Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc, đã mở rộng cơ hội học tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tậpChất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ, đã tác động để học sinh, sinh viên yên tâm và phấn đấu học tập và ra trường tìm kiếm được công việc.Một số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học và hỗ trợ khác đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thực hiện công bằng xã hội và phát triển nguồn nhân lực chất lượng ngày một cao. Ngân sách Nhà nước đầu tư và sự quan tâm cho giáo dục tăng nhanh cũng tác động đến lực lượng trí thức có chất sám cao ngày càng muốn dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục.
Trang 1
MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG HỌC
NỘI DUNG: Phân tích những thay đổi trong cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam từ năm 1945 tới nay, ý nghĩa
xã hội của những thay đổi này
NHÓM 2
1 Nguyễn Hữu Tâm
2 Ngô Thu Hương
3 Bùi Thị Bích Ngọc
4 Nguyễn Thị Thu Nguyệt
5 Lê Hà Thu Nguyệt
6 Hoàng Quý Ly
Trang 23 Giai đoạn giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1975 – 1985
4 Giai đoạn GDVN thời kỳ đổi mới
Trang 31 Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1945 - 1950
Trong giai đoạn 1946-1954 nước ta bị chia làm 2 vùng: một vùng dưới quyền kiểm soát của Việt Minh, vùng kia do Pháp chiếm đóng Diện tích hai vùng này luôn luôn thay đổi theo tình hình
chiến sự Do đó, Việt Nam có 2 chương trình giáo dục, một của
chính quyền Việt Minh, một của các chính phủ Quốc Gia.
Ngày 08/9/1945, chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ:
+ Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ
Trang 4+ Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học với ít nhất có 30 người theo
học
+ Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ và không mất tiền, hạn một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
www.themegallery.com Company Logo
Trang 5Để xây dựng cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách giáo dục mới, chính phủ đã ban hành sắc lệnh:
- Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946 khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ Nền giáo dục mới theo quy định của sắc lệnh gồm 3 bậc học:
+ Bậc cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ năm 1950 sẽ là học cưỡng bách
+ Bậc học tổng quát và chuyên nghiệp
+ Bậc Đại học
Thực hiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếng Việt, kể từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trường học.
Nhà trường trong chế độ mới bắt đầu chuyển từ nền sự phạm ủy quyền sang nền sư phạm dân chủ.
Nhà giáo được chế độ mới đặc biệt quan tâm Đảng và nhà nước rất chú trọng bồi dưỡng giáo viên mới.
Trang 6* Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất(1950)
Hệ thống bình dân học vụ phục vụ người lớn gồm có:
Trang 7Sơ cấp bình dân: thời gian học 4 tháng thanh toán được nạn mù chữ
Dự bị bình dân: thời gian học 4 tháng đưa trình độ người học đến lớp 3
Bổ túc bình dân: thời gian học 8 tháng đưa trình độ người học đến lớp 5
Trung cấp bình dân(hoặc trung học bình dân): thời gian học 18 tháng dạy đến lớp 8 hoặc cao hơn
1 chút.
Trang 8Một số hình ảnh về bình dân học vụ
Trang 9* Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
- Trong đó quy định các trường THCN, cụ thể hóa đường lối cải cách giáo dục trong ngành chuyên nghiệp
- Đề án cải cách giáo dục 7 – 1950 có quy định bậc dự bị đại học 2 năm(sau chỉ thực hiện 1 năm) nhằm bổ túc cho học sinh đã tốt nghiệp phổ thông 9 năm có đủ kiến thức tiếp tục học đại học.
- Hệ thống đại học kỳ này có Đại học y khoa, cao cấp sư phạm, cao đẳng công chính thu nhận học sinh tốt nghiệp cấp III(lớp 9) hoặc đã qua dự bị đại học.
Trang 10* Quản lý các nhà trường
Đề án 7 – 1950 xác định nguyên tắc lãnh đạo tập thể và dân chủ tập trung trong các nhà trường Ở mỗi nhà trường – đặc biệt là các trường, lớp có các hội đồng:
- Hội đồng chuyên môn
- Hội đồng khen thưởng kỷ luật
- Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị gồm có đại biểu giáo viên, đại biểu cha mẹ học sinh và đại biểu Hiệu đoàn học sinh Các hội đồng trên đều ho Hiệu trưởng làm chủ tịch Các thành viên của các Hội đồng đều có quyền thảo luận, biểu quyết như nhau.
