Chính vìvậy, mặc dù vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cáccấp đã được khá nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhưng với mong muốngóp một tiếng
Trang 1QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHÓT CẤP CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHÓ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, động viênquần chúng tích cực, chủ động thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật củaNhà nước ở cơ sở Do đó, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có ảnh hưởng to lớn đến phong tràocách mạng
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thực hiện vai trò của mình trong việc lãnh đạo,
tổ chức, động viên quần chúng ở Việt Nam hiện nay là nhằm thúc đẩy sự phát triển mọimặt của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá tư tưởng nói riêng và góp phầnđắc lực vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đất nước ta đang chuyển sang một thời kỳ phát triển mới Nhiệm vụ cách mạngtrong giai đoạn mới hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viênphải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực phù hợp với yêu cầu của cáchmạng Do đó, nhiệm vụ của hệ thống chính trị là phải nâng cao trình độ về mọi mặt chocán bộ, đảng viên, nhất là về trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cấp cơ sở
Trình độ lý luận chính trị là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu củangười cán bộ lãnh đạo, quản lý Vấn đề này được xem như chìa khoá giúp cho người cán
bộ nhận thức thực tiễn một cách sâu sắc và chỉ đạo thực tiễn đạt hiệu quả cao Mọi đườnglối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước có biến thành hiện thực haykhông phụ thuộc rất lớn vào năng lực và trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ Họ là ngườitiếp thu, bổ sung và phát triển đường lối, chủ trương của Đảng cho phù hợp với điều kiện
cụ thể địa phương nơi mình công tác
Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay nói chung và ở thànhphố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nói riêng, đa số trưởng thành từ thực tế phong trào,
họ ít được đào tạo lý luận chính trị một cách bài bản, nặng về kinh nghiệm, trình độ lýluận chính trị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của địa phương Tình trạng
Trang 3suy nghĩ và hành động theo thói quen, kinh nghiệm chủ nghĩa và lối suy nghĩ thiển cận,cảm tính vẫn đang là lực cản trong bản thân không ít cán bộ cấp cơ sở Tư tưởng trôngchờ, ỷ lại sự chỉ đạo hướng dẫn của cấp trên, chưa dám đề xuất những biện pháp tích cực,phù hợp với đơn vị vẫn còn khá phổ biến Điều này chứng tỏ rằng, trình độ lý luận chínhtrị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đổimới Đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với chiến lược cán bộ của Đảng ta trongthời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ cấp cơ sở ngang tầm, góp phần thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì một trongnhững yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải nâng cao trình độ lý luận chính trị Chính vìvậy, mặc dù vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cáccấp đã được khá nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhưng với mong muốngóp một tiếng nói từ thực tiễn đối với công tác cán bộ của Đảng trong giai đoạn hiện nay,
chúng tôi chọn vấn đề: Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướng phát triển nguồn nhân lực làm đề tài luận văn Thac sĩ.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Tuyên Quang, Tỉnh TuyênQuang
Trang 44 Giả thuyết khoa học
Chất lượng hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở của thành phố Tuyên Quang trong những năm gần đây tuy đã được nâng lên songchưa đáp ứng được theo định hướng phát triển nguồn nhân lực, một trong những nguyênnhân dẫn đến thực trạng đó là do việc quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cònnhiều hạn chế bất cập Nếu có một hệ thống các biện pháp quản lí phù hợp, trên một cơ sởkhoa học vững chắc thì chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở sẽ được nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị chođội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
5.2. Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phốTuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
5.3. Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phốTuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
6 Phạm vi nghiên cứu
- về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực của Bí thư Đảng bộthành phố Tuyên Quang được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 12, đó lànăng lực lý luận và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nướccủa đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong thời kỳ mới
- Số liệu được lấy từ năm 2014 đến năm 2016
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 5- Phương pháp tổng quan lí luận để tìm hiểu tình hình nghiên cứu và khai thác tưliệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở.
