Cơ chế quản lý kinh tế là hệ thống các yếu tố, phương pháp, cách thức, công cụ mà chủ thể quản lý sử dụng để vận hanh, tác động, điều khiển quá trình vận động của hệ thống kinh tế nhằm thực hiện các m.
Trang 1Phân tích nội dung cải tiến cơ chế quản lý kinh tế ở nước
ta thời kỳ 1976 - 1985 và tác động của nó đến tình hình kinh
tế Qua nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt của cơ chế quản lý
kinh tế trước và sau 1986
MỞ ĐẦU NỘI DUNG
1 Bối cảnh kinh tế - xã hội tác động đến việc cải tiến cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam giai đoạn 1976 - 1985
Sau khi thống nhất đất nước với chủ trương đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Nước ta đã đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm xác lập chế độ công hữu XHCN gắn với đó là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, xóa bỏ các thành phần kinh tế phí XHCN Nhưng trên thực tế không ít tổ chức kinh tế quốc doanh và tập thể tồn tại chỉ có tính hình thức sản xuất kinh doanh yếu kém, thua lỗ kéo dài Đã dẫn đến việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm trọng các nguồn lực, sản xuất kém hiệu quả, nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan Những sự việc
đó gây ra rất nhiều hậu qủa xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt nặng nề, thu nhập từ nền kinh tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như không có Vốn đầu tư chủ yếu dựa vào vay viện trợ của nước ngoài Đến cuối những năm 80, giá cả leo thang, khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút thậm chí một số địa phương nạn đói đang rình rập
Mặt khác cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài bộc lộ nhiều khiếu tật không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực xã hội, cụ thể là:
Một là, nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa
trên hệ thống chi tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương… đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Hai là, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây
ra thì ngân sách Nhà nước phải gánh chịu
Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhà nước làm thay chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn các doanh nghiệp vừa
bị trói buộc, vì không có quyền tự chủ, vừa ỷ lại vào cấp trên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
Ba là, quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là
chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát - giao nộp” Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Trang 2Bốn là, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động
vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá trị thị trường Với giá thấp như vậy, coi như một phần những thứ đó được cho không Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Bao cấp qua chế độ tem phiếu (tiền lương hiện vật): Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường
đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin cho”
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng thì cơ chế này có tác dụng nhất định, nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào mục đích chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nó lại thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học - công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Trong bối đó, tháng 8-1979 Hội nghị
lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương, khoá IV, đã bàn về tình hình và nhiệm vụ cấp bách kinh tế - xã hội và Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương Đây là, bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi,
