1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận nlqlkt phân tích hệ thống mục tiêu và các triết lý cơ bản của quản lý kinh tế

11 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Hệ Thống Mục Tiêu Và Các Triết Lý Cơ Bản Của Quản Lý Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 29,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quá trình quản lý Quản lý kinh tế là công việc thường xuyên đặc biệt là trong nền kinh

Trang 1

MỞ ĐẦU

Kinh tế là một lĩnh vực quan trọng trong đời sống xã hội, quyết định đến

sự phát triển của đất nước Do đó hoạt động quản lý kinh tế luôn được quan tâm

và chú trọng

Quản lý là công việc được tiến hành trên mọi lĩnh vực nhằm mang lại hiệu quả tối ưu nhất Quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quá trình quản lý

Quản lý kinh tế là công việc thường xuyên đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay Quản lý kinh tế nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường đối với nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng, ổn định và bền vững hơn

Trong hoạt động quản lý kinh tế việc nghiên cứu các triết lý quản lý và mục tiêu quản lý là vô cùng quan trọng, các triết lý quản lý sẽ giúp cho nhà quản

lý tìm hiểu cách thức quản lý mang lại hiệu quả cao nhất đạt được mục tiêu quản lý

Với những lý do trên em đã chọn đề tài: “Phân tích hệ thống mục tiêu

và các triết lý cơ bản của quản lý kinh tế Ý nghĩa của các vấn đề đó trong thực tiễn”

Trang 2

NỘI DUNG

1 Một số khái niệm cơ bản

- Quản lý kinh tế:Quản lý kinh tế là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra các hoạt động trong quá trình tái sản xuất trên phạm vi toàn xã hội hay trong mỗi doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu đã định

- Mục tiêu: Mục tiêu là kết quả mà những nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức của họ Không có mục tiêu hoặc mục tiêu không rõ ràng thì kế hoạch sẽ mất phương hướng Các tổ chức thông thường không phải chỉ hướng tới một mục tiêu, mà thường là một hệ thống các mục tiêu phụ thuộc

và ràng buộc lẫn nhau

2 Hệ thống mục tiêu của quản lýkinh tế

Trong ảnh hưởng nền kinh tế nước ta hiện nay từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN phải trải qua nhiều giai đoạn và không ít khó khăn Để đạt được tới đích cuối cùng thì ta phải ra phương hướng và mục tiêu cụ thể

– Đó là đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, không gặp phải những biến động xấu, tốc độ tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ

9 – 10% Đưa đất nước cơ bản thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu tạo đà mạnh mẽ cho bước phát triển mới vào những năm đầu thế kỷ XXI Tránh những cuộc khủng hoảng thiếu hoặc thừa, lạm phát, duy trì mức lạm phát ở mức một con số Đồng thời tạo việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố xuống 5% Để đạt được những điều đó, Nhà nước phải chú trọng: thúc đẩy nhanh chóng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và năng động Ổn định kinh tế vĩ mô, tích luỹ từ nội bộ kinh tế kìm hãm lạm phát, tích cực huy

Trang 3

động các nguồn vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn Tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu và đảm bảo các quan hệ kinh tế quốc tế Tạo lập những điều kiện vững chắc về nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật

– Nhà nước phải đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội Nhà nước sữa chữa những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả như: hạn chế ảnh hưởng của độc quyền, tình trạng vô chính phủ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường cụ thể đối với các tổ chức độc quyền, lợi dụng ưu thế của mình có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận và do đó phá vỡ

ưu thế cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước để hạn chế độc quyền, đảm bảo tình trạng hiệu quả của cạnh tranh thị trường Còn đối với những hoạt động tiêu cực bên ngoài cũng dẫn đến không hiệu quả của hoạt động thị trường như ô nhiễm nguôn nước và không khí, khai thác đến cạn kiệt tài nguyên khoáng sản và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp Vì vậy Nhà nước phải

sử dụng đến luật pháp để ngăn chặn những tác động tiêu cực đó

– Cùng với các mục tiêu trên thì Nhà còn có mục tiêu quan trọng khác để giúp cho nền kinh tế phát triển lành mạnh đó là giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế Như đã nói cơ chế thị trường là cơ chế tốt nhất

