1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO

105 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Tác giả Dương Long Trì
Người hướng dẫn Ts. Hoàng Hoa Hồng
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Công nghệ khai thác thủy sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp điều tra mẫu trong khai thác hải sản do FAO xây dựng, nghiên cứu đưa ra quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản để tính toán sả

Trang 1

-

D−¬ng Long Tr×

Nghiªn cøu quy tr×nh thu thËp

sè liÖu thèng kª khai th¸c h¶i s¶n

theo ph−¬ng ph¸p cña FAO

Trang 2

Mục lục

Phần 1 - Mở đầu 4

1.1 Lý do chọn đề tài 4

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

1.4.1 ý nghĩa lý luận 5

1.4.2 ý nghĩa thực tiễn 6

Phần 2 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

2.1 Tình hình nghiên cứu ở khu vực 7

2.2 Nghiên cứu trong nước 8

2.3 Những hạn chế trong thống kê khai thác thủy sản 10

2.3.1 Hạn chế chung của hệ thống thống kê thủy sản 10

2.3.2 Hạn chế trong thống kê khai thác thủy sản 11

Phần 3 - cơ sở lý thuyết vμ phương pháp nghiên cứu 14

3.1 Cơ sở lý thuyết lựa chọn nội dung nghiên cứu 14

3.1.1 Lựa chọn phương pháp thu thập số liệu 14

3.1.2 Những ưu điểm của phương pháp điều tra chọn mẫu 16

3.2 Các cách lựa chọn mẫu điều tra 17

3.2.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản 18

3.2.2 Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống 18

3.2.3 Chọn mẫu phân nhóm 19

3.2.4 Chọn mẫu cả khối 19

3.2.5 Chọn mẫu nhiều cấp 20

3.2.6 Sai số trong điều tra chọn mẫu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

Phần 4 - Nội dung vμ kết quả nghiên cứu 23

4.1 Hiện trạng thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản ở Việt Nam 23

4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại cơ quan thống kê ngành 24

4.1.1.1 Chỉ tiêu thống kê khai thác thủy sản 24

4.1.1.2 Phương pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 25

a Thu thập số liệu thường xuyên 25

b Điều tra định kỳ hằng năm 29

4.1.1.3 Đánh giá phương pháp thu thập số liệu khai thác thủy sản hiện tại 32

a Chỉ tiêu và biểu mẫu thống kê 32

Trang 3

b Phương pháp thu thập số liệu 33

4.2 Phương pháp điều tra chọn mẫu trong khai thác thủy sản của FAO 34

4.2.1 Công thức ước tính sản lượng thủy sản khai thác 35

4.2.2 Điều tra thu thập số liệu để ước tính sản lượng khai thác 37

4.2.2.1 Điều tra cơ bản 38

4.2.2.2 Điều tra tại bến cá (điểm lên cá của tàu) 39

4.2.2.3 Điều tra hoạt động tàu 42

4.2.2.4 Điều tra ngày hoạt động tàu 45

4.2.3 Nhận xét 46

4.3 áp dụng Phương pháp thu thập số liệu của FAO trong khuôn khổ Dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam giai đoạn II (ALMRV II – Assessment of Living Marine Resources of Viet Nam)” do Danida tài trợ 46

4.3.1 Thông tin tóm tắt về Dự án ALMRV II 46

4.3.2 Phương pháp áp dụng để thu thập số liệu 48

4.3.3 Đánh giá kết quả áp dụng phương pháp thu mẫu của FAO trong khuôn khổ Dự án 49

4.3.3.1 Những ưu điểm 50

4.3.3.2 Những tồn tại, hạn chế 50

4.4 xây dựng quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản trên cơ sở phương pháp điều tra chọn mẫu của FAO .54

4.4.1 Yêu cầu nội dung thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 54

4.4.1.1 Xác định đối tượng và mục đích của thông kê khai thác thủy sản54 4.4.1.2 Xác định loại số liệu và thông tin cần có 55

4.4.1.3 Biểu mẫu chỉ tiêu thống kê khai thác thủy sản 55

4.4.2 Thiết lập quy trình thực hiện thu thập số liệu thống kê 56

4.4.2.1 Bước 1 : Điều tra số liệu tàu thuyền khai thác thủy sản 57

4.4.2.2 Bước 2 : Lựa chọn địa điểm và đối tượng điều tra (lựa chọn mẫu) 58

4.4.2.3 Bước 3 : Lập kế hoạch thực hiện điều tra mẫu 59

4.4.2.4 Bước 4- Tiến hành thu thập số liệu 65

4.4.2.5 Bước 5 - Ước tính sản lượng thủy sản khai thác 67

4.5 kết quả áp dụng thử nghiệm quy trình thu thập số liệu tại huyện Vân đồn (Quảng Ninh) 72

4.5.1 Thông tin tóm tắt về địa điểm nghiên cứu 72

4.5.1.1 Một số thông tin về khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh 72

4.5.1.2 Một số thông tin về huyện Vân Đồn 73

Trang 4

4.5.2 Thực hiện quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại

huyện Vân Đồn 75

4.5.2.1 Chuẩn bị điều tra 75

4.5.2.2 Tiến hành điều tra 80

4.5.2.3 Kết quả điều tra mẫu 81

Phần 5 - kết luận vμ thảo luận 86

5.1 Đánh giá kết quả nghiên cứu 86

5.1.1 Về quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 86

5.1.1.1 Phương pháp thu thập số liệu 86

5.1.1.2 Kết quả thu thập số liệu 87

5.1.1.3 Nguồn lực thực hiện quy trình 88

5.1.2 Quy trình xây dựng đã giải quyết được những vấn đề tồn tại trong thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 89

5.1.2.1 Đưa ra được quy trình thu thập dựa trên cơ sở khoa học 90

5.1.2.2 Nội dung số liệu đầy đủ, chi tiết phản ánh được thực trạng hoạt động khai thác thủy sản 90

5.1.2.3 Phương pháp tổ chức thực hiện thu mẫu đã được hoàn thiện 91

5.1.2.4 Chu kỳ thu thập số liệu điều tra phù hợp với công tác quản lý 91

5.1.2.5 Khắc phục được hạn chế về nguồn nhân lực thu mẫu 92

5.2 kết luận và đề xuất 92

5.2.1 Kết luận 92

5.2.1.1 Về công tác thống kê khai thác thủy sản 92

5.2.1.2 Về phương pháp thu thập số liệu 93

5.2.1.3 Kết quả áp dụng quy trình thu thập số liệu khai thác thủy sản 93

5.2.2 Đề xuất 95

5.2.2.1 Về công tác quản lý hoạt động thống kê 95

5.2.2.2 Về tổ chức thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 96

5.2.2.3 Về nguồn lực thực hiện thu thập số liệu thống kê 96

tμi liệu tham khảo 98

Phụ lục 1 99

Kết quả tổng hợp số liệu sản lượng khai thác thuỷ sản tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh 99

a Bảng ước tính sản lượng và giá trị theo loài của nghề chài chụp kết hợp ánh sáng 99

b Bảng ước tính sản lượng và giá trị theo loài của nghề lưới rê 99

c Bảng ước tính sản lượng và giá trị theo loài của nghề ven bờ 100

Phụ lục 2 101

Một số mẫu phiếu điều tra tại điểm lên cá tại huyện Vân Đồn (tháng 3, 4, 5/năm 2005) 101

Trang 5

Phần 1 - Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tμi

Trong hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với sự tăng trưởng của ngành thuỷ sản, thống kê thủy sản đã có những đóng góp quan trọng nhằm cung cấp thông tin thống kê cho các cơ quan quản lý và lập kế hoạch ở các cấp Số liệu thông tin thống kê thủy sản là những căn cứ đầu vào không thể thiếu của quá trình hình thành các quyết định quản lý và lập kế hoạch phát triển thủy sản bền vững

Tuy nhiên, hoạt động thống kê hiện tại về năng lực sản xuất thủy sản, nhất là thống kê sản lượng khai thác thủy sản, lại chưa theo kịp và đáp ứng

đầy đủ nhu cầu của hoạt động điều hành và quản lý phát triển nghề cá bền vững Đặc biệt khi muốn đưa thủy sản thành một nghề có quản lý thì lại rất thiếu thông tin số liệu, trong đó có số liệu thống kê về sản lượng khai thác thủy sản

Nghề khai thác thủy sản, có những đặc thù riêng là hoạt động trên quy mô nhỏ, phân tán dọc theo bờ biển, tàu thuyền đa dạng kiêm nghề nhiều, thành phần sản lượng khai thác gồm nhiều loài thủy sản Ngoài các cảng cá lớn được đầu tư xây dựng, còn quá nhiều bến cá nhỏ Việc thống kê sản lượng khai thác thủy sản thường gặp nhiều khó khăn

Vì vậy, việc xác dịnh phương pháp và hình thành quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động nghề cá ở Việt Nam là rất cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thống kê ngành, cải thiện chất lượng, độ tin cậy, tính kịp thời của số liệu

Trang 6

thống kê khai thác thủy sản, đáp ứng yêu cầu quản lý ngành thủy sản theo hướng bền vững và tiến tới hội nhập

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong lĩnh vực này, đề tài luận văn nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản áp dụng đối với nghề khai thác thủy sản trên cơ sở phương pháp điều tra mẫu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO)

