Phân tích tình hình biến động nguồn vốn và sử dụng vốn

Một phần của tài liệu Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM (Trang 23 - 30)

B. Phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm6 I. Phân tích kết quả kinh doanh

II. Phân tích cơ cấu nguồn vốn và tài sản

2. Phân tích tình hình biến động nguồn vốn và sử dụng vốn

Năm 2008

SỬ DỤNG VỐN Số tiền Tỷ trọng NGUỒN VỐN Số tiền Tỷ trọng

I. Tăng TS 179.391 96,29% I. Giảm TS 151.405 81,27%

1. T & CKTĐ Tiền 61.636 33,08% 1. ĐTTCNH 125,450 67,34%

2. HTK 10.188 5,47% 2. DP giảm giá CKĐT 4,138 2,22%

3. DP giảm giá HTK 249 0,13% 3. CKPT 9,551 5,13%

4. TSCĐ 87.616 47,03% 4. DP Pthu khó đòi 184 0,10%

5. ĐTTCDH 19.702 10,58% 5. TSNH K 4,476 2,40%

  6. DP G/giá CKĐTDH 3,595 1,93%

  7. TSDH K 4,011 2,15%

II. Giảm NV 6.913 3,71% II. Tăng NV 34,899 18,73%

1. CPQ 94 0,05% 1. PTNB 7.581 4,07%

2. LNSTCPP 6.265 3,36% 2. PT K 896 0,48%

3. Ngồn kinh phí 554 0,30% 3. Vay DH 1.231 0,66%

      4. Vốn Khác của CSH 108 0,06%

      5. QĐTPT 23.535 12,63%

      6. QDPTC 329 0,18%

      7. Qũy KT & PL 1.219 0,65%

Cộng 186,304 100.00% Cộng 186.304 100,00%

Căn cứ vào bảng phân tích trên ta nhận thấy:

 Trong năm 2008, tổng giá trị sử dụng vốn của công ty là 186.304 triệu đồng. Trong đó chủ yếu là để doanh nghiệp gia tăng đầu tư tài sản với giá trị 179.391 triệu đồng, chiếm 96,29% phần còn lại là giảm bớt vốn chủ sở hữu 3,71%.

 Cụ thể các mục đích sử dụng vốn trong năm 2008 như sau:

- Doanh nghiệp gia tăng đầu tư tài sản cố định 87.616 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 47,03%.

- Tăng tiền và các khoản tương đương tiền 61.636 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 33.08%.

- Tăng đầu tư tài chính dài hạn 19.702 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 10.58%.

- Ngoài ra doanh nghiệp còn tăng mức dự trữ hàng tồn kho và dự phòng giảm giá hàng tồn kho 10.437 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,6 %.

Như vậy, trong năm 2008 thì mục đích sử dụng vốn của công ty chủ yếu là để đầu tư vào tài sản cố định. Điều này giúp cho năng lực sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Việc đầu tư vào máy móc, trang thiết bị kĩ thuật hiện đại phục vụ cho việc sản xuất góp phần làm tăng năng suất lao động, giúp doanh nghiệp mở rộng được qui mô tiêu thụ sản phẩm. Và thực tế là việc này đã góp phần giúp doanh nghiệp gia tăng doanh thu trong năm 2008. Bên cạnh đó, tiền thu vào nhiều hơn so với chi ra do công ty tăng tiền gởi có kì hạn dưới 3 tháng lên nên tiền tăng 33,08%.

 Để tài trợ cho việc sử dụng vốn năm 2008, công ty đã tạo ra nguồn vốn bằng cách giảm tài sản 151.405 triệu đồng, tài trợ được 81,27% cho sử dụng vốn, phần còn lại 18,73% được tài trợ bởi gia tăng các quỹ, phải trả người bán, vay dài hạn và vốn khác của chủ sở hữu.

 Cụ thể các nguồn vốn được tạo ra để tài trợ cho việc sử dụng vốn trong năn 2008 như sau:

- Nguồn vốn được tạo ra chủ yếu để tài trợ cho việc sử dụng vốn là giảm bớt đầu tư tài chính ngắn hạn 125.450 triệu đồng, đáp ứng được 67,34% nhu cầu sử dụng vốn trong năm.