cải tiến quản lý kinh tế, thử nghiệm cách làm ăn mới Hội nghị đã có những đổi mới tư duy quan trọng, thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Hội nghị chủ trương xóa bỏ những chính sách lạc hậu, kìm hãm sản xuất và ban hành những chính sách tiến bộ để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trước hết là sản xuất nông nghiệp Hội nghị chủ trương: ổn định mức nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần còn lại bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận hoặc trao đổi tự do; sửa đổi lại thuế lương thực và giá lương thực, nông sản
để khuyến khích sản xuất; sửa đổi chế độ phân phối trong hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động
Hội nghị xác định rõ phải tận dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể, kể cả kinh tế tư bản tư nhân để phát triển sản xuất, kết hợp ba lợi ích: tập thể,
cá nhân, xã hội
Tư tưởng nổi bật của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá IV là: Làm cho “sản xuất bung ra", nghĩa là phải khắc phục những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, đề ra chủ trương phù hợp để phát triển lực lượng sản xuất Nghị quyết ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận, bước đầu đã xuất hiện những điển hình về cách làm ăn mới phát huy tác dụng tích cực Tuy
Trang 3nhiên Hội nghị Trung ương sáu còn có những hạn chế, những giải pháp nêu ra chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn Sau một thời gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới: Sản xuất bung ra nhưng không đúng hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiện nhiều; giá cả ngày càng cao
2 Nội dung cải tiến cơ chế quản lý kinh tế giai đoạn 1976 - 1985
Từ thực tế trên Đảng, Nhà nước ta đã tiếp tục cải tiến cơ chế quản lý kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển Việc cải tiến cơ chế quản lý được tiến hành trên rất nhiều lĩnh vực trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề nông nghiệp, công nghiệp và giá, lương, tiền Cụ thể như sau:
a) Về cơ chế quản lý trong nông nghiệp
Đối mặt với sự sa sút của tình hình sản xuất nông nghiệp, ngay từ dầu năm
1975 một số địa phương đã tự tìm kiếm mày mò cách làm mới Điển hình là mô hình khoán đến hộ gia đình, cho xã viên mượn đất, khuyến khích khai hoang, phục hóa đaats đại Mặc dù không được chấp nhận song vì hiệu quả trên thực tế của việc làm này mà ở một số địa phương đã tự động lan dần sang các địa phương khác ở các mức
độ khác nhau
Tháng 8/1979, hội nghị TW6 đã ban hành nghị quyết về vấn đề kinh tế xã hội cấp bách và chủ trương làm cho sản xuất bung ra Ngay sau đó, hàng loạt chủ trương, chính sách cụ thể nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp: Chủ trương cho phép các hộ xã viên được mượn đất của hợp tác xã; ổn định mức nghĩa vụ giao nộp lương thực; điều chỉnh thuế, giá mua nông sản, bài bỏ chế độ phân phối lương thực theo định mức, thừa nhận sự tồn tại kinh tế hộ gia đình xã viên…
Để lựa chọn quyết định đúng đắn trước hiện tượng khoán hộ, ngày 21-10-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địa phương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp Ngay sau đó, cơ chế khoán hộ được triển khai rộng rãi ở nhiều hơp tác xã trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, ngay sau đó, hình thức khoán này cũng lập tức bộc lộ ngay hạn chế đó là việc không gắn lợi ích và trách nhiệm của người lao động với kết quả sản xuất
Rút kinh nghiệm qua khoán thí điểm cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100/CT-TW về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đề cập: mở rộng khoản sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đối với các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề khác trong hợp tác xã Khoán trong hợp tác xã nông nghiệp, xã viên làm ba khâu (cấy, chăm bón, thu hoạch) các khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm, vượt khoán thì xã viên được hưởng Phương hướng chủ yếu trong cải tiến khoán là khuyến khích lợi ích chính đáng của người lao động làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất và quản lý hợp tác xã đều gắn với sản phẩm cuối cùng Nhờ đó, các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất đã phát huy được tốt hơn khả năng của người lao động, tận dụng được điều kiện về vốn và vật tư, chú trọng các biện pháp thâm canh, tăng năng suất, tăng thu nhập, giải quyết tốt việc kết hợp lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, lợi ích của người lao động