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp điều tra mẫu trong khai thác hải sản do FAO xây dựng, nghiên cứu đưa ra quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản để tính toán sản lượng khai thác, áp dụng trong điều kiện nghề cá nước ta, góp phần cải thiện chất lượng hoạt động thống kê thủy sản phục vụ yêu cầu quản lý, lập kế hoạch của ngành về khai thác thủy sản

1.3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nghề khai thác hải sản

Địa điểm nghiên cứu : Quảng Ninh là một tỉnh có nghề cá phát triển, nhất là khai thác thủy sản, của các tỉnh ven biển phía Bắc Huyện Vân Đồn là huyện nghề cá trọng điểm của tỉnh Do vậy, đề tài lựa chọn huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) để triển khai áp dụng thử nghiệm quy trình được xây dựng trong phạm vi đề tài, từ đó đánh giá kết quả để nhân rộng trong toàn ngành

1.4 ý nghĩa lý luận vμ thực tiễn của đề tμi

1.4.1 ý nghĩa lý luận

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài và kiểm nghiệm thực tế tại địa phương, trên cơ sở lý thuyết phương pháp điều tra mẫu trong khai thác hải sản của FAO, đề tài đưa ra quy trình, phương pháp tiến hành thu thập số liệu

Trang 7

thống kê khai thác thủy sản có thể áp dụng trong điều kiện thực tiễn nghề cá nước ta

1.4.2 ý nghĩa thực tiễn

Quy trình, phương pháp thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cải thiện chất lượng, độ tin cậy và tính kịp thời của số liệu thống kê nghề cá, nâng cao hiệu quả hoạt

động của hệ thống thống kê thủy sản đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển bền vững của ngành thủy sản

Trang 8

Phần 2 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở khu vực

Hiện nay, nhiều quốc gia trong khu vực đang bắt đầu quá trình phát triển và quản lý nghề cá bền vững trên cơ sở các chính sách và chương trình

đổi mới Do vậy, thông tin thống kê thủy sản, trong đó có thông tin thống kê khai thác hải sản, có tầm quan trọng như là đầu vào thiết yếu cho quản lý và phát triển nghề cá

Đối với thống kê khai thác hải sản, trong nhiều năm trở lại đây, nhiều nước trong khu vực, nhiều cơ quan, tổ chức nghề cá quốc tế và khu vực đã có nhiều nỗ lực để thu thập và duy trì các số liệu thống kê khai thác thủy sản nhằm tiến tới hình thành một hệ thống dữ liệu nghề cá biển đầy đủ, sát thực

và kịp thời Nhiều nước trong khu vực đã có hệ thống thống kê thu thập số liệu khai thác Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có tổng kết thành phương pháp luận áp dụng cho thống kê khai thác thủy sản

Đối với các nước phát triển, nghề khai thác ở quy mô công nghiệp, tàu thuyền lớn, hạ tầng cơ cở nghề cá phát triển (bến cá, cảng cá và chợ đấu giá), nên việc thống kê dựa trên sổ nhật ký khai thác được áp dụng phổ biến và có hiệu quả Ngoài ra, sản lượng thủy sản khai thác của các tàu cá đều tập trung

về các cảng cá, chợ đấu giá và số liệu được tổng hợp hằng ngày Mặt khác, sản lượng khai thác hằng năm cho phép (Tổng sản lượng khai thác cho phép

– TAC – Total Allowable Catch) được xác định dựa trên cơ sở đánh giá

nguồn lợi đầy đủ và thường xuyên Số lượng tàu thuyền được khống chế ở mức nhất định Sản lượng khai thác có thể kiểm soát thông qua chợ bán đáu giá ngay tại các điểm lên cá Vì vậy, số liệu thống kê sản lượng thủy sản khai thác tương đối tin cậy và có chất lượng

Trang 9

Đối với các nước đang phát triển, nhất là khu vực Đông Nam á trong

đó có Việt Nam, nghề cá chủ yếu hoạt động theo quy mô nhỏ, phân tán, hạ tầng nghề cá không đồng bộ Vì vậy, việc kiểm soát hoạt động khai thác gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thống kê sản lượng thiếu chính xác, độ tin cậy thấp Phương pháp điều tra mẫu kết hợp với số liệu báo cáo là hình thức thu thập thống kê phổ biến được áp dụng trong khu vực Tuy nhiên, do đặc thù cơ cấu quản lý và tổ chức hệ thống thống kê nghề cá khác nhau, nên các nước chưa

có tiếng nói chung trong việc thống nhất phương pháp và quy trình thu thập

số liệu thống kê nghề cá, nhất là trong khai thác thủy sản

Để có hướng dẫn chung về thống kê khai thác thủy sản, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) đã nghiên cứu, xây dựng phương pháp luận điều tra chọn mẫu áp dụng trong khai thác thủy sản tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tổ chức nghề cá khu vực là Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam á (SEAFDEC) đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khu vực để tìm giải pháp cải thiện chất lượng số liệu thống kê trong lĩnh vực khai thác thủy sản, trong đó có phương pháp điều tra mẫu Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có được quy trình thu thập số liệu thống nhất áp dụng trong khu vực và cũng chưa có nghiên cứu, đánh giá kết quả áp dụng phương pháp này trong điều kiện của từng quốc gia

2.2 Nghiên cứu trong nước

Hệ thống thống kê trong ngành thủy sản bao gồm cơ quan thống kê thuộc Bộ Thủy sản và bộ phận thống kê tại các Sở Thủy sản địa phương Do hạn chế về nguồn lực (tài chính, nhân lực, phương pháp thống kê) nên số liệu thống kê có nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ, liên tục và độ tin cậy không cao

- Hiện tại, phương pháp thu thập, xử lý số liệu trong thống kê thủy sản chủ yếu dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh nghiệm, suy luận trên cơ sở

Trang 10

chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ngư trường, trình độ nuôi trồng thuỷ sản, đối tượng nuôi trồng thuỷ sản) Trên cơ sở kết quả kiểm tra tình hình thực tế, kết hợp với các thông tin, số liệu thu thập được, các cán bộ làm thống kê thủy sản tổng hợp số liệu, tình hình, phân tích và lập báo cáo thống kê theo biểu mẫu

- Trong lĩnh vực thủy sản, hệ thống thống kê Nhà nước (Tổng cục Thống kê và các Cục Thống kê địa phương) cũng tiến hành thu thập số liệu thống kê thủy sản Phương pháp sử dụng chủ yếu dựa vào các báo cáo của cấp cơ sở và điều tra mẫu định kỳ để suy rộng kết quả Hằng năm, vào cuối

kỳ kế hoạch, Cục Thống kê địa phương phối hợp với Sở Thủy sản tiến hành

điều tra mẫu để kiểm tra số liệu trước khi lập báo cáo năm

- Để hỗ trợ ngành thủy sản trong việc đánh giá nghề cá biển, trong nhiều năm qua, Dự án "Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam" (ALMRV II) do Danida (Đan Mạch) tài trợ, trong khuôn khổ Chương trình

hỗ trợ phát triển Ngành (FSPS) giai đoạn 2001 – 2005, đã hình thành đội ngũ cán bộ thu mẫu tại các tỉnh ven biển (mỗi tỉnh 1 người) để thu thập số liệu về khai thác hải sản Việc thu thập số liệu và ước tính sản lượng thủy sản khai thác dựa trên phương pháp điều tra mẫu trong khai thác hải sản của FAO Kết quả hoạt động của Dự án là cơ sở ban đầu quan trọng trong việc giới thiệu phương pháp này tại Việt Nam nhằm góp phần cải thiện công tác thống kê về khai thác thủy sản

- Nhằm tăng cường năng lực của cán bộ thống kê địa phương, Dự án

hỗ trợ kỹ thuật "Đào tạo quản lý thông tin thống kê thủy sản" do FAO hỗ trợ

đã tổ chức các khoá đào tạo trong năm 2004, trong đó có nội dung giới thiệu phương pháp điều tra chọn mẫu của FAO, cho cán bộ làm công tác thống kê thủy sản của 64 tỉnh/thành phố

Trang 11

- Trong hai năm 2002 – 2003, Trung tâm Thông tin KHKT và Kinh tế thủy sản (nay là Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản) được Bộ Thủy sản giao thực hiện Đề tài "Nghiên cứu các giải pháp KHCN để củng cố và tăng cường năng lực thông tin thống kê thủy sản của cơ quan thống kê ngành và một số tỉnh trọng điểm" Trong phạm vi nghiên cứu, Đề tài đã xây dựng được bộ chỉ tiêu và hệ thống biểu mẫu thống kê chuẩn về năng lực sản xuất thủy sản để

áp dụng thống nhất trong toàn ngành Đồng thời, trên cơ sở lý thuyết thống

kê, Đề tài đã đề xuất nghiên cứu phương pháp thu thập, xử lý số liệu trong thống kê thủy sản, trong đó có phương pháp điều tra mẫu Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chưa xây dựng được phương pháp thu thập, xử lý

số liệu cho thống kê thủy sản nói chung, và khai thác thủy sản nói riêng

Trong sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản, sản phẩm thông tin thống kê thuỷ sản nói chung và số liệu thống kê thủy sản nói riêng đã và

đang là căn cứ quan trọng để đánh giá, phân tích hiện trạng cũng như xu hướng phát triển của ngành phục vụ yêu cầu ra quyết định và lập kế hoạch của ngành theo hướng phát triển thủy sản bền vững và có quản lý Tuy vậy,

số liệu và thông tin thống kê còn thiếu tính hệ thống, tản mạn, độ tin cậy không cao, không kịp thời