- Giảm các khoản phải thu 9.551 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,13%.

- Giảm đầu tư vào tài sản ngắn hạn khác và tài sản dài hạn khác 8.487 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 4,55%.

- Doanh nghiệp gia tăng quỹ đầu tư phát triển 23.535 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 12,63%.

- Gia tăng các khoản phải trả người bán 7.581 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 4,07%.

Như vậy, nguồn vốn được tạo ra chủ yếu để tài trợ cho việc sử dụng vốn là giảm đầu tư tài chính ngắn hạn. Vì mảng kinh doanh không thuộc sở trường của doanh nghiệp nên việc giảm đầu tư tài chính ngắn hạn trong một thời gian góp phần giúp doanh nghiệp có được tiền để dùng vào những việc khác, phục vụ cho việc sản xuấ kinh doanh, đem lại hiệu quả cao hơn. Mà cụ thể là công ty rút khoản tiền gửi ngắn hạn để về giải ngân cho dự án nhà máy Cephalosporin Bình Dương, mua đất tại văn phòng công ty cũng như mua đất xây dựng kho và chi nhánh tại một số khu vực khác để mở rộng hệ thống phân phối. Việc tăng quỹ đầu tư phát triền cũng là một nhân tố hỗ trợ rất nhiều cho việc sản xuất kinh doanh của công ty được thuận lợi hơn.

Nguồn vốn được tạo ra chủ yếu là từ bên trong chiếm tỷ trọng 81,27%.

Ta thấy: ∆TSDH = 99.711

∆NVDH = 19.509

Trong năm 2008 thì tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh, đồng thời nguồn vốn dài hạn cũng tăng lên để tài trợ cho tài sản dài hạn. Tuy nhiên, mức tăng này là không đủ nên phần còn lại của tài sản dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn. Điều này làm cho cơ cấu vốn của công ty đã bớt an toàn.

Năm 2009

SỬ DỤNG VỐN Số tiền Tỷ trọng NGUỒN VỐN Số tiền Tỷ trọng I. Tăng tài sản 162,267 92.02% I. Giảm tài sản 27,208 15.43%

1. T & CKTĐ

Tiền 24,160 13.70% 1. ĐTTC Ngắn Hạn 12,898 7.31%

2. CKPT 69,031 39.15% 2. ĐTTCDH 1,527 0.87%

3. HTK 47,666 27.03% 3. TSDH K 12,783 7.25%

4. TSNH K 1,049 0.59%      

5. TSCĐ 20,361 11.55%      

II. Giảm NV 14,067 7.98% II. Tăng NV 149,126 84.57%

1. TDVCP 10,745 6.09% 1. Vay & Nợ NH 26,761 15.18%

2. Cổ phiếu quỹ 3,193 1.81% 2. PTNB 10,564 5.99%

3. CL TGHĐ 129 0.07% 3. PT K 61,401 34.82%

      4. Vay DH 8,876 5.03%

      5. QĐTPT 25,624 14.53%

      6. LN Chưa PP 13,601 7.71%

      7. Quỹ KT & PL 2,299 1.30%

Cộng 176,334 100.00% Cộng 176,334 100.00%

 Trong năm 2009 tổng vốn sử dụng của công ty là 176.334 triệu đồng trong đó chủ yếu là tăng tài sản : 162.267 triệu chiếm tỷ trọng 92.02%, phần còn lại 7.98% là do giảm nguồn vốn.

 Cụ thể các mục đích sử dụng vốn trong năm 2009 như sau:

- Mục đích sử dụng vốn trong năm của công ty là gia tăng các khoản phải thu tăng 69.031triệu (39,15%). Điều này cho thấy trong năm công ty đưa ra chính sách bán chịu nhiều hơn. Với cơ chế thị trường như hiện nay thì chính sách bán chịu giúp công ty mở rộng thị trường, mở rộng doanh số , khích lệ và củng cố niềm tin giữa các đại lý và công ty bán hàng nhiều hơn. Tuy nhiên, chính sách này sẽ làm cho công ty sẽ thiếu vốn, giảm năng lực chi trả khi quản lý các khoản nợ không tốt và khách hàng không trả được thì sẽ là gánh nặng về các khoản thu của công ty. Do đó công ty phải quản lý chặt chẽ các khoản nợ và phải có dự phòng hợp lý cho các khoản nợ.

