1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Theo số liệu thống kê của khoa tâm thần

14 826 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 104 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự tử là một vấn đề luôn nóng và mang tính thời sự trong xã hội loài người. Khối lượng đồ sộ của những công trình nghiên cứu liên quan đến tự tử cho chúng ta có thể hình dung được sức nóng cũng như sự thu hút của vấn đề đối với xã hội nói chung và các nhà nghiên cứu và thực hành tâm lý nói riêng.Tỉ lệ tử tự dường như có nguy cơ ngày càng tăng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt lực lượng tự tử đang ngày càng trẻ hóa. Các nhà nghiên cứu đã thống kê và kết luận rằng: số lượng nam giới tự tử thành công (tự tử và chết) là cao hơn nữ giới, mặc dù nữ giới có ý định và hành vi tự tử cao hơn nam giới; độ tuổi tự tử ngày càng tăng dần, có nghĩa ở các lứa tuổi lớn hơn thì nguy cơ tự tử cao hơn; những người độc thân có nguy cơ tự tử cao hơn những người có gia đình; và tỉ lệ tự tử bình quân trong dân số bình thường là ít hơn rất nhiều so với tỉ lệ tự tử trong nhóm những người có các khó khăn tâm lý hoặc các bệnh lý tâm thần. Theo số liệu thống kê của Khoa tâm thần, bệnh viện Bạch Mai cho rằng, 50% các ca tự sát đều xuất phát từ người bị trầm cảm.Trong bài viết này người viết sẽ phân tích vì sao người bị trầm cảm lại có xu hướng tự sát, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp đến gia đình người trầm cảm nhằm ngăn chặn hành vi tự sát ở họ.

Trang 1

MỤC LỤC

LỞI MỞ ĐẦU

Tự tử là một vấn đề luôn nóng và mang tính thời sự trong xã hội loài người Khối lượng đồ sộ của những công trình nghiên cứu liên quan đến tự tử cho chúng ta có thể hình dung được sức nóng cũng như sự thu hút của vấn đề đối với xã hội nói chung và các nhà nghiên cứu và thực hành tâm lý nói riêng

Tỉ lệ tử tự dường như có nguy cơ ngày càng tăng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt lực lượng tự tử đang ngày càng trẻ hóa Các nhà nghiên cứu đã thống kê và kết luận rằng: số lượng nam giới tự tử thành công (tự tử và chết) là cao hơn nữ giới, mặc dù nữ giới có ý định và hành vi tự tử cao hơn nam giới; độ tuổi tự tử ngày càng tăng dần, có nghĩa ở các lứa tuổi lớn hơn thì nguy

cơ tự tử cao hơn; những người độc thân có nguy cơ tự tử cao hơn những người

có gia đình; và tỉ lệ tự tử bình quân trong dân số bình thường là ít hơn rất nhiều

so với tỉ lệ tự tử trong nhóm những người có các khó khăn tâm lý hoặc các bệnh

lý tâm thần Theo số liệu thống kê của Khoa tâm thần, bệnh viện Bạch Mai cho rằng, 50% các ca tự sát đều xuất phát từ người bị trầm cảm.Trong bài viết này người viết sẽ phân tích vì sao người bị trầm cảm lại có xu hướng tự sát, từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp đến gia đình người trầm cảm nhằm ngăn chặn hành

vi tự sát ở họ.