- Phương pháp lịch sử - logic để kế thừa các thành tựu lí luận qua các kết quảnghiên cứu đã có và xác định cách tiếp cận khoa học về quản lý hoạt động bồi dưỡng lýluận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhânlực
- Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết để xác định các khái niệm và quanđiểm cơ bản về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
- Phương pháp khái quát hóa để xây dựng khung lí thuyết phù hợp với tên đề tàinghiên cứu là quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Chúng tôi xây dựng các mẫu phiếu khảo sát dành cho cán bộ lãnh đạo quản lý đểtìm hiểu nhu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán
bộ và thực trạng quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo địnhhướng phát triển nguồn nhân lực
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Qua thực tiễn nhiều năm công tác và giảng dạy tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trịthành phố, qua thực tiễn phụ trách, quản lý các lớp bồi dưỡng tại Trung tâm bồi dưỡngchính trị, rút ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn về công tác quản lý hoạt động bồidưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt để từ đó đề xuất các biện pháp để nâng caohiệu quả công tác bồi dưỡng lý luận chính trị
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Trang 6Nghiên cứu các Kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị của Thành ủy, Trung tâm Bồidưỡng chính trị thành phố, rút ra những ưu điểm, hạn chế khó khăn về công tác bồi dưỡng
lý luận chính trị, từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng lýluận chính trị
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về lĩnh vực bồi dưỡng lý luậnchính trị và quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị để tham khảo; đồng thời đểkhảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin
Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu điều tra
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các đề xuất, khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo định hướngphát triển nguồn nhân lực
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang theo địnhhướng phát triển nguồn nhân lực
Trang 7Khi còn sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc ” “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém ” [17, tr.72] Từ
quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục tư tưởng chính trị thông qua
học tập lý luận chính trị trong các nhà trường như: “ Môi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế” [17, tr.73].
Khi bàn về mục tiêu giáo dục, GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc - nhà Tâm lý học hàng đầu nước ta nêu rõ “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết về tư tưởng chính trị, đạo đức nhân văn, kiến thức pháp luật văn hóa xã hội Hình thành cho mọi công dân
có thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin, đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc với mọi hiện tượng xảy ra xung quanh tổ chức tốt giáo dục thế hệ trẻ, giúp họ để mọi người tự giác thực hiện những chuan mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành quy định, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước" [13, tr.40].
Dưới góc độ nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị, các biện pháp giáo dục lýluận chính trị cho học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoahọc và khóa luận tốt nghiệp của học viên các khoá học tại Học Viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia công bố, chẳng hạn như: “Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt
cơ sở xã, phường, thị trấn ở trường Chính trị Lê Duẩn trong giai đoạn hiện nay ” (luận văn Thạc sỹ, 2007 - Hoàng Đức Dinh) [10].
Trang 8Khai thác dưới góc độ phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình
và xã hội để xây dựng biện pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức cho sinh viên trường Cao
đẳng Kinh tế Thái Nguyên đó là công trình nghiên cứu mang tên: “Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên ” (luận văn Thạc sĩ, 2009-Chu Mạnh Cường) [9].
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục LLCT
khác như: “Quan hệ giữa lý luận và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn [19]; Đào Duy Tùng,
“Một số vấn đề về công tác tư tưởng” [28]; “Mấy vấn đề trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương [20]; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận"
của Trần Đình Huỳnh [15]
Nhìn chung, những công trình trên đã nghiên cứu sâu sắc về đổi mới công tác giáodục LLCT cho người làm công tác giảng dạy hoặc người cán bộ lãnh đạo chủ chốt, nhưngchưa đề cập đến đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồnnhân lực Như vậy, Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho các cán bộ chủ chốtcấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực là mảng đề tài cần được quan tâmnghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong một tổchức nhất định Sự phân công, hợp tác lao động đó nhằm đạt hiệu quả và năng suất laođộng cao hơn, do vậy cần có người đứng đầu, chỉ huy, phối hợp để điều hành, kiểm tra,điều chỉnh Chính vì vậy, người ta quan niệm quản lý là một thuộc tính lịch sử vì nó pháttriển theo sự phát triển của xã hội loài người, thường xuyên biến đổi, nó là hiện tượng xãhội xuất hiện sớm
Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công việc ” hay quản lý là: “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý lý lịch, quản lý vật tư” [31].