- Hàng tồn kho tăng lên 47.666 triệu ( chiếm tỷ trọng 27.03%). Theo thuyết minh báo cáo tài chính thì gia tăng hàng tồn kho chủ yếu là nguyên liệu, vật liệu tăng. Mặt khác thành phẩm tồn kho chỉ tăng nhẹ hoặc là giảm nên thấy được hàng tồn kho tăng không phải do hàng không bán được, ứ đọng nguyên vật liệu mà là do công ty mua về chuẩn bị cho quy trình sản xuất mới với lượng sản phẩm lớn hơn. Như vậy tăng lượng hàng tồn kho tăng là do nhu cầu tăng nên đây là một điều tốt cho công ty.

- Công ty đã tăng một lượng tiền và các khoản tương đương tiền so 2008 là 24.160 triệu đồng ( chiếm tỷ trọng 13.7%). Lượng tiền tăng sẽ gia tăng thêm tính thanh khoản của công ty, đảm bảo khả năng chi trả và giảm thiểu rủi ro. Mặt khác, lượng tiền trong công ty quá lớn sẽ làm giảm khả nảng sinh lời của công ty nhưng ở đây tăng 13.7% không quá lớn nên ít tác động đến khả năng sinh lời của công ty. Mục đích sử dung vốn như thế này có hiệu quả.

- Tài sản cố định tăng 20.361triệu ( chiếm tỷ trọng 11.55%) chủ yếu là mua sắm thiết bị máy móc, gia tăng quyền sử dụng đất ( theo thuyết minh báo cáo tài chính). Gia tăng máy móc thiết bị hiên đại góp phần làm tăng năng suất của công ty. Tạo ra số lượng sản phẩm nhiều hơn, tốt hơn làm cho khả năng cạnh tranh với các công ty cùng ngành nghề tăng lên, cải thiện vị thế và năng lực của công ty.

- Công ty còn tài trợ một phần cho thặng dư vốn cổ phần, cổ phiếu quỹ. Như vậy trong quá trình mua bán cổ phiếu quỹ công ty đã bị lỗ nên phải bù đắp.

Điều này làm cho giá trị công ty trên thị trường giảm. Phần bù đắp này không lớn nhưng công ty cần lưu ý để quản lý tốt. Và tăng cổ phiếu quỹ làm cho công ty có ổn định hơn trong cơ cấu tổ chức.

- Ngoài ra còn tăng tài sản ngắn hạn khác, và bù lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái nhưng đều dưới 1% nên không thể dựa vào để đánh giá hiệu quả mục đích sử dụng vốn của công ty.

Nhìn chung mục đích sử dụng vốn của công ty năm 2009 là hiệu quả và hợp lý. Với chính sách bán chịu công ty đã thu hút được lượng mua hàng lớn hơn. Do đó công ty đã phải gia tăng lượng hàng tồn kho cũng như đầu tư thêm máy móc thiêt bị. Mặt khác đề ra chính sách này công ty đã dự trữ thêm một lượng tiền mặt để tạo tính thanh khoản khi cần thiết.

 Để tài trợ cho việc sử dụng vốn năm 2009 công ty đã tạo ra nguồn vốn bằng cách tăng nợ vay và nợ chiếm dụng cũng như các quỹ của công ty 149.126 triệu đồng, tài trợ được 84,57% cho sử dụng vốn, phần còn lại 15,43% được tài trợ bằng việc giảm tài sản.

