B. Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm6 I. Phân tích kết quả kinh doanh
VII. Phân tích các hệ số tài chính
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
1. TSNH 469,910 398,184 527,191
2. Nợ ngắn hạn 70,172 78,649 177,375 3. HSKNTT hiện thời 6.70 5.06 2.97
4. Tiền 49,244 110,881 135,040
5. ĐTTC ngắn hạn 155,295 25,707 12,808
6. CKPThu 116,599 106,864 175,895
7. HSKNTT nhanh 4.58 3.10 1.83
Bảng 2
Chỉ tiêu 2008 2009 So sánh
1. SN thu tiền 44 67 23
2. Vòng quay tồn kho 2.23 2.12 -0.11
3. SN Tkho 162 170 8
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời của công ty có xu hướng giảm mạnh, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn lớn hơn 1 trong cả 3 năm. Cụ thể cuối năm 2009 tỷ lệ này là 2.97, trong khi cuối năm 2008 là 5.06, và năm 2007 đạt mức 6.7 có nghĩa là: cứ 1 đồng nợ ngắn hạn cuối năm năm 2007 được đảm bảo thanh toán bằng 6.7 đồng tài sản ngắn hạn, nhưng đến cuối năm 2008 còn 5.06 đồng và đến cuối năm 2009 chỉ còn được đảm bảo bằng 2.97 đồng. Với sự sụt giảm đó cho thấy năm 2009 cơ cấu tài chính của công ty kém an toàn và chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với năm 2008 và 2007. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn được duy trì ở mức cao, chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn đảm bảo thanh toán tốt cho các khoản nợ hiện tại mà công ty phải thanh toán trong
vòng 1 năm tới. Ngoài ra, công ty đang dần cải thiện cơ cấu tài chính theo hướng tốt hơn vì hệ số khả năng thanh toán hiện thời ở những năm trước khá cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng tài sản không hiệu quả, vốn bị ứ đọng không luân chuyển được.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh cuối năm 2009 là 1.83, giảm 1.27 so với cuối năm 2008, và giảm 2.75 so với cuối năm 2007. Như vậy, nếu loại trừ giá trị hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác khi xác định mức độ đảm bảo thanh toán nợ ngắn hạn thì cứ 1 đồng nợ ngắn hạn cuối năm 2009 sẽ có 1.83 đồng tài sản có tính thanh khoản cao đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù, hệ số khả năng thanh toán nhanh có xu hướng giảm nhưng ở cả 3 năm tỷ lệ này vẫn lớn hơn 0.5 nên vẫn được đánh giá là tốt.
Mặt khác, số ngày thu tiền bán hàng năm 2009 là 67 ngày, tăng 23 ngày so với năm 2008 cho thấy việc kiểm soát các khoản phải thu của công ty kém hơn, vốn luân chuyển chậm hơn và bị chiếm dụng bởi khách hàng nhiều hơn trong khâu thanh toán. Sự gia tăng số ngày thu tiền có thể do công ty thay đổi chinh sách bán hàng (nới lỏng chính sách bán chịu để tăng doanh thu) và thực tế thì doanh thu thuần năm 2009 đạt mức 660,076 trđ tăng 98,232 trđ so với năm 2008, cũng có thể do công ty đã xuất hiện thêm những khoản nợ quá hạn khó đòi, qua đó làm giảm khả năng thanh toán ngắn hạn cho công ty.
Số ngày tồn kho năm 2009 là 170 ngày, tăng 8 ngày so với năm 2008 cho thấy khả năng quản lý tồn kho của công ty kém hơn, hoặc do công ty thay đổi chính sách mua hàng (mua nhiều hơn để được hưởng chiết khấu thương mại). Số ngày tồn kho tăng chứng tỏ tồn kho luân chuyển chậm hơn, khả năng luân chuyển của vốn chậm làm cho khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong năm giảm.
Tóm lại, nhìn chung năm 2009 công ty vẫn duy trì tốt giá trị tài sản ngắn hạn để đảm bảo cho các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty có xu hướng giảm, công ty cần tăng cường quản lý tồn kho
và phải thu tốt hơn để tăng khả năng luân chuyển vốn từ đó làm tăng khả năng thanh toán cho công ty và cải thiện cơ cấu tài chính theo hướng tốt hơn trong những năm sau.