Trang 11Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1956)
Nội dung giáo dục mang tính chất toàn diện bao gồm 4 mặt
Hệ thống giáo dục phổ thông được xác định 10 năm học bao gồm 3 cấp học:
Trang 12Năm học được quy định với 9 tháng học bắt đầu từ mùng 1 – tháng
9 và kết thúc vào 31/5 Các tháng 6,7,8 là kỳ nghỉ hè Số tuần thực học từ 33 đến 35 tuần Số tiết học ở cấp II, cấp II, mỗi tuần là 29 –
30 tiết
* Ý nghĩa:
Nhà trường “cải cách” đã tạo ra những cơ sở thực tế để phối hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, phối hợp công tác nhà trường và công tác của địa phương, tạo ra những nhân
tố mới để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với trường học, Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu niên trở thành những người phát triển về mọi mặt, những công dân tốt trung thành với
Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nước nhà có tài
có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chế
độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trang 132 GIAI ĐOẠN 1957-1975
- Cơ cấu hệ thống giáo dục Việt Nam ở giai đoạn này bao gồm:
- Giáo dục mầm non: Nhà trẻ, mẫu giáo;
- Giáo dục phổ thông: Tiểu học, trung học cơ sở, trung học chuyên ban;
- Giáo dục chuyên nghiệp: Trung học chuyên nghiệp, trung học nghề, đào tạo nghề;
- Giáo dục đại học: Cao đẳng, đại học, sau đại học;
- Giáo dục thường xuyên”
Thời Việt Nam Cộng Hòa chế độ 13 năm được cải tổ lại 12 năm cho 3 cấp như mô hình của Pháp: Cấp tiểu học: 5 năm;
trung học đệ nhất cấp: 4 năm; và trung học đệ nhị cấp: 3 năm Chế độ thi cử được áp dụng để tốt nghiệp các cấp vẫn còn rất khắt
Trang 14Giai đoạn từ 1957 đến 1975 là thời kỳ chuyển giao, biến
động và khác nhau giữa cơ cấu giáo dục của hai miền Nam Bắc
Sự khác biệt trong khung chương trình đào tạo và cấp bậc đào tạo cũng như thời gian học tập ở các bậc học khác nhau chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử Miền Bắc của nước ta áp dụng mô hình hệ thống giáo dục của Liên Xô và miền Nam lúc này đang nằm trong tay Mỹ lên có mô hình giáo dục, cơ cấu hệ thống
cũng theo những chính sách của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn
Trang 15xã hội Cơ cấu hệ thống giáo dục mang tính Mac xit rõ rệt,
về định hình phương hướng giáo dục.
Trang 163 Giáo dục Việt Nam từ 1975 đến 1986
Tháng 4 - 1975, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập và
thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn Sau ngày chiến thắng, đối với lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh miền Nam, Chính phủ tập trung vào hai nhiệm vụ:
+ Xoá bỏ tàn dư của nền giáo dục cũ
+ Thực hiện xoá mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi 50.
12-Bộ Giáo dục đã khẩn trương xây dựng và ban hành
hành chương trình 12 năm mới, biên soạn và in 20 triệu bản sách giáo khoa theo chương trình đó để thay thế sách giáo khoa cũ ở miền Nam
Trang 17Chính phủ chủ trương nhanh chóng xoá nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hoá, xem đó là nhiệm vụ cấp bách số một.
+ Chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành nhằm tạo cơ sở ban đầu cho con người phát triển toàn diện; thực hiện phổ cập giáo dục toàn dân nhằm tạo điều kiện thực hiện 3 cuộc cách mạng (về quan hệ sản
xuất, về khoa học - kỹ thuật và về văn hoá - tư tưởng)
+ Về nội dung giáo dục, hướng vào việc “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện [đức, trí, thể, mỹ], tạo ra những lớp người lao động mới làm chủ tập thể, đủ sức gánh vác sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân …”
Trang 18+ Về nguyên lý giáo dục, yêu cầu học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, nhà trường gắn liền với xã hội.
+ Về hệ thống giáo dục, thay thế hệ thống phổ thông 12
năm ở miền Nam và hệ thống 10 năm ở miền Bắc bằng một hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm mới, trong đó, trường cấp I và trường cấp II được sáp nhập thành trường phổ thông cơ sở
(chín năm), đồng thời chuẩn bị phân ban ở trung học phổ thông Nhiều trường đại học chuyên ngành được xây dựng và phát
triển.