2.3 Những hạn chế trong thống kê khai thác thủy sản 2.3.1 Hạn chế chung của hệ thống thống kê thủy sản

Mặc dù hệ thống thống kê thủy sản đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành trong nhiều năm qua, nhưng công tác thống kê vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý ngành theo hướng phát triển bền vững, hiệu quả và hội nhập quốc tế Bên cạnh những nỗ lực nhằm cải tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhằm cung cấp thông tin-số liệu thống kê tin cậy, kịp thời đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động quản

lý ngành, công tác thống kê đã bộc lộ nhiều hạn chế Đó là :

Trang 12

- Nguồn nhân lực của các cơ quan chịu trách nhiệm thống kê thủy sản

ở cấp ngành và địa phương thiếu cả về số lượng và chất lượng Cán bộ làm công tác thống kê ở Bộ và ở các Sở Thủy sản chủ yếu là kiêm nhiệm, hoạt

động dựa vào kinh nghiệm, chưa được đào tạo về kiến thức thống kê

- Hệ thống thống kê của ngành thủy sản, bao gồm cơ quan thống kê

ngành và các bộ phận thống kê của các Sở Thủy sản địa phương, chưa thành một hệ thống thống nhất

- Chỉ tiêu thống kê và số liệu thống kê thu thập thiếu tính thống nhất và

không được chuẩn hoá trong toàn ngành Nội dung số liệu thống kê thủy sản

đơn giản, không đầy đủ và chưa phản ánh đúng hiện trạng hoạt động thủy sản

- Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác thống kê thủy sản hạn chế, luôn

ở mức độ ưu tiên thấp so với các lĩnh vực hoạt động khác

- Công tác thống kê chưa huy động được đối tượng hưởng lợi (người sử

dụng số liệu và thông tin thống kê thủy sản) tham gia vào quá trình thu thập

và báo cáo số liệu thống kê

2.3.2 Hạn chế trong thống kê khai thác thủy sản

Với đặc thù hoạt động chủ yếu theo quy mô nhỏ, phân tán, hạ tầng nghề cá không đồng bộ, nên bên cạnh hạn chế chung của hệ thống thống kê thủy sản, công tác thông kê số liệu về sản lượng thủy sản khai thác còn có những hạn chế riêng Đó là :

- Số liệu thống kê về khai thác thủy sản đơn giản, không đầy đủ

Trang 13

+ Về sản lượng : nội dung số liệu chỉ được phân tổ theo nhóm loài (cá, giáp xác, nhuyễn thể và khác), không có được các số liệu chi tiết về thành phần sản lượng và giá trị của chúng

+ Về tàu thuyền và nghề nghiệp : Thiếu số liệu tàu thuyền phân loại theo nhóm nghề và sản lượng phân theo nhóm nghề, nên các cơ quan quản

lý khó có thể đưa ra được các biện pháp cần thiết để điều chỉnh hoạt động khai thác

Theo hướng phát triển thủy sản bền vững và có quản lý, với nội dung

số liệu như vậy sẽ hạn chế rất lớn đến chất lượng thông tin phân tích, dự báo về hiện trạng hoạt động khai thác, trên cơ sở đó đưa ra chính sách, quyết định và lập kế hoạch phát triển phù hợp

- Thiếu phương pháp và quy trình thu thập, phân tích số liệu khoa học

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh nghiệm, suy luận trên cơ sở chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ngư trường …) cho độ tin cậy của số liệu hiện có không cao Việc tính toán, xử lý còn mang nhiều tính chủ quan của người thực hiện Do vậy, kết quả phân tích, đánh giá hiện trạng, cung cấp thông tin dự báo thường không sát với thực tế của hoạt

động sản xuất trên biển

- Công tác thu thập số liệu thống kê không thường xuyên dẫn đến tính cập nhật không cao Nội dung số liệu thu thập thiếu tính thống nhất nên việc

theo dõi, so sánh, phân tích số liệu theo chuỗi thời gian gặp khó khăn

Từ những hạn chế trong thực tiễn của hoạt động thống kê thủy sản nói chung và thống kê khai thác thủy sản nói riêng, Đề tài đã tập trung nghiên cứu xây dựng quy trình thu thập số liệu thống kê trong khai thác thủy sản dựa trên phương pháp điều tra chọn mẫu của FAO Nội dung nghiên cứu cụ thể :

- Đánh giá hiện trạng thống kê khai thác thủy sản của ngành thủy sản

Trang 14

- Xây dựng quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản trên cơ sở phương pháp điều tra mẫu của FAO

- Thử nghiệm áp dụng quy trình tại địa điểm nghiên cứu (huyện Vân

Đồn, Quảng Ninh)

- Đánh giá kết quả và đề xuất biện pháp thực hiện trong lĩnh vực thống

kê thủy sản của ngành

Trang 15

Phần 3 - cơ sở lý thuyết vμ phương pháp nghiên cứu

3.1 Cơ sở lý thuyết lựa chọn nội dung nghiên cứu

Số liệu thống kê thủy sản, trong đó có số liệu khai thác thủy sản, là các dữ liệu và thông tin mô tả hiện trạng, quá khứ và nêu ra xu hướng phát triển của ngành thủy sản phục vụ công tác quản lý, xây dựng chính sách và lập kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Vì vậy, thống kê thủy sản bao gồm cả phương pháp thu thập và phân tích số liệu Bản thân số liệu sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu không được phân tich để biến thành thông tin để các nhà quản lý và hoạch định chính sách có thể hiểu được và sử dụng nó vào mục tiêu quản lý

Trong phạm vi nghiên cứu, Đề tài chỉ đề cập đến phương pháp thu thập

số liệu để đưa ra quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản để ước tính sản lượng khai thác

3.1.1 Lựa chọn phương pháp thu thập số liệu

Trong hoạt động thống kê, người ta thường sử dụng hai phương pháp

để thu thập số liệu Đó là điều tra toàn bộ (tổng điều tra) và điều tra không toàn bộ

- Điều tra toàn bộ (tổng điều tra) là phương pháp thu thập tài liệu, số

liệu ở tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu Loại điều tra này có ưu

điểm là thu thập đầy đủ, chi tiết các số liệu về từng đơn vị và cho phép xác

định quy mô (độ lớn) của hiện tượng Tuy nhiên, phương pháp này cũng đòi hỏi tốn kém cả về chi phí và thời gian Chất lượng tài liệu thu được không cao

do diện điều tra quá rộng Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, không cần thiết phải điều tra toàn bộ thậm chí có những trường hợp không thể tiến hành điều tra toàn bộ được

Trang 16

- Điều tra không toàn bộ là phương pháp thu thập tài liệu, số liệu của

một số đơn vị nhất định được chọn ra từ tổng thể chung Do cách chọn các

đơn vị để điều tra thực tế khác nhau nên có các loại điều tra khác nhau như

điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm hoặc điều tra chuyên đề…, trong đó

điều tra chọn mẫu là loại điều tra phổ biến, thường được sử dụng nhất

Trong thực tế, khi phải nghiên cứu một tập hợp các phần tử đồng nhất theo những dấu hiệu nhất định, đôi khi người ta phải sử dụng phương pháp thống kê toàn bộ tập hợp đó và tiến hành phân tích từng phần tử Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là trong thống kê khai thác thuỷ sản, phương pháp thống kê toàn bộ là rất khó khả thi

Trong khai thác thuỷ sản, nhất là nghề cá quy mô nhỏ, các bến cá thường nằm phân tán dọc bờ biển, nên sản lượng cá về bến không tập trung ở các cảng lớn và cũng không về cùng một thời điểm Do đó, nếu muốn thực hiện tổng điều tra sản lượng thủy sản hằng tháng, cần bố trí một số lượng lớn cán bộ điều tra ở tất cả các bến cá để ghi chép đầy đủ sản lượng của tất cả các tàu đã đi biển trong tháng Công việc này đòi hỏi lượng kinh phí và nhân lực vượt quá khả năng ngân sách cho hoạt động thống kê Hơn nữa, trong thực tế, phép đo lường bao giờ cũng có sai số (trừ phép đếm)

Ví dụ, để xác định khối lượng thủy sản khai thác được tại một bến cá, người ta phải cân làm nhiều lần Chắc chắn, kết quả sẽ khác nhau nếu số lần cân khác nhau Đối với tổng sản lượng khai thác thì càng khó đạt được độ chính xác tuyệt đối, kể cả khi có điều kiện tiến hành cân toàn bộ lượng hải sản khai thác được của tất cả các đội tàu (điều này là không thể thực hiện

Trang 17

tương đối của số liệu thu thập được Đó chính là lý do người ta sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu để thu thập số liệu về sản lượng thuỷ sản

Khác với điều tra toàn bộ thu thập số liệu về tổng thể một lĩnh vực hoạt

động và còn được gọi là tổng điều tra, trong điều tra chọn mẫu, một số mẫu trong toàn bộ lĩnh vực nghiên cứu được lựa chọn theo nguyên tắc mẫu đại diện cho tổng thể nghiên cứu (ở đây là các hoạt động liên quan đến lĩnh vực khai thác) Từ kết quả điều tra, có thể suy rộng cho tổng thể