2. CÁC CHỈ TIÊU SINH LỜI CỦA VỐN a. Tỉ lệ hoàn vốn ROI
Bảng phân tích
Chỉ tiêu 2008 2009 So sánh
1. EBIT 71,306 82,325
2. Tổng vốn BQ 582,418 663,940
3. ROI 12.24% 12.40% 0.16%
4. EBIT/DTT 12.69% 12.47% -0.22%
5. DTT/TVBQ 0.9647 0.9942 0.0295
Qua bảng trên, ta thấy ROI năm 2009 tăng 0,16% so với năm 2008, chứng tỏ trình độ sử dụng vốn của công ty năm 2009 tốt hơn năm 2008, mức độ đóng góp trong việc tạo ra lợi nhuận cho nền kinh tế tốt hơn. Cụ thể, cứ 100 đồng vốn đầu tư thì năm 2008 tạo ra được 12,24 đồng, năm 2009 tạo ra được 12,4 đồng lợi nhuận cho nền kinh tế. Nhưng tỉ lệ tăng năm 2009 không cao lắm so với năm 2008.
ROI phụ thuộc vào 2 nhân tố:
- EBIT/DTT: năm 2009 đạt 12,47%, giảm 0,22% so với năm 2008, chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí chưa tính đến ảnh hưởng của lãi vay và thuế giảm và kém hơn năm 2008. Bên cạnh đó, nó sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận và làm cho ROI giảm.
Ta thấy, cứ 100 đồng doanh thu thì làm EBIT giảm 0,22 đồng.
Nếu vòng quay tổng vốn không thay đổi thì 100 đồng vốn bỏ ra sẽ tạo được 96,47 đồng doanh thu và cứ 96,47 đồng doanh thu sẽ làm EBIT giảm 0,21 đồng.
Kết luận: Do hiệu quả sử dụng chi phí giảm làm cho ROI giảm 0,21%.
- DTT/TVBQ: tốc độ luân chuyển vốn năm 2009 nhanh hơn năm 2008 0.0295 vòng, góp phần làm gia tăng hiệu quả sử dụng vốn và làm cho ROI tăng lên.
Cứ 100 đồng vốn bỏ ra thì làm doanh thu tăng 2,95 đồng và cứ 100 đồng doanh thu thì tạo ra 12,47 đồng EBIT, do đó 2,95 đồng doanh thu sẽ tạo ra 0,37 đồng EBIT.
Kết luận: Việc gia tăng hiệu quả sử dụng vốn đã góp phần làm cho ROI tăng thêm 0,37%.
Như vậy dưới tác động của 2 nhân tố trên đã làm cho ROI tăng 0,16% so với năm 2008, và sự gia tăng này hoàn toàn do công ty gia tăng được tốc độ luân chuyển vốn. Nếu như không có sự sụt giảm của hiệu quả sử dụng chi phí thì ROI còn có thể tăng nhiều hơn. Do đó để có thể tiếp tục gia tăng ROI, công ty cần kiểm soát chặt chẽ hơn việc sử dụng chi phí của mình sao cho có hiệu quả hơn.
b. Tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA Bảng phân tích
CHỈ TIÊU 2008 2009 So sánh
1. EAT + I(1-t) 58,692 67,145 2. Tổng TSBQ 582,418 663,940
3. ROA 10.08% 10.11% 0.04%
4. NOI/DTT 10.45% 10.17% -0.27%
5. DTT/TVBQ 0.9647 0.9942 0.0295
Qua bảng trên ta thấy ROA năm 2009 đạt mức 10,11%, tăng 0,04% so với năm 2008. Điều này chứng tỏ hiệu quả đầu tư năm 2009 có tốt hơn năm 2008, mặc dù sự gia tăng này không cao lắm. Cụ thể cứ 100 đồng đầu tư
vào tài sản, không phân biệt nguồn hình thành thì lợi nhuận trước lãi và sau thuế tạo được trong năm 2008 là 10,08 đồng, năm 2009 là 10,11 đồng.