Trang 19 Ý nghĩa xã hội:
Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi Tuy nhiên,
công cuộc xây dựng CNXH là một nhiệm vụ hết sức khó
khăn lại phải tiến hành trong điều kiện đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh liên miên nên càng nặng nề và
gian nan hơn Những hoạt động nêu trên của chính quyền cách mạng trong năm đầu tiên sau giải phóng đã đem lại lòng tin cho nhân dân, nhất là ở những vùng mới giải phóng, có tác dụng to lớn trong việc sớm ổn định tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội là điều kiện căn bản để chúng ta tiến hành công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước.
Trang 204 Giai đoạn GDVN thời kỳ đổi mới
Trang 21+ Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp;
phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới, Kiến thức cơ bản về xã hội, kỹ năng thực hành và khả năng tự học của số đông học sinh phổ thông còn kém
+ Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất cập
Trang 22+ Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
+ Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
+ Giáo dục mầm non có: nhà trẻ và mẫu giáo;
+ Giáo dục phổ thông có: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
Trang 23
+ Giáo dục nghề nghiệp có: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
+ Giáo dục đại học và sau đại học: đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
- Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
+ Giáo dục mầm non có: nhà trẻ và mẫu giáo;
+ Giáo dục phổ thông có: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
+ Giáo dục nghề nghiệp có: trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
+ Giáo dục đại học và sau đại học: đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Trang 24- Nội dung, phương pháp giáo dục
+ Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học
+ Phương pháp giáo dục phải phát huy tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Trang 25Những thành tựu và bất cập và yếu kém giáo dục Việt Nam
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ Phát triển giáo dục và đào tạo đã chuyển theo hướng đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ; đã mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Trang 26Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt người dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ
em gái và các đối tượng bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm
Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực theo hướng:
Khắc phục các tiêu cực trong ngành, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin;
Hình thành giám sát xã hội đối với chất lượng giáo dục và đào tạo;
Mở rộng môi trường giáo dục thân thiện, khuyến khích tính tích cực, chủ động trong học sinh, sinh viên;
Trang 27Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh, từ 15,3% năm 2001 lên 20% tổng chi ngân sách năm 2010 Đặc biệt công tác xã hội hoá giáo dục đã đạt được những kết quả quan trọng.
Cơ sở vật chất nhà trường được cải thiện Tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 52% năm 2006 lên 71% năm 2010 Nhà công vụ cho giáo viên và kí túc xá cho học sinh, sinh viên đã được ưu tiên đầu tư xây dựng và tăng dần trong những năm gần đây
Trang 28Những bất cập và yếu kém
Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, thiếu liên thông giữa một số cấp học và một số trình độ đào tạo, chưa
có khung trình độ quốc gia về giáo dục
Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng
Quản lý giáo dục vẫn còn mang tính bao cấp, ôm đồm, sự
vụ chồng chéo, phân tán; trách nhiệm và quyền hạn quản lý
chuyên môn chưa đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn quản lý về nhân sự và tài chính
Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới
Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu và lạc hậu Vẫn còn tình trạng phòng học tạm tranh tre, nứa lá ở mầm non và phổ thông, nhất là ở vùng sâu, vùng xa;…
Trang 29Giai đoạn hiện nay
Năm 2013, Thường trực Ban soạn thảo Đề án - Bộ GD-ĐT
đã tổ chức gặp mặt báo chí để thông báo việc hoàn thành sửa đổi dự thảo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
* Các giải pháp:
Chấn chỉnh những lệch lạc
Chuyển sang hệ thống giáo dục mở
Dạy học phân hóa
Trang 30Ý nghĩa xã hội
* Ý nghĩa tích cực
Mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển rộng khắp trong toàn quốc, đã mở rộng cơ hội học tập cho mọi người, bước đầu xây dựng xã hội học tập
Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ, đã tác động để học sinh, sinh viên yên tâm và phấn đấu học tập và ra trường tìm kiếm được công việc.
Một số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học và hỗ trợ khác đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách đã mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thực hiện công bằng xã hội và phát triển nguồn nhân lực chất lượng ngày một cao
Ngân sách Nhà nước đầu tư và sự quan tâm cho giáo dục tăng nhanh cũng tác động đến lực lượng trí thức có chất sám cao ngày càng muốn dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục.
Trang 31Một số bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức
và lối sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội.
Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và phụ cấp theo lương, chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục,
chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp.
Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, phương pháp dạy học lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và các đối tượng người học;
Nội dung chương trình chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên Khiến cho người học thụ động, lười nhác suy nghĩ… ảnh hưởng đến năng lực làm việc sau khi ra trường và giao tiếp xã hội.
Trang 32CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG
NGHE!!!