Trang 2

I Khái niệm

1 Khái niệm sức khoẻ

Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì sức khỏe là một trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải chỉ là trạng thái không bệnh hay tàn tật Như vậy sức khỏe nói chung gồm 3 thành phần: thể chất (bao gồm thể lực, thể hình), tâm thần (bao gồm trí tuệ, nghị lực) và xã hội (bao gồm mối quan hệ ứng xử, sự công bằng, bình đẳng và văn minh) Ba thành phần này quan hệ mật thiết với nhau, luôn tác động qua lại với nhau

2 Khái niệm sức khoẻ tâm thần

Sức khỏe tâm thần gắn liền với sức khỏe thể chất, và cũng quan trọng như sức khỏe thể chất nhằm đem lại sự khỏe mạnh cho các cá nhân, xã hội và đất nước Những hành vi liên quan đến sức khỏe tồn tại trên một phạm vi rất rộng, thường có liên quan đến thể liên tục của sức khỏe – bệnh

Theo cách hiểu đơn giản nhất, sức khỏe tâm thần là khả năng “đương đầu và thích ứng với những căng thẳng của cuộc sống theo một cách thức có thể chấp nhận được” (Anderson, 1994) Những con người có sức khỏe tâm thần lành mạnh có khả năng thực hiện thành công những hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, giải quyết các vấn đề, thiết lập các mục tiêu, thích ứng với thay đổi và yêu thích cuộc sống Họ hiểu được chính mình, tự định hướng và chịu trách nhiệm về những hành động của mình Nói tóm lại, người có sức khỏe tâm thần lành mạnh có khả năng đương đầu tốt

Trang 3

Một định nghĩa khác “sức khỏe tâm thần là khả năng của bộ máy tâm lý

hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng của mình”

Để đánh giá đúng sức khỏe tâm thần, chúng ta đưa ra 6 tiêu chuẩn: thái độ tích cực với bản thân, hiểu được giá trị đích thực của mình, có khả năng làm việc và trao đổi kinh nghiệm của mình với người khác, giữ được sự điều hòa cảm xúc, phản ứng đúng mức trước các sự kiện, có khả năng tự chủ, tự quyết định được những công việc cần làm, có khả năng hiểu biết được những gì đã xẩy

ra trong thực tế xung quanh và có khả năng tạo được mối quan hệ tốt với mọi người, trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Tóm lại, theo ý kiến của người viết: Sức khỏe tâm thần là một trạng thái

không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái

3 Khái niệm trầm cảm

Trầm cảm là biểu hiện sự ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần Nó gồm ba thành phần chủ yếu sau:

a Cảm xúc bị ức chế

Người bệnh cảm thấy chán nản, buồn rầu vô hạn Biểu hiện ra nét mặt và dáng điệu: nét mặt ủ rũ, mắt mở to, đăm chiêu suy nghĩ hoặc rơm rớm nước mắt Sự buồn rầu thường kèm theo uể oải, chân tay rã rời, cảm giác khó chịu bất an Người bệnh nhìn sự vật trong quá khứ, hiện tại, tương lai với màu sắc ảm đạm,

bi quan về tương lai

b Tuy duy bị ức chế

Quá trình liên tưởng chậm chạp, các hồi ức xuất hiện khó khăn, dòng tư duy bị ngưng trệ, khó diễn đạt ý của mình thành lời nói Người bệnh thường chìm đắm trong các chủ đề trầm cảm, rầu rĩ, khóc lóc

Thường xuyên xuất hiện các ý nghĩ tự ti hay nặng hơn thì xuất hiện các hoang tưởng tự buộc tội, không xứng đáng Bệnh nhân tự cho mình có phẩm

Trang 4

chất xấu, nhiều tội lỗi do đó mà không dám ăn uống, không dám nhìn mọi người

Trên cơ sở những hoang tưởng buộc tội, người bệnh thường xuất hiện những ý nghĩ và hành vi tự hủy hoại thân thể

c Vận động bị ức chế

Người bệnh ngồi im hàng giờ, đi lại chậm chạp, nằm im co quắp trên giường, mặt quay vào tường hoặc khúm núm chui vào gầm giường như kẻ trốn chạy Có thể có hoạt động nhưng rất hạn chế, đơn điệu, quanh quẩn quanh phòng Trên nền của hoạt động ức chế có thể xuất hiện cơ buồn sâu sắc, thất vọng nặng nề và đột ngột la hét, thổn thức, níu áo, cầu xin khóc lóc thảm thiết và đột nhiên cũng có những hành vi bất thường, thường là hành vi tự sát Đây là trạng thái kích động trầm cảm