để điều tiết một nền kinh tế có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trường có một loạt những khuyết tật vì vậy ở nước ta nền kinh tế do cơ chế thị trường điều tiết phải

có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế nhằm sửa chữa những thất bại của thị trường đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, hiệu quả và đạt được công bằng xã hội

Ở nước ta, để đạt được các mục tiêu đó thì không phải là việc nói mà làm ngay được, mà nó là cả một quá trình Quá trình đó không chỉ đòi hỏi không có

sự can thiệp của Nhà nước mà nó còn đòi hỏi sự nỗ lực của các tổ chức, các doanh nghiệp và của mỗi thành viên trong xã hội Vì mục đích cuối cùng không

Trang 4

chỉ có lợi cho Nhà nước, cho nền kinh tế mà còn có lợi cho mỗi gia đinh, mỗi thành viên trong xã hội

3 Triết lý cơ bản của quản lý kinh tế

Triết lý quản lý của F.W.Taylor

Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, trường phái quản lý cổ điển - còn gọi là trường phái phổ biến - gồm hai thuyết quản lý chính: thuyết quản lý theo khoa học (do F.W.Taylor là đại diện chủ yếu) và tiếp đó là thuyết quản lý tổng quát (do H.Fayol đề xướng) Trường phái cổ điển đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản lý với những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hoạt động quản lý trong xã hội công nghiệp, mà những nội dung cơ bản của nó vẫn có giá trị cao cho đến bây giờ

Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916) xuất thân là một công nhân cơ

khí ở Mỹ, kinh qua các chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư Với kinh nghiệm dày dặn của mình, ông đã phân tích quá trình vận động (thao tác) của công nhân, nghiên cứu quy trình lao động hợp lý (với các động tác không trùng lặp, tốn ít thời gian và sức lực) để đạt được năng suất cao Đó là sự hợp lý hóa lao động, theo nghĩa rộng là tổ chức lao động một cách khoa học Với các công trình nghiên cứu “Quản lý ở nhà máy” (1903), “Những nguyên lý quản lý theo khoa học” (Principles of scientific management) năm 1911, ông đã hình thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở

Mỹ Thuyết này sau đó được Henry Ford ứng dụng qua việc lập ra hệ thống sản xuất theo dây chuyền dài 24km trong Nhà máy ôtô con đạt công suất 7000 xe mỗi ngày (là kỷ lục thế giới thời đó) Ngoài ra, Taylor còn viết nhiều tác phẩm

có giá trị khác Ông được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học” 

4 Nội dung quản lý theo khoa học dựa trên các nguyên tắc sau:

Trang 5

- Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp (chia nhỏ các phần việc) và xây dựng định mức cho từng phần việc Định mức được xây dựng qua thực nghiệm (bấm giờ từng động tác).

- Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục) Các thao tác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ

- Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ

về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân.

- Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ thể Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng

và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục.

Với các nội dung nói trên, năng suất lao động tăng vượt bậc, giá thành thấp; kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao để cả chủ và thợ đều có thu nhập cao Qua các nguyên tắc kể trên, có thể rút ra các tư tưởng chính của thuyết Taylor là: tối ưu hóa quá trình sản xuất (qua hợp lý hóa lao động, xây dựng định mức lao động); tiêu chuẩn hóa phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp; phân công chuyên môn hóa (đối với lao động của công nhân và đối với các chức năng quản lý); và cuối cùng là tư tưởng “con người kinh tế” (qua trả lương theo số lượng sản phẩm để kích thích tăng năng suất và hiệu quả sản xuất) Từ những tư tưởng

đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp, tạo được bước tiến dài theo

Trang 6

hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XX cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy

Người ta cũng nêu lên mặt trái của thuyết này Trước hết, với định mức lao động thường rất cao đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực Hơn nữa, người thợ bị gắn chặt với dây chuyền sản xuất tới mức biến thành những “công cụ biết nói”, bị méo mó về tâm - sinh lý, và như vậy là thiếu tính nhân bản Từ đó, đã từng có ý kiến cho rằng thuyết này đã né tránh, dung hòa đấu tranh giai cấp mang tính cách mạng Tuy nhiên, tương tự nhiều thành tựu khác của khoa học