3.1.2 Những ưu điểm của phương pháp điều tra chọn mẫu

Trong thống kê khai thác thủy sản, điều tra toàn bộ hay tổng điều tra toàn bộ sản lượng thủy sản tại các bến cá và cường lực khai thác là điều không thể thực hiện được do đòi hỏi nhiều nhân lực và tài lực Do vậy, Phương pháp điều tra chọn mẫu là cách thu thập mang tính khả tinh cao hơn,

ít tốn kém hơn và dễ thực hiện so với điều tra toàn bộ

Theo lý thuyết thống kê [11] điều tra chọn mẫu có ưu điểm :

• Giảm chi phí và nguồn nhân lực : Do chỉ điều tra một bộ phận nhỏ mang tính đại diện rồi suy rộng kết quả cho tổng thể, nên chi phí và nguồn nhân lực huy động cho điều tra nhỏ hơn rất nhiều so với thực hiện điều tra tổng thể (tổng điều tra)

• Nhanh hơn : Số liệu từ các mẫu thu thập được phân tích, xử lý nhanh hơn, phù hợp với tính kịp thời của thông tin

• Phạm vi nghiên cứu sâu hơn : Do thực hiện đối với các mẫu được lựa chọn, nên có thể mở rộng nội dung điều tra, tài liệu thu thập phản ánh được nhiều mặt của hiện tượng nghiên cứu

• Giảm sai sót phi chọn mẫu : Do không cần huy động nhiều người tham gia, nên có thể dùng những người có chuyên môn và được đào tạo kỹ về phương pháp thu thập Quá trình quan sát cũng vì thế cẩn

Trang 18

thận hơn và kết quả xử lý đạt hiệu quả cao hơn Vì vậy, có thể hạn chế sai sót do ghi chép, thu thập

Tuy nhiên, điều tra chọn mẫu cũng có hạn chế :

Do tiến hành thu thập số liệu trên một số đơn vị điều tra mẫu để suy rộng cho tổng thể nên luôn xuất hiện sai số chọn mẫu Sai số này càng lớn khi mẫu được lựa chọn không mang tính chất đại diện cho tổng thể

Có thể thấy, phương pháp điều tra chọn mẫu có nhiều ưu điểm như tính kịp thời cao, tiết kiệm chi phí và nguồn nhân lực, nội dung điều tra có thể mở rộng, số liệu thu mẫu có độ tin cậy cao và không đòi hỏi công tác tổ chức lớn Do vậy, sử dụng điều tra chọn mẫu trong khai thác thủy sản là phương pháp thu thập, xử lý số liệu phù hợp với thực tiễn

Bên cạnh thực hiện điều tra chọn mẫu để thu thập số liệu thường xuyên, việc tiến hành tổng điều tra trong lĩnh vực thủy sản vẫn rất cần thiết

để đánh giá lại toàn bộ hiện trạng của ngành, trong đó có khai thác thủy sản, làm cơ sở dữ liệu nền thực hiện các hoạt động điều tra chọn mẫu Tuy nhiên,

do tổng điều tra đòi hỏi nguồn nhân lực lớn, chi phí cao và lại thực hiện trên phạm vi rộng, nên tổng điều tra không thể tiến hành thường xuyên được Tổng điều tra nên được thực hiện 3 năm hoặc 5 năm một lần Để thực hiện tổng điều tra có kết quả cần có phương án điều tra cụ thể và kế hoạch thực hiện chi tiết

3.2 Các cách lựa chọn mẫu điều tra

Như đã đề cập ở trên, phương pháp điều tra chọn mẫu dựa trên nguyên tắc thu mẫu, nghĩa là lựa chọn số mẫu nhất định rồi tính toán suy rộng cho tổng thể nghiên cứu Chính vậy, hạn chế của phương pháp này là sai số chọn mẫu, sai số này lớn hay nhỏ là do tính đại diện của mẫu cao hay thấp Mẫu

được chọn phải mang tính đại diện cao cho tổng thể, tức là phản ánh đúng

Trang 19

đặc điểm của tổng thể theo dấu hiệu nghiên cứu đó Tùy theo điều kiện thực tiễn, người ta có thể áp dụng cách chọn mẫu khác nhau, hoặc kết hợp các cách này

3.2.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản

Cách chọn này cho phép bất cứ đơn vị nào của tổng thể đều có khả năng được chọn làm mẫu như nhau Từ mẫu lựa chọn có thể suy rộng các kết quả của mẫu cho tổng thể với một sai số xác định Nhưng để áp dụng phải có toàn bộ danh sách của tổng thể nghiên cứu

Chọn mẫu theo cách này cho kết quả tốt nếu các đơn vị trong tổng thể

là tương đối đồng đều Nhưng ngược lại, nếu kết cấu của tổng thể phức tạp thì phương pháp chọn mẫu này sẽ không đảm bảo được tính đại diện cao của

đơn vị mẫu Ví dụ, trong thống kê sản lượng khai thác, việc sử dụng cách chọn mẫu ngẫu nhiên sẽ khó cho kết quả tốt Tàu thuyền khai thác thủy sản thường đa dạng về kích cỡ, sử dụng các phương pháp và ngư cụ khai thác khác nhau, có tàu lại sử dụng 2 - 3 loại ngư cụ để khai thác thủy sản Vì vậy, mẫu được chọn theo cách này sẽ không bảo đảm tính đại diện cao

3.2.2 Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống

Cách chọn này dựa theo một quy luật nhất định, khách quan Trong một tổng thể, đơn vị đầu tiên được chọn ngẫu nhiên, sau đó dựa vào danh sách các đơn vị trong tổng thể để chọn ra các đơn vị tiếp theo làm mẫu theo một quy định nào đó

Ví dụ : Điều tra sản lượng khai thác thuỷ sản của một xã, việc chọn mẫu được thực hiện như sau :

- Lập danh sách tàu, thuyền khai thác thuỷ sản và sắp xếp theo tên chủ tàu trong bảng chữ cái hoặc theo thứ tự số đăng ký của tàu, thuyền

Trang 20

- Chọn ngẫu nhiên tàu, thuyền đầu tiên Ví dụ, trong danh sách theo tên chủ tàu, chọn người có số thứ tự là 2 Khoảng cách quy định lựa chọn là 5 Các tàu được chọn tiếp theo sẽ có số thứ tự lần lượt là 7,

12, 17,

Hạn chế của cách này là dễ có sai số hệ thống, nếu tổng thể không

được sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên mà theo một ý định chủ quan nào đó Tuy nhiên, do thực hiện đơn giản, nên chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống thường

được dùng ở cấp chọn mẫu cuối cùng khi tổng thể tương đối đồng nhất

3.2.3 Chọn mẫu phân nhóm

Trước khi chọn, tổng thể được phân ra thành các nhóm có cùng mức

độ đồng nhất theo một hoặc vài tiêu chí nào đó Tiếp đó, chọn ra các phần tử

đại diện cho từng nhóm để thực hiện điều tra

Ví dụ, trước khi thực hiện điều tra sản lượng thủy sản khai thác, tiến hành phân loại tàu thuyền theo nhóm công suất, theo nghề,… Đây là những yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng và sản lượng đánh bắt Sau đó, sử dụng hai cách chọn mẫu ngẫu nhiên ở trên để chọn ra các đơn vị điều tra cuối cùng

- Mỗi đơn vị của tổng thể chỉ được phân vào một khối

- Mỗi khối chứa nhiều đơn vị khác nhau về dấu hiệu nghiên cứu, sao cho nó có độ phân tán cao như của tổng thể

- Phân chia các khối tương đối đồng đều về quy mô

Trang 21

Trong lĩnh vực khai thác thủy sản, các cảng cá/bến cá thường nằm phân tán dọc bờ biển Vì vậy, trong điều tra chọn mẫu để ước tính sản lượng thuỷ sản khai thác, cách chọn mẫu này là một lựa chọn phù hợp Phân chia các cảng cá/bến cá thành các khối theo từng khu vực địa lý, sau đó chỉ điều tra một số khối rồi suy rộng cho tổng thể Tuy nhiên, khi chọn mẫu điều tra theo cách này phải chú ý :

- Nhóm được chọn phải có số lượng tàu thuyền hoạt động đủ lớn và có nhiều nghề hoạt động

- Thuận lợi cho việc đi lại của người điều tra Người điều tra có thể kết hợp đến một số hoặc toàn bộ các cảng cá/bến cá trong thời gian ngắn nhất

Ưu điểm của cách chọn mẫu cả khối là tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại, không cần phải lập danh sách tất cả các đơn vị trong tổng thể Tuy nhiên, nếu các đơn vị mẫu tập trung, không phân bố đồng đều trong tổng thể sẽ làm giảm tính đại diện của mẫu, dẫn đến sai số chọn mẫu tăng

3.2.5 Chọn mẫu nhiều cấp

Nếu các đơn vị của tổng thể phân tán quá rộng và thiếu thông tin về chúng, người ta thường chọn mẫu theo nhiều cấp Khi chọn nhiều cấp ta có các đơn vị mẫu ở mỗi cấp

Trong điều tra sản lượng thủy sản khai thác, thường chọn các cảng cá/bến cá làm đơn vị mẫu cấp 1 và các tàu, thuyền khai thác thuỷ sản làm

đơn vị mẫu cấp 2

Việc chọn mẫu ở mỗi cấp có thể thực hiện các cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, chọn mẫu hệ thống, chọn mẫu cả khối hay chọn mẫu phân nhóm