Trạng thái trầm cảm thường nặng hơn vào buổi sáng, đặc biệt là sau khi ngủ dậy

Hội chứng trầm cảm có thể gặp trong bệnh rối loạn cảm xúc, tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần căn nguyên tâm lý

4 Khái niệm tự sát

Tự sát hành động của một người cố ý gây ra cái chết cho chính mình Tự sát thường có liên hệ với trạng thái tuyệt vọng, hoặc do một số rối loạn tâm thần cơ bản bao gồm trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, nghiện rượu và lạm dụng ma túy Chịu áp lực hoặc gặp những tình cảnh bất hạnh như khó khăn về tài chính hoặc rắc rối với các mối quan hệ giữa các cá nhân (thất tình, mâu thuẫn với gia đình, bạn bè ) có thể đóng một vai trò quan trọng gây

ra quyết định tự sát

Trang 5

II Thực trạng người mắc trầm cảm dẫn đến tự sát

Trong các loại bệnh, trầm cảm khá phổ biến trong cộng đồng Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho đến năm 2020, số người tử vong do trầm cảm sẽ đứng thứ hai chỉ sau bệnh nhồi máu cơ tim

Ước tính có khoảng 3-5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm rõ rệt Tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm cảm trong cuộc đời là 15 - 25% Bệnh trầm cảm gây ra chi phí to lớn trong xã hội và nhiều người bệnh chưa được phát hiện, chữa trị kịp thời Nó gây nguy hiểm cho sức khoẻ, làm suy giảm chức năng xã hội, nghề nghiệp cho người mắc phải; gây tổn thất cho gia đình người bệnh, cho

xã hội, là nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tự sát, các tai nạn lao động

và giao thông Có nhiều người không được phát hiện, chữa trị kịp thời nên đã tìm lối thoát đến rượu, ma tuý, thậm chí đến cái chết Theo số liệu thống kê của Khoa tâm thần, bệnh viện Bạch Mai cho rằng, 50% các ca tự sát đều xuất phát từ người bị trầm cảm

Nhiều nghiên cứu ở lĩnh vực này cho thấy, trầm cảm cũng rất dễ gặp ở trẻ

em, nhất là tuổi dậy thì là giai đoạn các em có nhiều biến đổi về tâm sinh lý Trẻ

em bị trầm cảm khó thích nghi với môi trường xung quanh, không còn thấy hứng thú, thích ứng được với học tập, trở nên khó bảo, có hành vi hỗn loạn ở gia đình và nhà trường: thích đua xe, bỏ học, dễ bị lôi kéo vào nghiện ngập, dễ vướng vào các tệ nạn xã hội Các em rất cần được tư vấn, trị liệu kịp thời

Trang 6

Các điều tra về những trường hợp tự tử ở tuổi thanh thiếu niên tại TP Hồ Chí Minh cho thấy, gần 40% số đối tượng tự tử có bệnh lý tâm thần kèm theo như trầm cảm, lệ thuộc ma túy, tâm thần phân liệt, loạn thần cấp và có đến 7,6% số người tự tử lần thứ hai trở lên Gần 5% số trẻ này có người trong gia đình tự tử Hơn 24% trường hợp là trẻ ly tán cha mẹ từ rất sớm

Ảnh hưởng nhiều nhất là những tác động từ phía gia đình đối với trẻ vì khoảng 90% trường hợp trẻ tự tử có sang chấn kết hợp, trong đó chủ yếu là sang chấn trong quan hệ với gia đình (60% trường hợp sang chấn là bị bỏ rơi, ly tán hay do bất đồng, xung đột tâm lý)