-kỹ thuật, vấn đề là ở người sử dụng với mục đích nào Chính vì thế, trong khi Lênin phê phán đó là “khoa học vắt mồ hôi công nhân”, ông vẫn đánh giá rất cao như một phương pháp tổ chức lao động tạo được năng suất cao, cần được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó điều kiện lao động được cải thiện và lợi nhuận từ lao động thặng dư được sử dụng để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần toàn xã hội

Từ tinh thần cốt lõi ban đầu, đã thu hút nhiều nhà quản lý có tài năng tham gia “Hiệp hội Taylor” để hoàn thiện, phát triển thuyết quản lý theo khoa học Qua đó, đã hạn chế tính cơ giới của tư tưởng “con người kinh tế”, đặt nhân tố con người lên trên nhân tố trang bị kỹ thuật, nhân bản hóa quan hệ quản lý, dân chủ hóa sản xuất, phát huy động lực vật chất và tinh thần với tính công bằng cao hơn và đề cao quan hệ hợp tác hòa hợp giữa người quản lý với công nhân Đóng góp đáng kể vào quá trình đó có công lao của Henry L Gantt (1861 - 1919) về

hệ thống tiền thưởng; của Ông bà Gilbreth về việc loại bỏ các động tác thừa và

về cơ hội thăng tiến của người công nhân, v.v…

Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp

cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu (có hiệu quả cao), tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản

Trang 7

lý Các thuyết quản lý và trường phái quản lý khác vừa kế thừa thành tựu đó, vừa nâng cao những nhân tố mới để đưa khoa học quản lý từng bước phát triển hoàn thiện hơn

Vận dung:

Nhà quản lý phải hiểu công việc mà họ quản lý, phải từ việc để bố trí người, để định cán bộ (điều này rất quan trọng trong công tác cán bộ…)

Phải từ việc (từ quy trình kỹ thuật của sản phẩm) để tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý, việc tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý phải phù hợp với thiết kế

kỹ thuật hay “phải từ việc mà sinh ra tổ chức”…

Phải phân công, phân cấp triệt để, không để ai làm toàn bộ một công việc

Triết lý quản lý của Henry Fayol

Fayol sinh năm 1841, là kỹ sư công nghiệp người Pháp Theo ông, những chức năng hành chính có thể viết ra và giảng dạy như là những nguyên tắc hành chính Cho đến tuổi 75, sau quãng đời chức nghiệp của mình - bắt đầu từ vị trí quản đốc mỏ than ở Commentry – Pháp, sau đó trở thành người đứng đầu một

đế chế công nghiệp và hành chính, không chỉ bao gồm lĩnh vực than mà còn những khu lò luyện kim và các nhà máy thép, Fayol mới bắt đầu viết ra những hiểu biết của mình về quản lý hành chính

Ông đã rất thành công nhờ vào kỹ năng riêng có của một nhà quản lý Ông xây dựng các kế hoạch hành động, lập các dự báo kinh tế và kỹ thuật chính xác, và tiến hành đánh giá việc thực thi nhiệm vụ của những nhân viên mà ông giám sát Ông dành một khối lượng thời gian khổng lồ cho công tác phối kết hợp giữa các đơn vị trong tổ chức Ông thiết lập một hệ thống kiểm soát để xác minh

Trang 8

liệu các nhiệm vụ có được triển khai dựa trên kế hoạch đã đề ra Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Fayol nhìn nhận về hành chính như một quá trình Điều này đối lập với thực tiễn đang thịnh hành - đặt hành chính dưới sự kiểm soát của các nhà chuyên môn sâu Ví dụ, để quản lý mỏ, người ta nghiên cứu về công trình mỏ Để quản lý một đội quân, người ta đi sâu về chuyên môn trong chiến lược quân sự