b) Về cơ chế quản lý trong công nghiệp
Việc duy trì phát triển khu vực kinh tế quốc doanh trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ rất nhiều hạn chế cần phải nghiêm túc nhìn nhận đánh giá Đó là việc các xí nghiệp quốc doanh không thể tự chủ sản xuất kinh doanh mà hoàn toàn phụ
Trang 4thuộc vào chỉ tiêu do nhà nước ấn định, trong khi nguồn lực của nhà nước thì rất hạn chế, dẫn đến sản xuất công nghiệp trì trệ, kém phát triển, quy mô nhỏ bé; việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trong điều kiện gần như các nguồn lực để đáp ứng thiếu; năng suất chất lượng, hiệu quả đầu tư thấp, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế yếu, kém…
Trên cơ sở tổng kết các hiện tượng "xé rào" và làm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và Long An, ngày 21-1-1981 Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-CP về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền
tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Quyết định nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi; cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba phần (phần Nhà nước giao, phần tự làm, phần sản xuất phụ) Cùng ngày 21-1-1981 Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định 26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước
Trên cơ sở phân tích và kết luận về tình hình thực hiện Quyết định 25/CP, ngày 25/8/1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 146/HĐBT sửa đổi bổ sung Quyết định 25/CP để phát huy mặt tích cực và uốn nắn những lệch lạc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết đó Những chủ trương chính sách nêu trên đã giảm bớt phần nào tính tập trung bao cấp trong cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các xí nghiệp quốc doanh, tạo điều kiện cho “sản xuất bung ra”, giúp cơ sở tự giải quyết một phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước
c) Cải tiến cơ chế quản lý trong lĩnh vực giá, lương, tiền
Sau 30/4/1975 hai miền Nam - Bắc vẫn còn có những khác biệt về thị trường, giá cả hàng hóa cũng như tiền tệ, cụ thể trong thời gian đó, miền Nam được lưu hành tiền của chính quyền Sài Gòn cũ, đến tháng 7/1975 mới đổi tiền cũ theo tỷ lệ một đồng ngân hàng Việt Nam mới được phát hành bằng 500 đồng tiền của chính quyền Sài Gòn Đến tháng 5/1978, Chính phủ mới cho phát hành tiền ngân hàng cũ ở miền Bắc
và bằng 0,8 đồng ngân hàng miền Nam
Khi cải tạo đối với thương nghiệp tư bản tư nhân và những người buôn bán nhỏ diễn ra, thì đồng thời thị trường có tổ chức (mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán) được mở rộng Trên thị trường này, Nhà nước quy định giá mua thóc và các loại nông sản khác, giá tư liệu sản xuất mà Nhà nước bán cho nông dân miền Nam Đồng thời, quy định danh mục các loại hàng hóa công nghiệp do Nhà nước quản lý, những hàng hóa thiết yếu cũng do Nhà nước quy định giá bán lẻ
Sau một số lần điều chỉnh giá cả hàng hóa ở 2 miền, và sau khi đổi tiển để thống nhất tiền tệ giữa 2 miền, Nhà nước quyết định mức giá thống nhất đối với các hàng hóa nhu yếu phẩm Trước hết là đối với hai mặt hàng: gạo và thịt lợn bán cho công nhân viên chức nhà nước theo giá cung cấp, đến đầu năm 1980-1981 mở rộng hơn 9 loại hàng hóa cung cấp theo định lượng bằng tem phiếu Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện chính sách 2 giá: giá cung cấp và giá kinh doanh thương nghiệp đối với nhiều mặt hàng bán lẻ khác