III Nguyên nhân người mắc trầm cảm dẫn đến tự sát

1 Yếu tố văn hoá - xã hội

Tỉ lệ tự sát thấp nhất ở những người đã kết hôn hoặc đang sống chung và cao nhất ở những người đã ly hôn Phụ nữ tự sát nhiều gấp 3 lần đàn ông; ngược lại, tỉ lệ tự sát thành công ở đàn ông nhiều gấp 3 lần phụ nữ Khoảng 60% các ca

tự sát xảy ra sau khi cá nhân vừa dùng đồ uống có cồn (Royal College of Psychiatrists, 1986)

Những vấn đề đẩy cá nhân đến hành vi tự sát đa dạng, tuỳ theo lứa tuổi Bản tổng quan của Hawton (1997) cho thấy trong số người trưởng thành đã từng

có ý định hoặc hành vi tự sát, có 72% là những người gặp khó khăn trong các mối quan hệ liên nhân cách, 26% có vấn đề về việc làm, 26% gặp những khó khăn với con cái, trong khi 19% có những vấn đề về tài chính ở tuổi vị thành niên, sự không ổn định về cảm xúc có thể là nguyên nhân đặc biệt khiến các em

tự sát Những vấn đề liên quan đến tình dục cũng có thể là một yếu tố nguy cơ

cụ thể đối với vị thành niên Ví dụ, Remafedi và cs (1998) đã phát hiện ra rằng: 28% vị thành niên nam đồng tính luyến ái từng tự sát, so với 4% ở vị thành niên nam bình thường Đối với phái nữ con số tương đương là 21 và 15% ở người già, tự sát có thể xảy ra như hậu quả của việc tăng cảm giác vô dụng/bất tài: 44% người cao tuổi được nghiên cứu tìm đến tự sát để không bị đưa vào viện

Trang 7

dưỡng lão (Loebel và cs.1991) Tự sát ở những người vừa mất đi người thân cũng hay xảy ra

Một mô hình xã hội có tính lí thuyết hơn về tự sát được Durkheim ([1897] 1951) phát triển Ông xác định 3 loại tự sát: do không thuộc về một tổ chức (anomic), vì người khác (altruistic) và vì mình (egoistic) Theo Durkheim, tự sát

do không thuôc về một tổ chức diễn ra khi cấu trúc xã hội mà cá nhân sống trong đó thất bại trong việc cung cấp cho cá nhân đầy đủ sự ủng hộ, và cá nhân mất đi cảm giác thuộc về một nơi nào đó - tình trạng mà Durkheim gọi là vô tổ chức/loạn cương (anomie) Mức độ cao của sự không có tổ chức xảy ra vào lúc

có cả thay đổi thuộc về xã hội lẫn con người, bao gồm các stress trong những vấn đề kinh tế, nhập cư và trạng thái bất ổn Tự sát vì người khác xuất hiện khi một cá nhân chủ tâm hy sinh bản thân họ vì sự hạnh phúc của người khác hoặc của cả cộng đồng Cuối cùng, tự sát vì mình xảy ra ở những người không bị các mực chuẩn xã hội kìm nén, họ là những người ngoài cuộc và đơn độc trong tình trạng bị xa lánh thường xuyên, hơn cả những người tìm đến tự sát do do không thuộc về một tổ chức

2 Giải thích của trường phái phân tâm

Theo Freud ([1920] 1990), tự sát biểu hiện một ham muốn bị dồn nén - muốn tiêu diệt vật mình yêu đã mất và là một hành động trả thù Hendin (1992) xác định có rất nhiều quá trình phân tâm khác nhau có thể dẫn đến tự sát, gồm ý tưởng có được tái sinh hoặc tái liên kết với vật đã mất hoặc gặp lại vật đó, cũng như tự trừng phạt và chuộc tội