Sự gia tăng này tạo ra một tâm lý tốt đối với những nhà đầu tư vốn của công ty, tạo niềm tin tốt đối với họ, do đó sẽ tạo được ảnh hưởng tốt đến khả năng huy động vốn trong tương lai để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
ROA phụ thuộc vào 2 nhân tố:
- NOI/DTT: Tỉ lệ này giảm 0,27% chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí giảm làm cho khả năng sinh lời trên tổng tài sản ROA giảm 0,9647*0,27% = 0,26%.
- DTT/Tổng TSBQ: Tỉ lệ này tăng 0,0295, chứng tỏ tốc độ luân chuyển giá trị tài sản (hiệu quả sử dụng tài sản) tăng lên. Điều này làm ROA tăng 10,17%*0,0295 = 0,3%.
Như vậy, tác động tổng hợp của hai nhân tố trên làm cho ROA tăng 0,04%.
Sự gia tăng này hoàn toàn do công ty sử dụng tài sản tốt hơn và hiệu quả hơn trước. Nếu không có sự giảm sút của hiệu quả sử dụng chi phí thì sự gia tăng đầu tư còn lớn hơn.
c. Tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE Bảng phân tích
CHỈ TIÊU 2008 2009 So sánh
1. EAT 58,266 65,707
2. VCSHBQ ( E) 506,691 529,558
3. ROE 11.50% 12.41% 0.91%
4. I x ( 1 - t) 426.4 1,437.6 5. Tổng TSBQ ( V) 582,419 663,940
6. ROA 10.08% 10.11% 0.04%
7. Nợ BQ ( D) 75,728 134,382
8. Rd 0.56% 1.07% 0.51%
9. ROA - Rd 9.51% 9.04% -0.47%
10. D/E 0.1495 0.2538 0.1043
11. ( ROA - Rd) x D/E 1.42% 2.29% 0.87%
Đánh giá tác động của nợ đến ROE trong năm 2008 và 2009
Năm 2008: ROA là 10,08%, nếu doanh nghiệp không sử dụng nợ thì ROE
= ROA = 10,08%. Tuy nhiên trong năm 2008, công ty có sử dụng nợ để đầu tư với Rd = 0,56%. Như vậy, trong năm 2008, công ty có sử dụng nợ với Rd < ROA nên việc sử dụng nợ trong năm góp phần gia tăng ROE. Và mức độ tác động của nợ đến ROA là 1,42%. Chênh lệc giữa ROA và Rd là 9,51% nghĩa là cứ 100 đồng nợ doanh nghiệp sử dụng thì tạo ra 9,51 đồng cho chủ sở hữu.
Năm 2009: ROA là 10,11%, nếu doanh nghiệp không sử dụng nợ thì ROE
= ROA = 10,11%. Tuy nhiên, trong năm công ty có sử dụng nợ với Rd = 1,07%. Như vậy, năm 2009 công ty có sử dụng nợ với Rd < ROA nên việc sử dụng nợ góp phần gia tăng ROE với mức tác động của nợ đến ROE là 2,29%.
Qua đây ta thấy rằng tác động nợ đến ROE trong 2 năm 2008 và 2009 đều tích cực, cho thấy việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong 2 năm có hiệu quả.
Đánh giá tác động của nợ vay đến ROE trong năm 2008 và 2009
Năm 2008: ROA = 10,08%
Theo thuyết minh báo cáo tài chính thì năm 2008 doanh nghiệp vay với lãi suất 1,25%/ tháng, thời hạn 5 tháng nên lãi suất vay hiệu dụng năm 2008 là ( 1 + 1,25%)5 – 1 = 6,4%.
Lãi suất vay bình quân sau thuế: 6,4% x ( 1- 20%) = 5,12%.
ROA > lãi suất vay bình quân sau thuế nên nợ vay có tác động tích cực đến ROE.
Năm 2009: ROA = 10,11%
Theo thuyết minh báo cáo tài chính thì trong năm doanh nghiệp vay với lãi suất 0,7%/ tháng, thời hạn 6 tháng nên lãi suất vay hiệu dụng năm 2009 là ( 1 + 0,7%)6 – 1 = 4,27%.
Lãi suất vay bình quân sau thuế: 4,27% x ( 1 – 20%) = 3,42%.
ROA > lãi suất vay bình quân sau thuế nên nợ vay có tác động tích cực đến ROE.
Như vậy, trong cả 2 năm 2008 và 2009 ROA > lãi suất vay bình quân sau thuế nên nợ vay có tác động tích cực đến ROE.