Ngoài ra, do thiếu hàng cung cấp, Nhà nước phải thực hiện chính sách 2 giá và điều chỉnh nhiều lần tăng giá thu mua nông sản và giá hàng cung cấp Nhưng Nhà nước điều chỉnh tăng giá thì giá hàng trên thị trường tự do cũng tăng theo Chính sách hai giá về việc duy trì chế độ bao cấp qua giá đã phát sinh nhiều mâu thuẫn khó giải quyết Lạm phát ngày càng tăng
Trang 5Do vậy, tháng 6/1985, Hội nghị TW lần thứ 8 khóa V đã đề ra những chủ trương lớn về giá, lương, tiền Đây là một chủ trương có ý nghĩa cách mạng không chỉ
về giá, lương, tiền mà cả về tài chính thương nghiệp và kế hoạch hóa
Sau Hội nghị TW 8, cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền đã được thực hiện
Cụ tể là: Thực hiện một giá kinh doanh, xóa bỏ hoàn toàn giá cung cấp và chế độ tem phiếu, chỉ giữ lại sổ gạo cho cán bộ công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và diện đối tượng chính sách Tổng điều chỉnh toàn bộ hệ thống giá Nhà nước chỉ đạo, lấy giá lúa thị trường tháng 8/1985 làm cơ sở, đưa toàn bộ mặt hàng giá chỉ đạo lên khoảng 10 lần so với trước tháng 8/1985 Trên cơ sở của mức giá mới tính lại tiền lương theo mức tăng của giá Tiến hành đổi tiền, 1 đồng tiền mới = 10 đồng tiền cũ (9/1985) Mỗi người vẫn chỉ được đổi một lượng tiền giới hạn, vượt qua giới hạn đó thì được giữ ở ngân hàng Nhà nước một thời gian khá dài sau đó mới được rút ra
Thông qua đổi tiền, hy vọng sẽ hạn chế nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cán cân tiền tệ trong nền kinh tế, tăng khả năng chi trả của ngân hàng lên 10 lần so với tiền hiện có lúc đó để giải quyết yêu cầu cho việc tăng lương, tăng giá Tỷ lệ giá hối đoái cũng được điều chỉnh từ mức 17 đồng thành 210 đồng/rup chuyển nhượng
Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương này không đạt được kết quả như mong muốn Thực tế, đổi tiền chủ yếu chỉ cắt giảm được lượng tiền mặt tích trữ và để ngoài
sổ sách của các xí nghiệp quốc doanh Khi nguồn này bị triệt tiêu, tình trạng thiếu tiền mặt đã làm ảnh hưởng đến sản xuất của các xí nghiệp
Và để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ buộc phải phát hành tiền để đảm bảo hoạt động của các xí nghiệp quốc doanh và làm lượng tiền mặt lại nhanh chóng tăng lên Lạm phát tăng nghiêm trọng ngay sau khi đổi tiền Trước khi điều chỉnh giá, lương, tiền, bình quân một tháng giá thị trường tăng 3-4% nhưng sau khi điều chỉnh, giá thị trường tự do quý IV/1985 tăng bình quân tới 18,1%/tháng Lạm phát tăng cao, tình hình lưu thông, phân phối ngày càng rối ren
Thực tế cải tiến cơ chế quản lý có tác động bước đầu đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và giá, lương, tiền, tuy nhiên cải tiến chưa thoát khỏi tư duy kinh tế cũ mà
nó vẫn diễn ra trong mô hình kinh tế cũ nên không thể khắc phục được khuyết tật của
mô hình này, những vấn đề mới lạ được nẩy sinh với cơ chế quản lý Điều đó dẫn đến
sự trì trệ khủng hoảng đến phát triển và đến giữa những năm 80 đã khủng hoảng đến kinh tế xã hội, đời sống, việc làm gặp nhiều khó khăn, đói nghèo, tệ nạn xã hội ra tăng Cũng từ tác động của cải tiến cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn đến những tác động của nó đối với nông nghiệp, công nghiệp, giá lương, tiền
3 Tác động của việc cải tiến cơ chế quản lý kinh tế giai đoạn 1976 - 1985 đối với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và vấn đề giá, lương, tiền
a) Mặt tích cực
* Đối với lĩnh vực nông nghiệp
Thực hiện Chỉ thị 100 và Nghị quyết Đại hội V của Đảng, nông nghiệp nước ta
có những bước tiến mới Đầu tư cho sản xuất nông nghiệp đươc nâng cao Nhà nước
đã thực hiện chủ trương khai hoang, phục hóa, tăng vụ, diện tích gieo trồng được tăng thêm 1,5 triệu ha, đã cung ứng thêm cho nông nghiệp gần 10.000 máy kéo các loại, đưa tỉ lệ cơ giớ hóa làm đất lên 25% diện tích gieo trồng Diện tích trồng rừng đạt 500.000 ha, thêm gần 1 triệu ha được tưới nước
Sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn 1981 -1985 đã được phát triển một bước quan trong Năm 1985, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 126,9% so với năm
1980, bình quân hàng năm tăng 4,9%; sản lượng lương thưc tăng 27%, đạt 18,2 triệu
Trang 6tấn, bình quân đầu người đạt 304 kg (so với mức 268 kg năm 2008) So với giai đoạn
1976 - 1980, sản lượng bình quân năm 13,35 triệu tấn thì giai đoạn 1981 - 1985 là 17 triệu tấn, tăng 3,65 triệu tấn Như vậy, với chủ trương tập trung cao độ cho sản xuất nông nghiệp, coi “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, đã ngăm chăn được tình trạng giảm sút trong nông nghiệp, cơ bản đảm bảo được lương thực, thực phẩm
* Đối với lĩnh vực công nghiệp
Giai đoạn này, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề phát triển công nghiệp, tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn được tiếp tục đẩy mạnh Nhà nước đã đầu tư vào ngành công nghiệp gần 65 tỷ đồng (tính theo giá năm 1992), chiếm 40% tổng số vốn đầu tư và khu vực sản xuất vật chất, có tốc độ tăng cao hơn mức tăng bình quân của toàn bộ khu vực sản xuất vật chất Trong đó, chúng ta đã đầu tư vào nhóm A trên 70% và nhóm B dưới 30%
Từ 1979-1985 có nhiều công trình công nghiệp tương đối lớn đã được xây dựng như nhà máy nhiệt điện Phả Lại, thủy điện Hòa Bình, thủy điện Trị An; khu dầu khí Vũng Tàu; các nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Hà Tiên; nhà máy phân lân Lâm Thao; nhà máy sợi Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang; nhà máy đường Lam Sơn, La Ngà; các nhà máy giấy Bãi Bằng, Tân Mai…Do đó giá trị tài sản của toàn ngành công nghiệp đã được tăng lên đáng kể Đồng thời năng lực sản xuất mới của nhiều ngành công nghiệp cũng được nâng lên Riêng thời kỳ 1981-1986, tăng thêm 456.000kwh điện; 2,5 triệu tấn than; 2,1 triệu tấn xi măng; 330.000 tấn sợi, giấy 58.000 tấn, đặc biệt dầu mỏ cũng bắt đầu được khai thác
Đại hội IV đề ra kết quả thực hiện trong giai đoạn đó về công nghiệp trong giai đoạn này là: giá trị sản lượng cơ khí đạt 80%; sản lượng điện đạt 3.680 triệu kwh đạt 73,6 %; than 52%, khai thác gỗ tròn là 1,577 triệu m3, đạt 45%; vải mặc là 182 triệu mét, đạt 40,4%; đánh bắt cá biển là 399 ngàn tấn, đạt 39,9%; giấy bìa là 48,3% ngàn tấn, đạt 28%; sản lượng thép là 62,5 ngàn tấn, đạt 25%.Thời kỳ 1981-1985: Sản xuất công nghiệp vượt qua thời kỳ suy thoái và khủng hoảng, bắt đầu có bước phát triển đều đặn, rõ ràng, năm sau cao hơn năm trước Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1983
đã vượt năm 1977 (năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch 5 năm 1976 - 1980), năm 1984
đã vượt 20% so năm 1977 Đến năm 1985, toàn ngành Công nghiệp đã sản xuất được
105 tỷ đồng giá trị sản lượng, tăng trên 61,3% so với năm 1976 và 57,4% so với năm
1980 Trong thời kỳ 1981-1985, giá trị sản lượng công nghiệp tăng 57,4%, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 9,5%, trong đó nhóm A tăng 6,4% và nhóm B tăng 11,2%, công nghiệp trung ương tăng 7,8% và địa phương tăng 10,4%, tiểu thủ công nghiệp tăng 11,4% Cơ cấu công nghiệp thay đổi như sau: nhóm A/B năm 1980 là 37,8%/62,2% và năm 1985 là 31,4%/68,6%; công nghiệp quốc doanh/ngoài quốc doanh năm 1980 là 60,2%/39,8% và năm 1985 là 56,3%/43,7%9 Cơ cấu ngành công nghiệp cũng có những biến đổi nhất định
Vào năm 1985, một số chỉ tiêu sản phẩm công nghiệp chủ yếu tính bình quân đầu người đạt như sau: điện phát ra 87,2 kWh, so với 62,7 kWh (1976); than sạch đạt 93,9 kg, so với 115 kg (1976); xi măng đạt 25,1 kg, so với 15,1 kg (1976); gạch đạt 49 viên, so với 75 viên (1976); gỗ tròn đạt 0,024 m3, so với 0,031 m3 (1976); giấy đạt 1,31 kg, so với 1,53 kg (1976); muối ăn đạt 11,2 kg, so với 11,9 kg (1976); cá biển đạt 10,5 kg, so với 12,3 kg (1976); đường mật đạt 6,7 kg, so với 1,5 kg (1976); vải lụa đạt 6,2 mét, so với 4,5 mét (1976)