Trang 9- Theo C.Mác: "Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [6].
- F.W.Taylor (Mỹ, 1856-1915) được đánh giá là "Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học" đã đưa ra định nghĩa: "Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất " [23].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [21, tr.123].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính “Quản lý là sự tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [24, tr.2,3].
Tóm lại, có nhiều khái niệm, cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song có thểhiểu: Quản lý là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm làm cho hệ quản lý vận động phù hợp với quy luật khách quan
Do đó, quản lý là một hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thiết kế và tạo ra môitrường mà ở đó mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động lao động của xã hộinhất định để đạt được mục tiêu, dự kiến trong những điều kiện, phương tiện và các hoạtđộng khác của xã hội Quản lý có tầm quan trọng đặc biệt đó là tính hiệu quả tối ưu trongcác hoạt động Chất lượng phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người.Chất lượng quản lý được đánh giá ở chỗ cùng mục tiêu và kết quả người quản lý giỏi sẽđưa tập thể đạt đến nhanh hơn, ít tốn kém hơn và thoả mãn yêu cầu đặt ra cho công tácquản lý
Quản lý một đơn vị (cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học.) với tư cách là một hệthống xã hội cần có cả một khoa học và nghệ thuật để tác động vào hệ thống, vào từng
Trang 10thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu đề ratrong quá trình hoạt động.
1.2.2 Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã, hay cấp
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉnhững người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoàn thành nhiệm
vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công
Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu cơbản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các
cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lựclượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ chức để
phân biệt với người không có chức vụ
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốn đặc trưng cơbản:
Trang 11+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trongHTCT lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động.
+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT.+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thànhchương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề;cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung, chất lượnghoạt động và thời gian công tác của họ
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc ngườilàm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngânsách nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân côngcông tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản dị
và dễ hiểu Theo Người: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [18].
- Thứ hai, khái niệm "chủ chốt"
Theo Đại từ điển tiếng Việt, từ "chủ chốt" là "quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt của phong trào" [31].
- Thứ ba, khái niệm "cán bộ chủ chốt"
Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu "cán bộ chủ chốt" là người cóchức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộmáy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnhđạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu tráchnhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao
Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản như sau:
Trang 12+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việcxác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và tổ chứcthực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp thờichấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giảipháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lýluận Đồng thời, CBCC còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh củaquần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vữngmạnh.
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu do
bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền (cấptrưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm trước cấp trên
và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảmnhận
Vậy cán bộ chủ chốt là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Cán bộ là gốc của mọicông việc Trong đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt là gốc của cái gốc đó, là lực
lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước Cán
bộ chủ chốt cơ sở, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ chủ chốt cơ sở hoặc cấp
cơ sở) là những người đứng đầu, phụ trách một đơn vị, một tổ chức, một tập thể nào đó
do bầu cử, bổ nhiệm hay chỉ định ở cấp cơ sở Hoạt động lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đòi hỏi phải ra được những văn bản, quyết định đúng đắn nhằm chỉ đạo kịp thời các lĩnh vực phát triển theo đúng đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với cơ sở, đơn
vị Điều đó đòi hỏi ở người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, một mặt phải nắm chắc,
hiểu sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; mặt khác, phảitường tận tình hình thực tế của cơ sở, đơn vị về mọi mặt và xu hướng vận động của tìnhhình đó Đồng thời, họ còn phải biết huy động sức mạnh trí tuệ của tập thể, của quầnchúng Đó chính là những điều kiện để người lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở xây dựng đượccác quyết định, các chương trình, kế hoạch vừa phù hợp với thực tiễn ở cơ sở vừa là sự cụthể hóa sinh động, sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vàNghị quyết của cấp uỷ cấp trên [18]
Trang 131.2.3 Phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực và phát triển nguồn
nhân lực Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [dẫn theo 4] Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực
là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân.Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh cácloại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Theo Tổ chức Laođộng quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi cókhả năng tham gia lao động, nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồnnhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực conngười cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triểnbình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồnlực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, cókhả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể thamgia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy độngvào quá trình lao động
Dưới góc độ kinh tế phát triển: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổiquy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về
số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhànước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ vàtrình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn laođộng là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao độnghoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: sốlượng và chất lượng Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lựcnhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưngkhông tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm,những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học
Trang 14Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thểlực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đókết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử,được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại vàtương lai của đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, mộtnguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồnnhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnhvượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở nềntảng cho sự phát triển bền vững
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cáchhiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực
Theo quan niệm của Liên Hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục,đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nângcao chất lượng cuộc sống Có quan điểm cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là gia tănggiá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹnăng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực vàphẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sựphát triển kinh tế - xã hội Một số tác giả khác lại quan niệm: phát triển là quá trình nângcao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sửdụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân cônglao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế - xã hội
Từ những luận điểm trình bày trên có thể hiểu: phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến
bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế -
xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với
Trang 15nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh
xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia.