Phân tích biến động ROE năm 2009 so với 2008 Căn cứ số liệu bảng phân tích ta thấy:
ROE năm 2009 tăng 0,91% so với năm 2008 cho thấy khả năng tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu của công ty năm 2009 tốt hơn 2008. Cụ thể cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì lợi nhuận tạo ra cho chủ sở hữu năm 2008 là 11,5 đồng đến 2009 tăng lên 12,41 đồng. Sự gia tăng của ROE làm gia tăng niềm tin của chủ sở hữu vào công ty, chứng tỏ hiệu quả của công tác quản trị tài chính năm 2009 tốt hơn 2008.
ROE chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố đó là tác động trực tiếp của ROA và tác động của nợ.
- Ta thấy ROA năm 2009 tăng 0,04% so với 2008 chứng tỏ hoạt động đầu tư của công ty có hiệu quả. Và tác động trực tiếp của ROA tăng đã làm ROE tăng tương ứng 0,04%.
- Ở cả 2 năm ROE > Rd nên việc sử dụng nợ đều có tác động tích cực đến ROE. Đồng thời tác đồng nợ đến ROE năm 2009 cao hơn so với 2008 nên ROE tăng tương ứng 0,91%. Mặt khác, mức độ tác động của nợ lại phụ thuộc vào 2 nhân tố là hiệu quả sử dụng nợ và mức sử dụng nợ.
Tác động gián tiếp của ROA
ROA tăng 0,04% nên khoảng cách ( ROA – Rd) tương ứng tăng 0,04%. Do đó hiệu quả sử dụng nợ năm 2009 cao hơn 2008, tăng mức độ tác động của nợ đến ROE: 0,04% x 0,1495 = 0,00598%.
Tác động của Rd
Rd tăng 0,51% nghĩa là cứ 100 đồng nợ doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì chi phí sử dụng nợ thực tế cao hơn năm trước 0,51 đồng nên
khoảng cách ( ROA – Rd) giảm 0,51%. Do đó làm giảm hiệu quả sử dụng nợ, giảm mức tác động của nợ đến ROE: 0,51% x 0,1495 = 0,076%.
Như vậy, khoảng cách ( ROA – Rd) giảm 0,47% nên hiệu quả sử dụng nợ giảm, Do đó giảm mức độ tác động của nợ đến ROE 0,07002%.
Tác động của D/E
D/E tăng 0,1043 nên mức độ sử dụng nợ của công năm 2009 cao hơn so với 2008 trong điều kiện ROA > Rd nên việc tăng mức độ sử dụng nợ sẽ làm tăng mức độ tác động của nợ đến ROE: 9,04% x 0,1043 = 0,943%.
Kết luận: Tổng hợp tác động của từng nhân tố đến ROE
Tác động trực tiếp của ROA tăng ROE tăng 0,04%.
Tác động gián tiếp của ROA tăng ROE tăng 0,00598%.
Tác động của Rd giảm ROE giảm 0,076%.
Tác động của D/E tăng khi ROA > Rd ROE tăng 0,943%.
Như vậy, ROE năm 2009 tăng so với năm 2008 chủ yếu là do sự gia tăng mức độ sử dụng nợ. Trong năm 2009 ROA > Rd nên việc vay nợ thêm của công ty là tốt, góp phần làm gia tăng lợi nhuận cho chủ sở hữu. Chứng tỏ chính sách tài chính và quản lý nợ của công ty có hiệu quả.
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
--- --- --- --- --- --- --- --- --- --- --- --- ---
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện bài phân tích thực tế với đề tài “ Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm”, tất cả các thành viên của nhóm đã tham gia đầy đủ và tích cực vào mọi hoạt động của nhóm cũng như hoàn thành những nhiệm vụ được phân công. Tuy nhiên, vẫn có một số thiếu sót, chưa hoàn chỉnh. Nhóm chúng em rất cảm ơn sự hướng dẫn và góp ý của Thầy trong quá trình học cũng như trong suốt quá trình hoàn thành bài phân tích thực tế để giúp bài phân tích được hoàn chỉnh hơn.
Kính chúc Thầy thật nhiều sức khỏe!
Nhóm sinh viên ĐH23A11