* Đối với vấn đề giá, lương, tiền
Trang 7Sau Hội nghị TW8, khóa V, nước ta đã tiến hành cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiền, nâng tổng mặt bằng giá của các mặt hàng do các đơn vj doanh nghiệp nhà nước sản xuất, tiền lương của cán bộ, công nhân viên chức của nhà nước, kể cả khối doanh nghiệp nhà nước và tiến hành cải cách tiền tệ Mặc dù kết quả của cuộc tổng điều chỉnh này chỉ diễn ra được vỏn vẹn trong vòng 3 tháng nhưng cũng đã có những tác động nhất định đỗi với việc ổn định thị trường tài chính, tiền tệ và cải thiện đời sống nhân dân
b) Hạn chế
* Về nông nghiệp
Nông nghiệp chưa thật sự được coi là mặt trận hàng đầu, không được bảo đảm những điều kiện cần thiết để phát triển, nhất là vật tư, tiền vốn và các chính sách khuyến khích Cơ chế khoán sản phẩm sau một thời gian thực hiện đã phát sinh những hiện tượng tiêu cực, làm giảm động lực Có tới 80% tổng số hợp tác xã đã xảy ra tình trạng khoán trắng cho cho nông dân Tình trạng khê đọng sản phẩm tăng lên Chẳng hạn ở Hà Nam Ninh, sau ba năm thực hiện khoán, nông dân nợ Nhà nước lên tới 22.500 tấn thóc, đến cuối vụ chiêm năm 1984 lên tới 33.811 tấn Phương thức giao khoán, định mức khoán, phương án phân phối sản phẩm không thống nhất dẫn đến tuy tiện trong vận dụng, làm thiệt hại lợi ích của người nhận khoán Nông dân trả bớt ruộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã không được sử dụng tốt, thậm chí bị giảm sút
Tình trạng “rong công tính điểm” diễn ra phổ biến ở nhiều hợp tác xã, làm cho thu nhập của xã viên giảm đi Ở miền bắc giá trị ngày công trong nhiều hợp tác xã từ trên 2 kg/công giảm xuống còn 1 kg đến 0,7-0,8 kg/công, thậm chí có nơi giảm xuống còn 0,3-0,4 kg/công Ngoài ra, hợp tác xã và xã viên còn phải gánh chịu quá nhiều khoản “bao cấp cho xã hội”, “bao cấp qua gia” và nạn chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ, tham ô, lợi dụng của cán bộ quản lý ngày càng phổ biến Tất cả những vấn đề
đó làm cho nông nghiệp chững lại và bắt đầu đình trị
* Về công nghiệp
Kinh tế tăng trưởng chậm, nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2
và thứ 3 không đạt được Tất cả 15 chỉ tiêu kế hoạch đặt ra cho những năm đều không đạt được, thậm chí tỷ lệ hoàn thành ở mức độ rất thấp Chỉ có 7 chỉ tiêu đạt 50-80% so với kế hoạch (điện, cơ khí, khai hoang, lương thực, chăn nuôi lợn, than và nhà ở) còn 8 chỉ tiêu khác chỉ đạt 25-48% (trồng rừng, gỗ tròn, vải lụa, cá biển, giấy, xi măng, phân hóa học và thép) Kế hoạch 5 năm lần thứ 3 đề ra thấp hơn song cũng có 6 trong 9 chỉ tiêu không hoàn thành so với kế hoạch Điều đó ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh
tế và đời sống của nhân dân lao động
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, kể cả tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, vẫn bị coi nhẹ về tổ chức, đầu tư, chính sách Công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Một khuyết điểm lớn là đã hầu như không sắp xếp lại các cơ sở sản xuất để khắc phục sự chồng chéo, bất hợp lý, không tập trung được nguồn năng lượng, nguyên liệu, vật tư có hạn vào những cơ sở trọng điểm nhằm khai thác tốt nhất năng lực sản xuất hiện có Mặt khác, trong xây dựng cơ bản, tuy đã đình, hoãn một số công trình tương đối lớn, tập trung hơn cho các trọng điểm, nhưng
về căn bản, vẫn chưa điều chỉnh hợp lý, không kiên quyết đình, hoãn những công trình chưa thật cấp bách và kém hiệu quả, còn ham xây dựng nhiều công trình quy mô lớn Khối lượng xây dựng dở dang quá nhiều, khiến cho vốn bị đọng quá lâu Các địa phương và các ngành còn xây thêm nhiều công trình ngoài kế hoạch, làm tăng thêm sự
Trang 8phân tán về tiền vốn và vật tư.