Trong thực tế điều tra chọn mẫu, thường kết hợp các cách chọn mẫu nêu trên với nhau

Trang 22

3.2.6 Sai số trong điều tra chọn mẫu

Vì kết quả điều tra chọn mẫu là cơ sở để suy rộng cho tổng thể, nên trong điều tra chọn mẫu sẽ xuất hiện sai số Đó là sự khác biệt giữa số liệu thu được từ mẫu điều tra với số liệu thực của tổng thể Thường có hai loại sai

số : sai số chọn mẫu và sai số không chọn mẫu

- Sai số chọn mẫu là sai số do việc chọn các đơn vị mẫu không mang

tính đại diện gây ra Trong thực tế, không có mẫu nào có thể đại diện chính xác cho tổng thể Để giảm sai số này chỉ có thể tăng quy mô của mẫu

- Sai số không chọn mẫu là sai số xuất hiện không do quá trình chọn

mẫu gây ra Sai số này do các nguyên nhân :

+ Đơn vị được điều tra trả lời sai vì hiểu không đúng nội dung, không nhớ chính xác hoặc cố ý cung cấp thông tin sai

+ Người thu thập số liệu ghi chép sai, bỏ sót một số đơn vị mẫu

+ Do phương pháp đếm, đo lường sai hay do quá trình hiệu chỉnh số liệu sai

Ngược với sai số chọn mẫu, sai số không chọn mẫu tăng khi số mẫu tăng lên Để giảm sai số này, khi tiến hành điều tra cần chuẩn bị kỹ nội dung

điều tra, tập huấn cho người thu mẫu và kiểm tra độ chính xác của quá trình

điều tra

Trong thực tế, khó có thể hạn chế đồng thời cả hai sai số này Khi tăng

số lượng mẫu điều tra, sai số chọn mẫu sẽ giảm nhưng sai số không chọn mẫu lại tăng và ngược lại Do vậy, việc lựa chọn quy mô mẫu có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả tính toán sản lượng thủy sản khai thác

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phạm vi và nội dung nghiên cứu, Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sau :

Trang 23

- Đánh giá hiện trạng công tác thống kê trong lĩnh vực khai thác thủy sản, phân tích ưu, nhược điểm các quy trình, phương pháp hiện tại để nêu

được những hạn chế, bất cập cần khắc phục

- Từ cơ sở lý thuyết về thống kê và phương pháp điều tra mẫu trong khai thác hải sản của FAO, xây dựng quy trình mới kế thừa ưu điểm của các phương pháp hiện có và hạn chế những nhược điểm nhằm đảm bảo chất lượng, độ tin cậy của số liệu thu thập

- Triển khai áp dụng quy trình thu thập số liệu được xây dựng tại địa

điểm nghiên cứu (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh)

- Đánh giá kết quả và đề xuất biện pháp thực hiện quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản đã được xây dựng trong thực tiện hoạt động

Trang 24

Phần 4 - Nội dung vμ kết quả nghiên cứu

4.1 Hiện trạng thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản ở Việt Nam

Theo Luật Thống kê (có hiệu lực từ ngày 01/01/2004), hệ thống thống

kê Việt Nam bao gồm hệ thống thống kê Nhà nước do Tổng cục Thống kê thực hiện và hệ thống thống kê chuyên ngành

Trong lĩnh vực thủy sản, ngoài số liệu thống kê thủy sản trong tổ hợp

số liệu toàn diện về mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia do Tổng cục Thống kê với hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương thực hiện, hệ thống thống kê của ngành thủy sản thu thập, tổng hợp các số liệu chi tiết chuyên ngành, cung cấp các thông tin cho công tác điều hành, quản lý phát triển của ngành thủy sản

Hệ thống thống kê thủy sản của ngành thuỷ sản bao gồm cơ quan chịu trách nhiệm thống kê thủy sản ở cấp Bộ (do bộ phận Thống kê thuộc Vụ Kế hoạch Tài chính tổ chức, chỉ đạo và thực hiện nhằm phục vụ công tác điều hành quản lý và lập kế hoạch của ngành) và bộ phận thống kê thủy sản thuộc các Sở Thủy sản địa phương (chịu trách nhiệm thực hiện công tác thống kê thủy sản của địa phương) Ngoài ra, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc

Sở Thủy sản địa phương là đơn vị theo dõi số liệu thống kê về tàu thuyền khai thác thủy sản có đăng ký Trung tâm Khuyến ngư tỉnh (Sở Thủy sản) cũng thu thập số liệu thống kê về nuôi trồng thuỷ sản trong phạm vi hoạt

động khuyến ngư

Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung đánh giá, phân tích hiện trạng thu thập số liệu thống kê trong lĩnh vực khai thác thủy sản

Trang 25

4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại cơ quan thống kê ngành

Như đã biết, dữ liệu thủy sản tin cậy được đánh giá là công cụ quan trọng cho việc xây dựng các chương trình phát triển của ngành, cho công tác quản lý nguồn lợi thủy sản và cho việc xây dựng các chính sách và ra các quyết định trong hoạt động quản lý của ngành Các dữ liệu này được hình thành thông qua quá trình thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá, lưu trữ và cung cấp của hệ thống thống kê thủy sản ở cấp địa phương (Sở Thủy sản, Cục Thống kê tỉnh) và cấp trung ương (Bộ Thủy sản, Tổng cục Thống kê)

Tuy nhiên, so với các lĩnh vực thu thập số liệu thống kê khác như nông nghiệp, thống kê thủy sản, đặc biệt là thống kê trong lĩnh vực khai thác thủy sản, phức tạp hơn nhiều Đặc thù của hoạt động khai thác thủy sản là phụ thuộc vào mùa vụ, ngư trường khai thác, nguồn lợi thủy sản dựa trên những

đặc tính tiếp cận mở, hoạt động khai thác thủy sản có tính di chuyển về mặt

địa lý Hơn nữa, hầu hết ngư dân (ước tính khoảng 95%) hoạt động sản xuất qui mô nhỏ, phân tán dọc theo bờ biển Đặc tính riêng này khiến cho việc thu thập thông tin và dữ liệu hết sức khó khăn

Do những đặc điểm trên, trong thời gian qua, mặc dù các cơ quan thống kê trong ngành đã có nhiều nỗ lực cải thiện chất lượng số liệu thống

kê, nhưng vẫn không thể thu thập những dữ liệu tin cậy, kịp thời, hiệu quả khai thác và sử dụng các dữ liệu thống kê cho mục tiêu quản lý còn thấp

4.1.1.1 Chỉ tiêu thống kê khai thác thủy sản

Trên cơ sở chỉ tiêu khung thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê chuyên ngành về khai thác thuỷ sản được phân tổ chi tiết hơn nhằm phục vụ công tác

điều hành, quản lý và lập kế hoạch phát triển của ngành Cụ thể :

Trang 26

- Sản lượng khai thác hải sản :

+ Tổng sản lượng + Sản lượng khai thác theo nhóm loài (cá, tôm, nhuyễn thể, khác)

- Năng lực khai thác thủy sản :

+ Tổng số tàu thuyền, công suất + Phân loại tàu thuyền theo công suất Hiện nay có hai số liệu về tàu thuyền khai thác thủy sản : 1/ Số liệu tàu thuyền có đăng ký do Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Bộ Thủy sản) và Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh thực hiện; 2/ Số liệu tàu thuyền có đăng ký và không đăng ký do Sở Thủy sản tổng hợp và báo cáo

Tuy nhiên, các chỉ tiêu này không được áp dụng thống nhất trong toàn ngành Do vậy, việc tổng hợp và phân tích số liệu của toàn ngành gặp khó khăn

4.1.1.2 Phương pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản

Quá trình thống kê thường được tiến hành theo 3 giai đoạn : thu thập

số liệu, tổng hợp và phân tích thống kê

a Thu thập số liệu thường xuyên

Căn cứ theo quy định của Pháp lệnh Kế toán và Thống kê và hướng dẫn của Bộ Thủy sản, các Sở Thuỷ sản đã quy định chế độ báo cáo thống kê

định kỳ thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp và các đơn vị sản xuất quốc doanh Hằng tuần, tháng, quý, năm, các đơn vị gửi báo cáo lên Phòng Kế hoạch đầu tư của Sở theo các chỉ tiêu, biểu mẫu được Sở hướng dẫn ghi chép chi tiết

Cán bộ chuyên trách thống kê theo dõi, thu thập số liệu, thông tin thống kê thông qua các báo cáo định kỳ về tình hình khai thác thủy sản của tỉnh thông qua các Phòng NN&PTNT huyện, đồng thời thu thập số liệu khai

Trang 27

thác qua các cảng cá và các báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, chế biến thủy sản của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản

Ngoài ra, các cán bộ thống kê của Sở còn phối hợp với các cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống cơ sở để nắm bắt tình hình hoạt động của các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, cơ sở kinh doanh tại địa phương, hoặc thu thập thông tin qua đội ngũ cộng tác viên nằm tại các xã vùng biển

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu trong thống kê khai thác thủy sản thường xuyên dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh nghiệm, suy luận trên cơ sở chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ngư trường …)

Trên cơ sở kết quả kiểm tra tình hình thực tế, kết hợp với các thông tin,

số liệu thu thập được, các cán bộ làm thống kê thủy sản tổng hợp số liệu, tình hình, phân tích và lập báo cáo thống kê theo biểu mẫu