Fayol quan niệm rằng quản lý hành chính tốt là một quá trình bao gồm một số lượng các điều kiện nhất định, phổ biến chung cho tất cả các tổ chức Chẳng có trở ngại gì đối với người quản lý khi được giao điều hành một khu mỏ hay một trung đoàn, làm việc trong một nhà máy hay trong một cơ quan chính phủ Nguyên tắc khái quát của Fayol là: (1) nhất quán về mệnh lệnh – mỗi nhân viên chỉ nhận lệnh từ một lãnh đạo: “mỗi người một thầy” (2) kim tự tháp tổ chức – khi ban hành mệnh lệnh hay giải quyết tranh chấp, tất cả các giao tiếp phải thông qua những kênh chính thống (3) phạm vi kiểm soát – có một giới hạn nhất định về số lượng nhân viên mà một người giám sát có thể theo dõi hiệu quả, nói chung là tối đa không quá 12 người (4) Tập trung hoá - tổ chức được điều hành từ trên xuống Trách nhiệm tối cao thuộc về lãnh đạo bên trên chứ không phải quần chúng nhân viên (5) Tính trách nhiệm – cấp trên giao thẩm quyền gắn với trách nhiệm, bao gồm quyền lực áp đặt các biện pháp xử phạt

Công trình nghiên cứu của Fayol có ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt quản lý Chẳng hạn như, thứ nhất, người lãnh đạo có thể mở rộng phạm vi kiểm soát nhân viên hay các đơn vị đến mức độ nào thì vẫn đảm bảo được tính hiệu quả Phạm vi kiểm soát hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại hình công việc gì, tính cách cá nhân của lãnh đạo và những nhân viên bị kiểm soát như thế nào, khoảng cách vật chất giữa lãnh đạo và nhân viên ra sao, mức độ đáp ứng của các trợ lý và điều kiện hỗ trợ quản lý thế nào

Trang 9

Nội dung này liên quan đến vấn đề cơ bản về quản lý hiệu quả trong hệ thống công vụ Nhiều lãnh đạo, bao gồm cả cấp quốc gia, cấp bộ ngành trung ương, thủ trưởng cơ quan chính phủ hay quản lý đô thị được giao trách nhiệm giám sát một số lượng nhân viên vượt quá phạm vi có thể kiểm soát Trong nhiều trường hợp, thay vì giảm bớt số nhân viên phải báo cáo mình để có thể giám sát hiệu quả hơn, họ lại tăng cường trợ lý và các phương tiện bổ trợ công tác điều hành Mặc dù chưa có số liệu chính xác nhưng hầu hết các chuyên gia quản lý cho rằng không nên vượt quá 20 đơn vị hay cá nhân phải báo cáo hoặc chịu sự giám sát từ một công chức điều hành

Tầm quan trọng thứ hai là, nguyên tắc nhất quán mệnh lệnh chỉ rõ mối quan hệ giữa người ra lệnh và những người là chủ thể của việc chấp hành lệnh, được áp dụng nhiều trong quản trị nhân sự Trong mô hình cơ cấu tổ chức thứ bậc, không ai nhận lệnh từ hai lãnh đạo trở lên Hầu hết cán bộ điều hành chỉ đạo các nhân viên theo mảng chức năng, quyền hạn của mình; đồng thời lại chịu trách nhiệm trước cán bộ lãnh đạo cấp cao hơn trong hệ thống thang bậc quản

lý Nguyên tắc này được áp dụng triệt để trong tổ chức quân đội và áp dụng hiệu quả trong các đơn vị hợp nhất thực hiện những chức năng tương đồng, khi thiết lập quyền lực thứ bậc (từ trên xuống) và xây dựng trách nhiệm báo cáo giải trình (từ dưới lên đỉnh chóp), và trong việc trao thẩm quyền ra quyết định cho một cá nhân

Vận dụng:

Trước khi thực hiện điều hành công việc, nhà quản lý phải xây dựng được

hệ thống nguyên tắc, hệ thống định mức kinh tế kỹ – thuật cho từng việc…

 Trước khi thực hiện điều hành quản lý công việc, nhà quản lý phải xác định được quyền và nghĩa vụ của từng người và của từng chức danh quản lý…

Trang 10

Quyền phải gắn liền và tương xứng với nghĩa vụ, trách nhiệm để hạn chế tình trạng lạm quyền và không đủ quyển…

Quyền và nghĩa vụ khác nhau nên sinh ra trên và dưới, vì vậy quyền và nghĩa vụ phải rõ ràng thì “trên mới ra trên” “dưới mới ra dưới” để nâng cao hiệu lực của quẩn lý…

Ngày đăng: 19/12/2024, 20:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w