Mặc dù có những tiến bộ, nhất là trong thời kỳ 1980-1985, nhưng nhìn chung, công nghiệp Việt Nam hãy còn nhỏ bé Năm 1985, ngành công nghiệp mới chiếm 10,7% tổng số lao động xã hội, và chủ yếu là lao động thủ công với năng suất thấp Tuy chiếm khoảng 40% giá trị tài sản cố định của cả nền kinh tế quốc dân, nhưng công nghiệp chỉ tạo ra chưa tới 30% thu nhập quốc dân, hiệu quả trên đồng vốn đầu tư còn rất thấp Công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu trong nước về trang thiết bị hiện đại hoá cho nền kinh tế và các hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân Tuy đầu tư của Nhà nước cho công nghiệp rất lớn và không ngừng tăng lên qua các năm, số lượng xí nghiệp công nghiệp cũng tăng nhanh, nhưng sản xuất công nghiệp và giá trị sản lượng lại tăng chậm
* Về vấn đề giá, lương, tiền
Việc giải quyết vấn đề giá, lương, tiền đã phạm sai lầm, điều đó được thể hiện rất rõ:
Chi ngân sách Nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng bằng mức Ban Chỉ đạo đề nghị Mặc dù nguồn thu từ viện trợ và nước ngoài không nhỏ, nhưng ngân sách vẫn trong tình trạng thiếu hụt và phải bù đắp bằng phát hành tiền Bội chi ngân sách năm 1980 là 18,1%, năm 1985 là 36,6%, dẫn đến bội chi tiền mặt
Thực tế đổi tiền chủ yếu chỉ cắt giảm được lượng tiền mặt tích trữ và để ngoài
sổ sách của các xí nghiệp quốc doanh Khi nguồn này bị triệt tiêu, tình trạng thiếu tiền mặt đã làm ảnh hưởng đến sản xuất của các xí nghiệp Để giải quyết tình trạng này Chính phủ buộc phải phát hành tiền để đảm bảo hoạt động của các xí nghiệp quốc doanh và làm lượng tiền mặt lại nhanh chóng tăng lên Lạm phát tăng nghiêm trọng ngay sau khi đổi tiền Trước khi điều chỉnh giá, lương, tiền bình quân 1 tháng giá thị trường tăng 3-4% Sau khi điều chỉnh, giá thị trường tự do quý IV năm 1985 tăng bình quân tới 18,1%/tháng Lạm phát tăng cao, tình hình lưu thông phân phối ngày càng rối ren
Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985
Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa
Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, nhất là đối với cán bộ công nhân viên, lực lượng vũ trang và một bộ phận nông dân Tiền lương thực tế bình quân hàng tháng của cán bộ công nhân viên chức so với năm 1980 chỉ bằng 51,1%; năm 1984 bằng 32,7%
Tuy cải cách giá, lương, tiền không diễn ra như kế hoạch do sự chắp vá giữa cải cách với mô hình cũ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong thời gian cuối năm
1985 và năm 1986, song chính sự khủng hoảng này đã làm cho các cấp các ngành nhận ra rằng đã cải cách là phải cải cách triệt để Mô hình cũ phải bị đoạn tuyệt hoàn toàn Trên cơ sở đó, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 đã đưa ra những chủ trương cải cách, đổi mới lịch sử
* Nguyên nhân của những hạn chế
Những hạn chế đó xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân chủ quan là chủ yếu
Về khách quan, chúng ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ là chủ
yếu, lại bị 30 năm chiến tranh tàn phá và chịu nhiều hậu quả của chủ nghĩa thực dân cũ
và mới Năm 1979, chiến tranh Ở biên giới phía tây nam và phía bắc làm cho bức
Trang 9tranh kinh tế càng xấu hơn Thiên tai vào những năm 1977, 1978 cũng góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp giảm sút v.v
Về chủ quan, trong công tác xây dựng và quản lý kinh tế của Đảng, Nhà nước
còn có một số sai lầm:
Một là, đã thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất trên mô lớn trong điều kiện chưa cho phép Điều này đã dẫn đến một bộ phận tài sản vô chủ và đã không sử dụng có hiệu quả nguồn lực rất khan hiếm của đất nước trong khi dân số ngày càng một gia tăng Đã có những biểu hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Hai là, thực hiện việc phân phối lao động cũng trong điều kiện chưa cho phép: khi tổng sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối bình quân vừa phân phối lại một cách gián tiếp đã làm mất động lực của sự phát triển
Ba là, việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công cụ hành chính, mệnh lệnh theo kiểu thời chiến không thích hợp với yêu cầu tự do lựa chọn của người sản xuất và người tiêu dùng đã không kích thích sự sáng tạo của hàng triệu người lao động Còn thiếu hiểu biết và ít kinh nghiệm quản lý, chưa chú trọng tổng kết kinh nghiệm
4 Những khác biệt cơ bản của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung giai đoạn 1976 - 1985 với cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta từ 1986 đến nay
Sau 10 năm cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975-1985), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, song tình hình kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn gay gắt, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh
tế - xã hội kéo dài trong nhiều năm Trong khi đó tình hình thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng và phực tạp Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng
sự thật Đại hội Đảng VI (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó coi trọng đổi mới kinh tế Đại hội chỉ ra phương hướng đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phát triển kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Những đặc trưng chủ yếu của cơ chế quản lý kinh tế mới là: tính kế hoạch là đặc trưng số một
và sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ là đặc trưng số hai Nền kinh tế phải được quản lý bằng các phương pháp kinh tế là chủ yếu, không coi nhẹ các biện pháp hành chính và tư tưởng Cơ chế quản lý kinh tế mới có sự biệt với cơ chế quản lý kinh
tế kế hoạch hóa tập trung, đó là:
Một là, về vai trò quản lý kinh tế của nhà nước
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng công cụ hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp dụng
từ trên xuống dưới Nhà nước can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua các kế hoạch, chỉ tiêu, các công cụ kinh tế không được coi trọng sử dụng Nhà nước đề cao tính kế hoạch, xem nhẹ vai trò của thị trường, kế hoạch của nhà nước xây dựng nhiều khi không bám sát thị trường Cho nên không có sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường Thông qua kế hoạch, chỉ tiêu định hướng cho nền kinh tế phát triển, quyết định
Trang 10tất cả từ sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu, giá cả sản phẩm, thị trường tiêu thụ … mà không tính đến quan hệ cung cầu về hàng hóa trên thị trường và năng lực thực tế, hiệu quả của từng doanh nghiệp
Cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Nhà nước quản lý nền kinh tế để định hướng dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát và sử
lý các vi phạm trong hoạt động kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội
Nhà nước quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp giữa kế hoạch với thị trường, trong đó nhà nước tôn trong những quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường để đề ra kế hoạch phát triển cho kinh tế Nhà nước kết hợp hài hòa giữa công
cụ hành chính và công cụ kinh tế trong quản lý và điều tiết nền kinh tế Trong đó, công
cụ kinh tế được coi trọng hơn Kế hoạch, chỉ tiêu chỉ mang tính chất định hướng dẫn dắt Sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường được thể hiện rõ nét ở cả tầm vĩ mô và vi
mô
Ở tầm vi mô, thông qua sự biến động của quan hệ cung - cầu và giá cả trên thị trường các doanh nghiệp có quyền lựa chọn được phương án sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao nhất Nếu không bám sát thị trường thì, các mục tiêu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không có hiệu quả và không thể thực hiện được
Ở tầm vĩ mô, các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước đều dựa
cơ sở thị trường Kế hoạch vĩ mô của Nhà nước đảm bảo những cân đối lớn, tổng thể của nền kinh tế như cung - cầu; sản xuất - tiêu dung; hàng hóa - tiền tệ…Kế hoạch vĩ
mô có thể tác động đến cung cầu, giá cả nhằm uốn nắn những lệch lạc của sự phát triển do tính tự phát của thị trường gây ra, thông qua đó mà hướng hoạt động của thị trường để ổn định kinh tế vĩ mô
Nhà nước quản lý thông qua công cụ tài chính, tiền tệ, thuế và hệ thống các chính sách, pháp luật… Cùng với đó là các qui hoạch kinh tế vùng, lãnh thổ, qui hoạch
đô thị, qui hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, kế hoạch lựa chọn công nghệ mới
Hai là, về hoạt động của các doanh nghiệp
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung các doanh nghiệp hoạt động trên
cơ sở các kế hoạch, chỉ tiêu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh
Cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, đều bình đẳng trước pháp luật Thị trường định hướng giúp các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực và phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả
Ba là, về thị trường
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung không thừa nhận sự tồn tại của các loại thị trường Nhà nước thiết lập hệ thống thị trường phân phối từ trên xuống dưới, trong đó Nhà nước ấn định giá và Nhà nước bán các sản phẩm của mình theo số lượng bắt buộc, phân phối theo đầu người Chính do không thừa nhận thị trường nên thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm sản xuất, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất, kinh doanh
và người lao động