Phương pháp thu thập số liệu thống kê thủy sản của các Sở Thủy sản chủ yếu dựa vào :

- Báo cáo của các địa phương (huyện, thị), đơn vị

- Kết quả theo dõi tình hình sản xuất trên các lĩnh vực

- Một số điều tra, phỏng vấn người sản xuất

- Phối hợp với Cục Thống kê tỉnh để xử lý thông tin số liệu

Từ thực tiễn hoạt động sản xuất của địa phương, đã có một số Sở Thủy sản sử dụng phương pháp ngoại suy trong xử lý số liệu thu thập được để suy rộng tính toán sản lượng khai thác thủy sản

Tỉnh Cà Mau là một ví dụ

Số liệu thống kê sản lượng thủy sản nói chung, sản lượng khai thác thủy sản nói riêng, được tính toán trên cơ sở số liệu hàng thủy sản chế biến, thu mua từ biểu mẫu thống kê của các đơn vị tham gia sản xuất kinh doanh

Trang 28

thủy sản thuộc tỉnh Cà Mau hằng tháng Sản lượng thủy sản được ước tính suy rộng từ sản lượng hàng thủy sản chế biến Cụ thể :

- Tính sản lượng hàng thủy sản chế biến được trong tháng gồm :

- Sản lượng hàng thủy sản tự mua chế biến

- Sản lượng hàng thủy sản đưa gia công lấy thành phẩm về Các mặt hàng chủ yếu để tính sản lượng là tôm đông, tôm sú, tôm IQF, hàng giá trị gia tăng, chả cá, cá đông, bột cá, mực,

- Tính tổng sản lượng khai thác chung :

+ Từ sản lượng tôm đông (tôm thành phẩm) chế biến được quy ra nguyên liệu theo tỷ lệ : 2 kg nguyên liệu trên 1 kg thành phẩm Tỷ lệ này có

được qua theo dõi thực tiễn và có thể tăng, giảm dựa vào thực tế mùa vụ và báo cáo tình hình sản xuất của đơn vị về cơ cấu tôm đưa vào chế biến Từ đó suy ra tôm nguyên liệu sử dụng cho chế biến là :

Tôm nguyên liệu đưa vào chế biến = Tôm đông thành phẩm x 2

+ Trên cơ sở đánh giá thực tế lượng tôm nguyên liệu của tỉnh tại từng thời điểm và dự đoán sản lượng tôm nguyên liệu không chính thức, cũng như một phần sản lượng được sử dụng làm sản phẩm khô và thực phẩm cho tiêu dùng ở địa phương, Sở Thủy sản ước tính tỷ lệ thất thoát khoảng 11% Từ đó,

có thể quy ra lượng tôm nguyên liệu sản xuất (gồm cả khai thác và nuôi trồng) theo tỷ lệ tôm nguyên liệu đưa vào chế biến chiếm khoảng 89% lượng nguyên liệu sản xuất Như vậy, tính toán sản lượng tôm có thể như sau :

Tôm nguyên liệu đưa vào chế biến X 100

Sản lượng tôm nguyên liệu sản xuất = -

89

+ Thông qua báo cáo tình hình mua nguyên liệu thủy sản hằng ngày và cơ cấu tôm nuôi thành phẩm hằng tuần (trong tháng) của các công ty, xí

Trang 29

nghiệp để xác định tỷ lệ tôm nuôi và tôm biển Từ đó, tính sản lượng tôm nuôi và tôm khai thác biển

Trên cơ sở theo dõi thực tiễn, họ ước tính tỷ lệ tôm nuôi chiếm từ 65%

- 70% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản Như vậy :

Tổng sản lượng thủy sản = SL khai thác thủy sản + SL nuôi trồng thủy sản

Sở Thủy sản đã kết hợp với Cục Thống kê tỉnh để kiểm tra số liệu báo cáo theo phương pháp trên cho từng quý, 6 tháng và cả năm

Nhận xét : Phương pháp trên là cách tích suy rộng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn trong điều kiện khó khăn hiện nay của công tác thống kê Tuy nhiên, việc tính toán tỷ lệ phần trăm hoàn toàn mang tính chủ quan, dựa vào ước đoán là chính Hơn nữa, hoạt động thủy sản là hoạt động đa dạng, phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và di chuyển ngư trường Việc tính tỷ lệ phần trăm như vậy là không chính xác Số liệu mang tính áp đặt, không phản ánh

đúng thực trạng sản xuất khai thác của địa phương

Đối với rất nhiều địa phương khác trong cả nước, sản lượng không phải hoàn toàn được chế biến tại tỉnh, mà phần lớn được vận chuyển đến nơi khác

để chế biến Vì thế, phương pháp này không thể áp dụng được trong hoạt

động thống kê Nó chỉ có thể được sử dụng để tham khảo, so sánh với số liệu thống kê thu thập được theo các phương pháp điều tra chọn mẫu

Trang 30

b Điều tra định kỳ hằng năm

Nhiệm vụ của thống kê khai thác thủy sản là phản ánh thực trạng hoạt

động sản xuất trong ngành thủy sản làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển, chính sách quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời bảo vệ

và phát triển nguồn lợi thủy sản Vì vậy, bên cạnh việc thu thập số liệu thường xuyên qua các báo cáo số liệu thống kê, các Sở Thuỷ sản đã phối hợp với Cục Thống kê tỉnh xây dựng phương án và tổ chức điều tra định kỳ hằng năm để kiểm chứng và tổng hợp số liệu về hoạt động khai thác thuỷ sản trong năm Nội dung điều tra bao gồm điều kiện sản xuất và kết quả sản xuất

- Điều tra điều kiện sản xuất

Nội dung điều tra bao gồm số liệu về lao động thuỷ sản, phương tiện tàu thuyền, thiết bị máy móc, các cơ sở vật chất khác như cảng cá, bến cá, hệ thống dịch vụ

Điều tra này được tiến hành ở tất cả các xã, phường, thị trấn có hoạt

động sản xuất thuỷ sản Số liệu được thu thập trực tiếp từ cơ sở sản xuất thuỷ sản hoặc gián tiếp qua cán bộ theo dõi thống kê và chuyên ngành của chính quyền cơ sở (thư ký UBND, cán bộ theo dõi sản xuất chuyên ngành )

Nhìn chung, cán bộ cấp xã, phường, thị trấn đều có các tư liệu, thông tin và nắm được tình hình diễn biến khai thác thuỷ sản, nhất là các xã vùng trọng điểm nên đã cung cấp được các chỉ tiêu cơ bản của điều tra này Tuy vậy, cần bổ sung thêm các chỉ tiêu thống kê, thống nhất khái niệm nội dung

để nâng cao độ chính xác của số liệu

Cho đến nay, cả Tổng cục Thống kê và ngành Thủy sản chưa tổ chức tổng điều tra riêng về thuỷ sản Do vậy, không có số liệu nền cơ bản để đánh giá mức độ chuẩn xác của số liệu điều tra, nhất là những địa phương còn dựa vào sổ sách theo dõi, báo cáo của cấp xã Tuy nhiên, nguồn số liệu điều tra

Trang 31

này là rất cần thiết để tính toán suy rộng sản lượng sản phẩm của từng địa phương như số lượng lao động, tàu, thuyền, cảng cá, bến cá và là căn cứ để tién hành điều tra mẫu

- Điều tra kết quả sản xuất

Điều tra này nhằm kiểm tra số liệu tổng hợp hằng tháng của từng địa phương về sản lượng thủy sản khai thác và giá trị sản lượng trong năm

Thống kê sản lượng thủy sản khai thác là một công việc phức tạp và khó khăn do đặc điểm sản xuất phân bố trên phạm vi rộng, phân tán Điều tra toàn diện là không khả thi, nên phương thức điều tra được lựa chọn là điều tra mẫu Từ đó, tính chỉ tiêu sản lượng sản phẩm bình quân cho một lao động, một đơn vị tàu, thuyền (hay đơn vị công suất), làm cơ sở tính toán, suy rộng cho tổng thể

Phương án điều tra mẫu do Tổng cục Thống kê hướng dẫn, Sở Thủy sản phối hợp với Cục Thống kê tỉnh thực hiện theo các bước sau :

- Phân vùng chọn mẫu :

Mỗi huyện (Thị xã hoặc tương đương) là một đơn vị tổng thể nhỏ Căn

cứ vào điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển thủy sản mà phân vùng chọn mẫu

+ Đối với khai thác thuỷ sản : Lựa chọn các xã (phường, thị trấn) có nhiều hộ và lao động hoạt động khai thác thuỷ sản, là những nơi có sẵn nguồn lợi thuỷ sản để khai thác

- Chọn đơn vị điều tra mẫu :

Chọn mẫu điều tra theo 2 cấp

Trang 32

Chọn xã đại diện : Mỗi vùng chọn từ 2 - 3 xã đại diện để điều tra Chọn theo phương pháp ngẫu nhiên Chọn đơn vị đầu tiên, sau đó tiếp tục chọn các xã thứ 2, thứ 3 bằng cách cộng (trừ) thêm khoảng cách K (K là khoảng cách phải chọn tính theo công thức) :

Với các cơ sở sản xuất nhỏ (hộ gia đình, tổ sản xuất, tập đoàn sản xuất, các tổ chức cơ quan đoàn thể trong địa bàn), mỗi xã chọn từ 15 đến 20 cơ sở khai thác thuỷ sản để điều tra, chọn ngẫu nhiên như cách chọn xã đại diện