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người laođộng cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụthể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đạihọc, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề) Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồnnhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cáichung và cái riêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến tổng thể nguồn nhân lựccủa một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệtquan trọng, là nhóm tinh tú nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lựcchất lượng cao không thể không đặt trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nóichung của một đất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứngđược yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là:
có kiến thức chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm,làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm vớicông việc Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả
về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạođức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về sốlượng, nhưng phải thực chất
Khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhậpkinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thểhiện vai trò quyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nềnkinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: ápdụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhânlực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính lànhững con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người đượcđầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằmtrở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới cónhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn
Trang 16nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chínhtrị - xã hội ổn định.
1.2.4 Bồi dưỡng lý luận chính trị
1.2.4.1 Bồi dưỡng
Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm nângcao năng lực trình độ nghề nghiệp
Bồi dưỡng là bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ
sở nuôi dưỡng những cái đã có để mở rộng, làm cho chúng phát triển thêm, có giá trị làmtăng hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệuquả lao động
Theo tổ chức UNESCO “Bồi dưỡng với nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp ” [29].
Như vậy, thực chất của bồi dưỡng là quá trình bổ sung những thiếu hụt về tri thức
kỹ năng hoặc để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã có, làm tăng thêmlượng vốn hiểu biết trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu mới của chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệu quả lao động Và chủ thể bồidưỡng là những người đã được đào tạo và có trình độ chuyên môn nhất định, mục đíchbồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơhội củng cố, mở mang nâng cao hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cósẵn với phương châm “Học tập suốt đời” để nâng cao hiệu quả công việc đang làm
1.2.4.2 Lý luận chính trị
Lý luận, theo ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, nghĩa là tôi đang xem xét, đang nghiên cứu.Trong nghĩa rộng, lý luận là hệ thống các quan điểm, các tư tưởng, các khái niệm hướngtới việc tiếp cận và giải thích một sự vật, hiện tượng nào đó Trong nghĩa hẹp, lý luận làhình thức phát triển cao nhất của nhận thức khoa học mang lại những khái niệm tổng thể
về những quy luật và những mối liên hệ của một phạm vi của hiện thực nào đó V.I.Lênin
Trang 17viết: "nhận thức tồn tại trong dạng lý luận, học thuyết cần phải đưa lại khách thể trong sự tất yếu của nó, trong các mối quan hệ mọi mặt của nó" [30].
Xét về cấu trúc, lý luận là thể hiện sự phân hoá tri thức bên trong, nhưng tổng hợp
hệ thống tri thức có tính phụ thuộc lôgíc của những yếu tố này vào những yếu tố kia, phânchia nội dung của lý luận từ tổng số của những khẳng định và khái niệm tức là từ cơ sởxuất phát của lý luận theo các nguyên tắc lôgíc phương pháp luận nhất định
Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những trithức về tự nhiên và xã hội tích lũy lại trong quá trình lịch sử Bản chất của dư luận nằm ởchỗ, dư luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh nhữngmối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Sự phát triển của nhậnthức dẫn đến sự xuất hiện của lý luận và lý luận được hình thành trong mối liên hệ vớithực tiễn
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được nângcao dần để trở thành lý luận Nhưng lý luận ra đời không phải do nhu cầu của bản thân lýluận mà do nhu cầu chủ yếu của hoạt động thực tiễn của con người, chúng ta khẳng địnhrằng, thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lý luận
Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoànchỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực Lý luận là sự phản ánh vàtái hiện hiện thực khách quan Mọi Lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử, được hìnhthành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [18].
