cho khả năng sinh lời trên tổng tài sản ROA giảm 0,9647*0,27% 0,26%.

Tỉ lệ DTT/Tổng TSBQ đã tăng 0,0295, cho thấy sự gia tăng trong tốc độ luân chuyển giá trị tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản Sự cải thiện này đã góp phần làm tăng ROA lên 0,3% (10,17% * 0,0295).

Như vậy, tác động tổng hợp của hai nhân tố trên làm cho ROA tăng 0,04%.

Sự gia tăng này chủ yếu xuất phát từ việc công ty tối ưu hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Nếu không có sự suy giảm trong hiệu quả chi phí, mức đầu tư sẽ còn tăng cao hơn nữa Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng phản ánh sự cải thiện này.

 Đánh giá tác động của nợ đến ROE trong năm 2008 và 2009

 Năm 2008: ROA là 10,08%, nếu doanh nghiệp không sử dụng nợ thì ROE

= ROA = 10,08% Tuy nhiên trong năm 2008, công ty có sử dụng nợ để đầu tư với Rd = 0,56% Như vậy, trong năm 2008, công ty có sử dụng nợ với

Việc sử dụng nợ trong năm đã góp phần tăng cường ROE, khi mà Rd < ROA Mức độ tác động của nợ đến ROA đạt 1,42% Chênh lệch giữa ROA và Rd là 9,51%, cho thấy rằng mỗi 100 đồng nợ doanh nghiệp sử dụng sẽ tạo ra 9,51 đồng giá trị cho chủ sở hữu.

 Năm 2009: ROA là 10,11%, nếu doanh nghiệp không sử dụng nợ thì ROE

ROA của công ty đạt 10,11% trong năm, trong khi chi phí nợ (Rd) chỉ ở mức 1,07% Điều này cho thấy công ty đã sử dụng nợ với chi phí thấp hơn ROA, từ đó góp phần gia tăng ROE Mức tác động của nợ đến ROE ước tính là 2,29%.

Ngày đăng: 14/04/2025, 10:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH - Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
BẢNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (Trang 7)
Bảng 3: Phân tích VLĐ và các nguồn tài trợ VLĐ - Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
Bảng 3 Phân tích VLĐ và các nguồn tài trợ VLĐ (Trang 31)
Bảng 2:  Phân tích Vốn lưu động ròng ( VLĐR) - Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
Bảng 2 Phân tích Vốn lưu động ròng ( VLĐR) (Trang 31)
Bảng phân tích - Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
Bảng ph ân tích (Trang 47)
Bảng phân tích - Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
Bảng ph ân tích (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w