- Phương pháp thu thập số liệu

Các điều tra viên đến trực tiếp các cơ sở mẫu để thu thập số liệu mẫu, phỏng vấn chủ cơ sở sản xuất và sổ sách ghi chép (nếu có)

- Tổng hợp và tính toán suy rộng

+ Tổng hợp kết quả điều tra toàn bộ của huyện

+ Tổng hợp các chỉ tiêu điều tra của mẫu

+ Tính toán các chỉ tiêu bình quân :

• Sản lượng thuỷ sản khai thác từng loại bình quân một lao động hay một phương tiện, một đơn vị công suất (1CV)

+ Suy rộng

Trong đó : n → số xã đại diện cần chọn

N → số xã trong vùng

Trang 33

Suy rộng theo từng loại sản phẩm cho từng vùng riêng biệt, công thức tổng quát là:

+ Lập báo cáo

Các kết quả tính toán, tổng hợp cần được kiểm tra, thẩm định lại để

đánh giá độ tin cậy của số liệu trước khi lập báo cáo

Căn cứ để xem xét, thẩm định là dựa vào kiểm tra lại, dựa vào quá trình theo dõi thực tế sản xuất thuỷ sản trong năm, tình hình tiêu thụ và chế biến thuỷ sản tại địa phương

Như vậy, thông qua số liệu điều tra mẫu, thống kê có thể tổng hợp, tính toán được các chỉ tiêu bình quân mẫu về sản lượng thuỷ sản khai thác cho một đơn vị tàu, thuyền khai thác thủy sản hoặc đơn vị công suất để làm căn cứ suy rộng tính sản lượng thuỷ sản khai thác

4.1.1.3 Đánh giá phương pháp thu thập số liệu khai thác thủy sản hiện tại

a Chỉ tiêu và biểu mẫu thống kê

Các chỉ tiêu về khai thác thủy sản bao gồm cả năng lực khai thác và sản lượng thủy sản khai thác chưa bao quát được tình hình hoạt động khai thác của từng địa phương và toàn ngành Cụ thể :

- Sản lượng thủy sản khai thác mới chi được phân tổ đơn giản gồm

hai tiêu chí : Tổng sản lượng và sản lượng phân theo nhóm loài (cá, giáp xác, nhuyễn thể và khác)

Với mức phân tổ này, không thể xác định giá trị của sản lượng khai thác và đánh giá chất lượng hiệu quả hoạt động khai thác Trong thực tế thống kê hiện tại, ngành thủy sản chưa bao giờ tính được giá trị sản lượng

Trang 34

khai thác Mặc dù sản lượng khai thác hằng năm vẫn tăng, nhưng không thể khẳng định được chiều hướng đó là tốt hay xấu, vì không có thông tin về chất lượng sản phẩm (giá trị) Mặt khác, theo hướng phát triển thủy sản bền vững và có quản lý, việc không có được các số liệu chi tiết về thành phần sản lượng sẽ hạn chế rất nhiều đến việc hoạch định chính sách, ra quyết

định và lập kế hoạch phát triển khai thai thủy sản phù hợp

- Số liệu về năng lực khai thác còn đơn giản Thống kê về tổng số tàu

thuyền và tổng công suất như hiện nay không có nhiều ý nghĩa

Do không có được số liệu tàu thuyền phân loại theo nghề (ít nhất là những nhóm nghề chính), nên các cơ quan quản lý chưa đưa ra được các biện pháp cần thiết để điều chỉnh hoạt động khai thác Ví dụ, hạn chế hoặc tăng số lượng tàu thuyền cho một nghề nào đó để giảm cường lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi và môi trường

- Chưa có qui định cụ thể và thống nhất về biểu mẫu thống kê thủy sản

trong toàn ngành Vì vậy, việc tổng hợp số liệu chung toàn ngành gặp khó

khăn Việc khai thác số liệu phục vụ công tác quản lý rất hạn chế

b Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu trong thống kê khai thác thủy sản thường xuyên chủ yếu dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh nghiệm, suy luận trên cơ sở chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ngư trường …) Vì vậy, việc tính toán, xử lý mang nhiều tính chủ quan của người thực hiện

Việc thu thập số liệu thống kê dựa trên cơ sở kiểm tra tình hình thực tế, kết hợp với các thông tin, số liệu thu thập được để tổng hợp số liệu, phân tích

và lập báo cáo thống kê theo biểu mẫu có những hạn chế sau :

- Hoạt động khai thác thuỷ sản diễn ra quanh năm, bao gồm khai thác ven bờ và khai thác xa bờ; có cơ sở đánh bắt dài ngày, đánh bắt ở các ngư

Trang 35

trường ngoại tỉnh nên việc nên việc nắm bắt thông tin, thu thập số liệu không phải lúc nào cũng thực hiện được

- Sản phẩm khai thác và cơ cấu sản phẩm là điều quan trọng đối với công tác thống kê, nhưng ngư dân ít quan tâm Họ chỉ thường chú ý tới giá trị khai thác được Phần lớn người thu thập số liệu đều dựa trên thu nhập chuyến biển của ngư dân, tính ngược lại để suy ra sản lượng thủy sản khai thác Do đó, số liệu tính toán không chính xác

- Mặc dù có tiến hành điều tra mẫu về khai thác thuỷ sản, nhưng do tiến hành một lần vào cuối năm, nên ngư dân khó nhớ lại quá trình khai thác thuỷ sản của mình Nhiều ngư dân lại tham gia đánh bắt hằng ngày, không

có sổ sách ghi chép Do vậy, số liệu thu được chỉ mang tính ước đoán (có thể cao hơn, cũng có thể thấp hơn thực tế) Trong thực tế, không phải tất cả các địa phương đều thực hiện điều tra này hằng năm Điều này cũng ảnh hưởng tới chất lượng và số liệu thu thập được

- Hoạt động khai thác thủy sản có những đặc thù riêng phụ thuộc nhiều yếu tố như nguồn lợi, ngư trường, mùa vụ và điều kiện thời tiết Vì vậy, với cách thu thập dữ liệu chủ yếu dựa vào báo cáo, kinh nghiệm theo dõi qua nhiều năm của cán bộ thống kê để có thể so sánh số liệu qua các năm, trên cơ

sở đó ước tính sản lượng thủy sản khai thác được là không chính xác, thiếu

độ tin cậy Việc điều tra mẫu tiến hành vào cuối năm chỉ nhằm mục đích kiểm chứng số liệu cả năm để có thể điều chỉnh cho phù hợp là không kịp thời, mang nặng tính chủ quan và duy ý chí

4.2 Phương pháp điều tra chọn mẫu trong khai thác thủy sản của FAO

Như đã trình bày ở trên, thống kê thủy sản nói chung và thống kê khai thác thủy sản là rất phức tạp Đặc thù của hoạt động khai thác thủy sản là phụ thuộc vào mùa vụ, ngư trường khai thác và có tính di chuyển về mặt địa lý,

Trang 36

trong khi đó nguồn lợi thủy sản lại có đặc tính tiếp cận mở Hơn nữa, hầu hết ngư dân hoạt động khai thác thủy sản với qui mô nhỏ, phân tán dọc theo bờ biển, nên việc thu thập thông tin, dữ liệu và tính toán các số liệu về sản lượng khai thác là hết sức khó khăn, ngay cả đối với những nước có nền kinh tế phát triển Vì vậy, FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc) đã xây dựng và hướng dẫn áp dụng phương pháp điều tra chọn mẫu trong khai thác thuỷ sản nhằm hy vọng giảm thiểu tối đa chi phí nguồn lực trong hoạt động thống kê thuỷ sản mà vẫn thu được kết quả như mong muốn Dưới đây là những nội dung chính của phương pháp này

⇒ SL : Sản lượng thủy sản khai thác tính theo đơn vị kg

⇒ CPUE (Catch Per Unit Effort) : Sản lượng thủy sản khai thác trên

một đơn vị cường lực CPUE được hiểu là sản lượng khai thác trung bình trong một ngày của một loại tàu thuyền (theo nghề) nào đó

Đơn vị tính : kg/tàu/ngày

⇒ A (Active days) : Số ngày các tàu khai thác thuỷ sản có thể đi biển

trong một tháng A sẽ được tính bằng số ngày dương lịch trong tháng điều tra trừ đi số ngày tất cả các tàu không đi biển trong tháng (những ngày này có thể do một số nguyên nhân như ngày nghỉ lễ, tết, rằm, mồng một…, những ngày thời tiết không thuận

Trang 37

lợi) Những ngày không đi biển sẽ bị loại ra khi tính cường lực, vì cường lực khai thác vào những ngày này bằng 0 hoặc xấp xỉ bằng 0

⇒ F (Fleet) : Tổng số tàu khai thác thuỷ sản của địa phương

⇒ BAC (Boat Active Coefficient) : Hệ số hoạt động của tàu, biểu hiện

xác xuất để một tàu thuyền khai thác thuỷ sản bất kỳ có thể đi biển vào một ngày bất kỳ trong tháng

Trong công thức (1), người ta nhóm ba nhân tố A, F và BAC thành một nhóm gọi là cường lực khai thác, và :