 Cụ thể các nguồn được tạo ra để tài trợ cho việc sử dụng vốn năm 2009 như sau:

- Nguồn vốn được tạo ra chủ yếu để tài trợ cho việc sử dụng vốn là tăng các khoản phải trả khác 61.401triệu ( 34.82%). Quy mô lớn hơn sẽ sử dụng vốn nhiều hơn nên tăng các khoản phải trả khác nhiều hơn là điều bình thường mặc dù áp lực trả nợ tăng lên. Nếu tăng các khoản phải trả qua đàm phán do uy tín của công ty thì tốt còn nếu như đây là các khoản mà công ty không có tiền trả hay là gặp rủi ro về tài chính thì lại được xem xét là không tốt.

- Công ty tăng nợ vay ngắn hạn 26.761 triệu ( 15.18%). Việc tăng nợ vay ngắn hạn giúp công ty có được một cơ cấu tài chính linh hoạt. Nếu như vay ngắn hạn để trang trải các khoản chi tức thời khi mở rộng quy mô hay thị phần là điều tốt. Còn nếu như nợ vay ngắn hạn để trả các khoản đến lúc trả mà chưa thể trả thì đó là điều đáng lo. Khi gia tăng nợ vay ngắn hạn là gia tăng áp lực trả nợ trong thời gian ngắn tăng lên làm tăng rủi ro tài chính và rủi ro thanh toán của công ty.

- Gia tăng quỹ đầu tư phát triển 25.624 triệu ( 14.53%) có nghĩa là công ty chú trọng đến việc nghiên cứu ngành nghề chính của mình. Việc gia tăng quỹ này sẽ tốt nếu như trong quá trình sử dụng quỹ không bị lãng phí và có hiệu quả. Ngược lại thì vừa làm cho công ty mất đi một khoản vốn.

Như vậy trong năm 2009 thì công ty sử dụng vốn để chủ yếu để mở rộng quy mô sản xuất ( tăng máy móc thiết bị và tăng dự trữ hàng tồn kho), mở rộng thị trường, thị phần ( cho bán chịu nhiều). Để đầu tư thì công ty sử dụng nhiều nguồn vốn từ bên ngoài, chiếm 55.99% tổng nguồn vốn. Chủ yếu là từ vay ngắn hạn và các khoản phải trả khác. Các nguồn này đều là các khoản nợ ngắn hạn chứng tỏ công ty có rủi ro thanh toán cao. Mặt khác, việc trả nợ trong thời gian ngắn tạo áp lực trong các chính sách tài chính của công ty ảnh hưởng đến hoạt động và định hướng kinh doanh của công ty.

Ngoài ra ta còn thấy năm 2009 nguồn vốn dài hạn không chỉ tài trợ hoàn toàn cho tài sản dài hạn mà còn tài trợ một phần cho tài sản ngắn hạn là 349.816 triệu chiếm 66.35% tài sản ngắn hạn. Đây là tỷ lệ cao, nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn là một điều tốt nhưng nếu sử dụng quá nhiều sẽ làm chi phí sử dụng vốn cao bởi trả lãi các khoản vay dài hạn và việc làm cho sử dụng vốn cũng kém linh hoạt. Nhưng so với 80.25% của năm 2008 thì tỷ lệ này là sự thay đổi tích cực làm giảm chi phí và tạo sự linh hoạt trong việc sử dụng vốn.

So với năm 2008 thì năm 2009 tài sản dài hạn tăng thêm 6051 triệu mà nguồn vốn dài hạn lại tăng lên 36.332 triệu nên nguồn này tiếp tục tài trợ tài sản ngắn hạn làm cơ cấu tài chính ổn định hơn, rủi ro thấp hơn.

Qua đây ta nhận thấy rằng năm 2009 thì cơ cấu tài chính của công ty ổn định hơn so với năm 2008. Tuy nhiên vẫn tiềm ẩn rủi ro do gia tăng các khoản nợ vay ngắn hạn. Kết hợp việc phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn trong năm 2009 thì công ty đã sử dụng vốn có hiệu quả hơn trong việc mở rộng quy mô và thị phần đồng thời công ty cũng đã có những định hướng đúng đắn để phát triển trong tương lai.

Một phần của tài liệu Tiểu luận - PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - đề tài - PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM (Trang 23 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(55 trang)
w