3 Giải thích của trường phái nhận thức

Nhiều người có hành vi tự sát thiếu sót về trí nhớ và các kỹ năng giải quyết vấn đề, ngay cả khi so sánh với những bệnh nhân trầm cảm không tự sát (Schotte và Clum, 1987) Những thiếu hụt này khiến cho mỗi cá nhân gặp khó khăn trong việc đương đầu với những tình huống gây stress một cách thành công

và hiệu quả; nó còn khiến cho cá nhân có xu hướng sử dụng những chiến lược ứng phó không thích hợp, bao gồm cả tự sát

Trang 8

Rudd (2000) đã phát triển mô hình nhận thức về trầm cảm công phu hơn, dựa trên những kinh nghiệm lâm sàng của chính ông và mô hình của Beck về rối loạn cảm xúc Theo Rudd, các thành tố của bộ ba nhận thức tiềm ẩn bao gồm: bản thân (sự vô giá trị, không được yêu thương, kém cỏi và tuyệt vọng), người khác (sự từ chối, lạm dụng, phán xét) và tương lai (sự tuyệt vọng) Mấu chốt là những giả định thuộc chủ nghĩa cầu toàn(perfectionism) (“Nếu tôi hoàn hảo, người ta sẽ chấp nhận tôi”), dẫn đến hệ quả về mặt hành vi là trở thành nô lệ cho các mối quan hệ và sự cầu toàn thái quá Ngược lại với trầm cảm, ở đâu mà nỗi buồn chiếm ưu thế, cá nhân tự sát có thể trải qua một chuỗi các cảm xúc, bao gồm buồn bã, tội lỗi và giận dữ Các ý nghĩ có thể tập trung vào việc trả thù, nhưng điều này không trực tiếp dẫn đến hành vi tự sát Suy nghĩ và cảm xúc liên quan đến tự sát xuất hiện cùng lúc với sự kích động và khuấy động cao về mặt sinh lí: những cá nhân không bị khuấy động sự chán nản một cách sâu sắc sẽ không có động cơ để tự sát Nguy cơ tự sát thay đổi theo thời gian, trong những giai đoạn nguy cơ cao lại xuất hiện rải rác nguy cơ thấp Nguy cơ cao khi nhiều yếu tố nguy cơ cùng tác động một lúc Những yếu tố này có thể bao gồm stress

do hoàn cảnh, sự hoạt hoá những sơ đồ nhận thức tiêu cực, sự lẫn lộn về mặt cảm xúc và thiếu hụt các kỹ năng đương đầu/ứng phó

Dưới đây là những lời nói tuyệt vọng của một người phụ nữ đã lập gia đình, đang muốn tự sát; đối với người này, những sự kiện trong nhiều năm trước đây tiếp tục có ảnh hưởng bất lợi:

“Tôi không thể tiếp tục được nữa…Tôi hư hỏng… Tôi bẩn thỉu…Những

gì tôi đã làm trước đây thật tồi tệ…Tôi đã làm những việc không nên làm với đàn ông ngay khi tôi mới 6 tuổi… tôi là một con điếm Vì vậy lúc 11 tuổi tôi đã

bị cưỡng hiếp…Tôi bẩn thỉu…tồi tệ… một con điếm…và tôi không thể tử tế được Yêu ai tôi cũng khiến họ cảm thấy kinh tởm vì tôi là tôi…vì tôi bẩn thỉu Tôi không thể làm gi để thay đổi… vì tôi hư hỏng, bẩn thỉu…”

“Tôi không thể tìm được lối thoát cho mọi chuyện Tôi đã cố gắng trong suốt 30 năm, để không trở nên tồi tệ Nhưng tôi không dừng được chuyện đó Có

Trang 9

quá nhiều thứ tôi đã làm khiến tôi trở nên tồi tệ…Tôi không thể làm cho bản thân tốt hơn.”

“Chẳng có gì đáng sống nữa Chồng và con gái tôi…Họ sẽ sống tốt hơn nếu không có tôi Họ không cần tôi Tôi khiến họ bất hạnh và khi tôi ra đi họ sẽ lại hạnh phúc Họ không đáng để bị tôi làm khổ Cho nên việc tốt nhất có thể làm là tự tử…kết thúc đau khổ cho cả tôi và họ.”