Ví dụ, nghề khai thác sử dụng ánh sáng sẽ không hoạt động vào những ngày sáng trăng, trong khi đó các nghề khác vẫn hoạt động bình thường Về thời tiết cũng vậy, mưa, bão chỉ ảnh hưởng đến một khu vực nhất định, những khu vực nằm ngoài vùng ảnh hưởng ngư dân vẫn đi biển như thường

Một điểm cần chú ý trong ước tính sản lượng theo phương pháp này là các số liệu thống kê thu thập phải được nghiên cứu trong cùng điều kiện sau :

- Cùng một thời gian nghiên cứu (chu kỳ hằng tháng)

Trang 38

- Cùng một khu vực hoặc một vùng địa lý (tỉnh, huyện, xã)

- Cùng một nhóm tàu hoặc nhóm nghề (lưới kéo, rê, vây,…)

Sau khi đã ước lượng được tổng sản lượng thủy sản khai thác, có thể thu được một số số liệu thứ cấp sau :

Sản lượng khai thác theo loài (Sl loài) :

Sl loài = SP x SL

- SP : Tỷ lệ của loài thủy sản đó trong tổng sản lượng Tỷ lệ này có được

từ số liệu thu mẫu

Giá trị sản lượng khai thác theo loài (GT loài):

GT loài = P x Sl loài

- P : Giá bán lần đầu tại bến của loài đó

4.2.2 Điều tra thu thập số liệu để ước tính sản lượng khai thác

Trở lại công thức (1) đã nêu ở mục 4.2.1, phương pháp của FAO cho thấy, để có các số liệu ước tính sản lượng thủy sản khai thác cần thực hiện 4 cuộc điều tra : 1) Điều tra cơ bản để xác định F (tổng số tàu thuyền), 2) Điều tra tại điểm lên cá (bến cá/cảng cá) để xác định CPUE; 3) Điều tra hoạt động tàu để xác định hệ số BAC; và 4) Điều tra ngày tàu hoạt động để xác định A

SL = CPUE x A x BAC x F (4.4)

Điều tra lên cá

Điều tra ngày tàu hoạt động

Điều tra cơ bản

Điều tra hoạt

động tàu

Trang 39

4.2.2.1 Điều tra cơ bản

Bất cứ một cuộc điều tra chọn mẫu nào đều cần có thông tin cơ bản về

đối tượng điều tra Thông tin cơ bản về hoạt động khai thác thuỷ sản cần chú

ý là số lượng tàu thuyền khai thác thuỷ sản phân theo công suất và theo nghề,

vị trí các cảng cá, bến cá, … Từ các số liệu cơ bản này mới có thể lập kế hoạch tiến hành các cuộc điều tra để ước tính sản lượng khai thác thuỷ sản

Điều tra cơ bản là một dạng điều tra toàn bộ về một lĩnh vực hoạt động thủy sản, ở đây là khai thác thủy sản Với mục tiêu ước lượng sản lượng khai thác thuỷ sản, điều tra cơ bản phải thu được các thông tin về số lượng tàu thuyền (gồm cả tàu đang hoạt động và cả những tàu có đăng ký nhưng không hoạt động vì một lý do nào đó) được phân tổ theo nghề, theo công suất, theo cảng cá (địa giới hành chính) và danh sách các cảng cá đang hoạt động Điều tra cơ bản có thể tiến hành năm năm một lần Đây là số liệu nền và sẽ được

bổ sung hằng năm

Trong điều tra cơ bản, cán bộ điều tra phối hợp với các cán bộ quản lý nghề cá ở địa phương thu thập số liệu về tàu thuyền, thông tin về các bến cá… Số liệu, thông tin thu được từ điều tra cơ bản sẽ là cơ sở để xây dựng dàn mẫu cho các cuộc điều tra tại điểm lên cá và điều tra hoạt động tàu

Một số lưu ý khi thu thập sô liệu tàu hoạt động theo nghề

- Trong trường hợp tàu, thuyền có những đặc điểm hoạt động tương tự nhau về công suất, mức sản lượng và thành phần loài khai thác, ngư cụ sử dụng… có thể được gộp lại thành một nhóm Vì vậy, cán bộ điều tra cần

được hướng dẫn cách ghi chép và phân loại tàu thuyền theo nghề để số liệu thu được chính xác hơn

Nghề hoạt động là một thông tin quan trọng để ước tính sản lượng khai thác, vì mỗi nghề có năng suất khai thác khác nhau Trong trường hợp một tàu làm nhiều nghề, thì có thể ghi chép theo hai trường hợp như sau:

Trang 40

+ Nếu tàu thuyền sử dụng không đồng thời các loại ngư cụ (nghĩa là sử dụng một loại ngư cụ trong mùa này và một loại ngư cụ khác vào mùa khác), thì tàu đó sẽ được phân nhóm trong tất cả các nghề tuỳ theo ngư cụ sử dụng

Sự phân nhóm này sẽ không bị tính trùng, vì tàu đó chỉ xuất hiện một lần ở các thời điểm và hoàn cảnh khác nhau Ví dụ, có một tàu làm nghề câu trong thời gian từ tháng 3 – 6 và từ tháng 7 – 12, tàu đó lại chuyển sang nghề lưới

rê Khi đó, từ tháng 3 – 6, tàu này sẽ được xếp vào nhóm tàu làm nghề câu, từ tháng 7 – 12 lại được phân vào nhóm tàu làm nghề lưới rê

+ Nếu tàu thuyền sử dụng đồng thời nhiều loại ngư cụ để khai thác thì, hoặc nghề nào chiếm ưu thế hơn (sản lượng khai thác hoặc thời gian lao động nhiều hơn) thì tính vào nghề đó, hoặc xếp tàu thuyền đó vào một nhóm là nghề “khác”, hoặc tạo ra một nhóm mới gồm những tàu cùng làm các nghề kết hợp giống nhau

- Trước khi thực hiện điều tra cơ bản cần phải chú ý đến công tác tập huấn cho cán bộ điều tra về cách ghi chép số liệu trong phiếu điều tra, cách phân loại và nhận biết tàu thuyền, ngư cụ Lập kế hoạch cụ thể tiến hành thu thập số liệu, thông tin về khai thác thuỷ sản cũng như tiếp xúc chính quyền

địa phương, phỏng vấn ngư dân để có được thông tin đầy đủ, chính xác

Ngoài các mục đích khác của điều tra cơ bản, kết quả từ điều tra này sẽ cung cấp số liệu cơ bản về tàu thuyền cho hoạt động điều tra chọn mẫu ước tính sản lượng khai thác

4.2.2.2 Điều tra tại bến cá (điểm lên cá của tàu)

Điều tra tại bến cá là điều tra chọn mẫu để ước tính sản lượng trên một

đơn vị cường lực khai thác (CPUE) trong công thức 4.4 Tổng thể điều tra ở

đây là tập hợp tất cả các lần lên cá tại các bến cá của tất cả các tàu, thuyền tại

địa phương trong một tháng Cuộc điều tra này được tiến hành tại các điểm lên cá là nơi các tàu thuyền khai thác thường đưa cá lên bờ, chứ không phải

Ngày đăng: 16/08/2014, 02:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1 : Quy mô mẫu an toàn trong điều tra lên cá (tính CPUE) - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.1 Quy mô mẫu an toàn trong điều tra lên cá (tính CPUE) (Trang 42)
Bảng 4.2 - Quy mô mẫu điều tra hoạt động tàu (tính BAC) - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.2 Quy mô mẫu điều tra hoạt động tàu (tính BAC) (Trang 45)
Bảng 4.2 - Tàu thuyền phân chia theo nghề và công suất            Nghề - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.2 Tàu thuyền phân chia theo nghề và công suất Nghề (Trang 75)
Bảng 4.3 - Tàu thuyền phân theo công suất và theo xã của huyện Vân Đồn - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.3 Tàu thuyền phân theo công suất và theo xã của huyện Vân Đồn (Trang 75)
Bảng 4.4 - Phân bổ số l−ợng mẫu điều tra theo xã - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.4 Phân bổ số l−ợng mẫu điều tra theo xã (Trang 78)
Bảng 4.5 - Lịch điều tra khai thác thuỷ sản - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.5 Lịch điều tra khai thác thuỷ sản (Trang 80)
Bảng 4.6 - Các hệ số −ớc l−ợng sản l−ợng khai thác theo nghề và theo tháng - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.6 Các hệ số −ớc l−ợng sản l−ợng khai thác theo nghề và theo tháng (Trang 82)
Bảng 4.7 - Sản l−ợng thủy sản khai thác 3 tháng (năm 2005) - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.7 Sản l−ợng thủy sản khai thác 3 tháng (năm 2005) (Trang 83)
Bảng 4.9 - Sản l−ợng và giá trị −ớc tính thủy sản khai thác 2 tháng/2006 - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.9 Sản l−ợng và giá trị −ớc tính thủy sản khai thác 2 tháng/2006 (Trang 85)
Bảng 4.8 - Các hệ số −ớc tính sản l−ợng khai thác trong 2 tháng/2006 - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4.8 Các hệ số −ớc tính sản l−ợng khai thác trong 2 tháng/2006 (Trang 85)
Bảng 4-10  -  Tổng hợp số liệu các nhóm nghề   (tháng 4 và 5 năm 2005 và năm 2006) - Nghiên cứu quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản theo phương pháp của FAO
Bảng 4 10 - Tổng hợp số liệu các nhóm nghề (tháng 4 và 5 năm 2005 và năm 2006) (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w