Theo nghĩa rộng, Lý luận là một dạng hoạt động của con người nhằm thu nhận trithức về hiện thực tự nhiên, xã hội và cùng với thực tiễn tạo thành hoạt động tổng thể của
xã hội Thuật ngữ lý luận đồng nghĩa với các hình thức có tổ chức cao và phát triển nhấtcủa ý thức xã hội Với tư cách là sản phẩm cao nhất của tư duy có tổ chức, Lý luận biểu
Trang 18hiện quan hệ gián tiếp của con người đối với hiện thực và là điều kiện cho sự cải biếnthực sự có ý thức hiện thực.
Theo nghĩa hẹp, Lý luận là một dạng tri thức khoa học đáng tin cậy về một tổngthể các khách thể nào đó Nó là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặtlôgíc và phản ánh bản chất, các quy luật hoạt động, phát triển của khách thể để nghiêncứu
Lý luận cách mạng tạo nên nền tảng tư tưởng của đảng Đảng ra đời trên nền tảng
tư tưởng đó, tức là có lý luận một cách cơ bản nhất; những người giác ngộ, tiên tiến cùngnhau xây dựng tổ chức đảng theo lý luận đó Khi đảng ra đời, cương lĩnh hành động,đường lối chiến lược sách lược do Đảng đề ra cũng dựa trên nền tảng tư tưởng đó
Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các mối quan
hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn xã hội Đây làbiểu hiện bề ngoài của chính trị Thực chất, chính trị là mối quan hệ, sự tương tác giữachủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong xã hội với quyền lực chi phối
chứa đựng bên trong đó, quyền lực chung (quyền lực xã hội), gọi là quyền lực chính trị.
Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm vị trí quantrọng hàng đầu Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu thế luôn luôn muốn giành lấyvai trò thực hiện các công việc chung để xác lập và duy trì địa vị thống trị của giai cấpmình Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, thực chất chính trị là quan hệ giữacác giai cấp, là những hoạt động xoay quanh vấn đề giành, giữ chính quyền và sử dụngquyền lực nhà nước
Tất nhiên, chính trị không chỉ bao gồm các công việc của nhà nước Xã hội muốntồn tại và phát triển thì còn hàng loạt vấn đề chung khác cần giải quyết như các vấn đềliên quan đến hệ tư tưởng, ý thức, đạo đức xã hội, các phương án giải quyết các vấn đềchung của xã hội khác với giai cấp, tầng lớp nắm quyền Vì vậy, bên cạnh nhà nướctrong xã hội còn tồn tại các tổ chức chính trị khác Với góc độ tiếp cận khái niệm lý luận
và khái niệm chính trị ở trên đây, có thể đưa ra một khái niệm lý luận chính trị như sau:
Trang 19Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước Lý luận chính trị là lý
luận trong lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranhgiai cấp để đại diện cho một lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong xã hội.Như vậy, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận chính trị của giai cấp vô sản,
là hệ tư tưởng chân chính nhất của giai cấp vô sản và chính đảng của mình - Đảng Cộngsản Đó là kim chỉ nam của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh giải phóng mình, giảiphóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột của giai cấp tư sản và trả con người về đúng
vị trí của nó
1.2.4.3 Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơbản, có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối,quan điểm của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhândân Bồi dưỡng lý luận chính trị được thực hiện theo các chương trình quy định, nhằmxây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nênbản lĩnh chính trị, niềm tin có cơ sở khoa học, vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hộichủ nghĩa; nâng cao năng lực công tác thực tiễn, giáo dục đạo đức, lối sống, tinh thần tựgiác và tích cực trong các công tác xã hội
Như vậy khi nói đến hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị của Đảng, có thể thấychủ thể bồi dưỡng là các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấp tham gia công tác bồidưỡng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy các cấp Về đối tượng tham gia công tác bồidưỡng lý luận chính trị là đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người laođộng trong các cơ quan, tổ chức, ban ngành các cấp với mục tiêu là nâng cao nhận thức về
lý luận chính trị, nhằm trang bị cho họ nắm được những kiến thức, kỹ năng mới, có khảnăng vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễnlãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền và tổ chức thực hiện các phong trào quần chúng ở địaphương, đơn vị
1.2.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Trang 20Là quá trình quản lý việc bổ sung những thiếu hụt về tri thức kỹ năng hoặc để nângcao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã có, làm tăng thêm lượng vốn hiểu biếttrong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứng những yêu cầu mới củachuyên môn, nghiệp vụ nâng cao hiệu quả lao động.