Con người thể chất và con người tâm thần đều có vai trò và vị trí đến sức khoẻ của con người Tuy nhiên, thông thường mọi người thường để ý chăm sóc đến con người thể chất nhiều và bỏ quên mất con người tâm thần

IV Biện pháp can thiệp đến gia đình người trầm cảm nhằm ngăn chặn hành vi tự sát ở họ

1 Nhận biết người có nguy cơ tự tử

Hiểu biết ai có nguy cơ tự tử cao có thể giúp ngăn ngừa bi kịch Trong khi bạn không nhất thiết cần thường xuyên kiểm soát một người có nguy cơ cao, bạn

có thể cảnh giác hơn đối với các vấn đề có thể Các yếu tố có thể tăng nguy cơ

tự tử của ai đó bao gồm:

Mưu toan tự sát trước đây

Có rối loạn tâm thần, như là trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt hoặc rối loạn nhân cách

Lạm dụng rượu hoặc thuốc

Có lịch sử gia đình về rối loạn tinh thần hay lạm dụng thuốc

Có lịch sử gia đình về tự tử

Bạo hành gia đình, bao gồm thể chất hay lạm dụng tình dục

Có súng trong nhà

Bệnh nặng, như là bệnh ung thư hay đau mãn tính

Học các dấu hiệu cảnh báo về tự tử

Trang 10

Bạn không thể biết được khi nào người thân yêu hay bạn của bạn đang có ý định tự tử Nhưng đây là một số dấu hiệu báo trước điển hình :

Nói về tự tử, bao gồm nói những câu như "Tôi sắp giết chính tôi", "Tôi ước tôi chết” hoặc "Lẽ ra tôi không nên được sinh ra"

Bảo đảm cho các cách thức tự tử, như là mua súng hoặc dự trữ thuốc Tách ra khỏi tiếp xúc xã hội và muốn được còn lại một mình

Biến đổi tâm trạng thất thường, như cảm xúc tốt một lúc nào đó và sau đó lại cực kỳ nản chí

Quan tâm đến cái chết hoặc bạo lực

Cảm giác bị mắc kẹt hoặc tuyệt vọng về một tình huống

Tăng sử dụng rượu hoặc thuốc

Thay đổi thói quen bình thường hàng ngày, như là việc ăn ngủ

Tham gia các hành vi mạo hiểm hoặc tự huỷ hoại bản thân, như là sử dụng thuốc hoặc lái xe bạt mạng

Cho đi đồ đạc cá nhân hoặc thu xếp cho mọi công việc đều ổn thoả

Nói lời từ biệt với mọi người như thể sẽ không còn gặp lại nữa

Sự phát triển nhân cách thay đổi, ví dụ như trở thành rất cởi mở sau khi

đã rất nhút nhát

Hơn nữa, không phải lúc nào cũng hy vọng có thể thấy các dấu hiệu cảnh báo về tự tử Một vài người giữ bí mật ý định tự tử của họ hay phủ nhận thậm chí ngay cả khi bị hỏi trực tiếp Và nhiều người sẽ xem xét hay mưu toan tự sát khi bạn nghĩ rằng họ đã cảm thấy khá hơn – ví dụ trong cái cách như là có vẻ hết

bị trầm cảm Đó là vì cuối cùng họ đã có thể tập trung sức mạnh tinh thần để biến những suy nghĩ về tự sát của họ thành hành động

2 Các cách can thiệp

2.1 Đối với người trầm cảm có hành vi tự sát

Đối với người có hành vi tự sát và có một rối nhiễu tâm thần, có thể tận dụng điều trị của chính rối nhiễu này mà không cần bận tâm đến ảnh hưởng của

nó đối với khí sắc hay hành vi của họ Hoặc trị liệu có thể hướng trực tiếp đến

Ngày đăng: 27/06/2014, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w