Quản lý bồi dưỡng là quản lý một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố: mụctiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng, phương pháp bồi dưỡng, hình thức tổ chức bồidưỡng, người dạy, người học, công tác kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng
Hoạt động bồi dưỡng LLCT là một việc có ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền vớiquan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trở thành một phương thức chủ yếucủa mọi hoạt động giáo dục, đào tạo Quản lý hoạt động bồi dưỡng là một hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam
về LLCT có nhiều cấp độ khác nhau như: Cử nhân, Cao cấp, Trung cấp, Sơ cấp; cácchương trình bồi dưỡng lý luận chuyên đề; chương trình học tập, quán triệt các Nghịquyết của Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban
Bí thư
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở là sự tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực LLCT cho CBCC cấp cơ sở.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực là sự tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm nâng cao năng lực lý luận chính trị và việc vận dụng lý luận vào thực tiễn quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.3 Lý luận về bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
1.3.1 Vai trò, chức năng bồi dưỡng
Bồi dưỡng lý luận chính trị là một trong các bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng, có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng C Mác đã chỉ
Trang 21rõ: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [6] V.I Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không có phong trào cách mạng ” và
“chỉ đảng nào được lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [30] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy Đảng
mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam ”;
“Không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm ” [18] Như vậy, truyền bá lý luận cho cán
bộ, đảng viên và quần chúng chính là quá trình “vật chất hóa” lý luận, góp phần đưa chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống
Bồi dưỡng lý luận chính trị là thực hiện việc giáo dục lý luận chính trị nhằm tăngcường kiến thức lý luận chính trị cho đối tượng được bồi dưỡng nhằm củng cố hoặc bổsung, làm sâu sắc thêm, cập nhật, mở rộng kiến thức đã được học
Bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt góp nâng cao ý thức tựgiác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân góp phần phòng, chốngsuy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và chống “tự diễn biến”, “tự chuyểnhóa” trong cán bộ, đảng viên
1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luậnchính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay là một trọng tâm thiết thực Đó
là bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với những nội dung cụ thể,thiết thực và sâu sắc Bởi vì tư tưởng Hồ Chí Minh như Đảng ta khẳng định, là hệ thốngcác quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Tư tưởng ấy là sự vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc bồi dưỡng
lý luận chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh là bồi dưỡng những vấn đề lý luận cơ bản,những quan điểm cốt yếu về cách mạng nước ta hiện nay, gồm:
Trang 221 Bồi dưỡng những nội dung lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đảng ta xác định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho hành động Trang bị những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin là được trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học để nhận thức và hànhđộng đúng đắn, quyết liệt
Chủ nghĩa Mác - Lênin có nội dung lý luận hết sức sâu sắc và rộng lớn Cho nêntùy từng đối tượng mà người dạy và người học phải biết chọn lọc, để rồi điều học đượctrở nên có ích với mỗi người, mỗi cương vị công tác cụ thể Tránh tình trạng người dạy cứdạy, người học cứ học, còn hiệu quả trước mắt và lâu dài thế nào chưa được đặt ra để tínhtoán từng khâu của các hoạt động ấy Hoặc tránh tình trạng học cho xong, cho qua cốt đểtiêu chuẩn hóa chức danh, để "dán nhãn", còn hiểu sâu, nắm chắc bản chất những vấn đềcốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng vào đời sống, vào công việc hằng ngày thì lại
bỏ qua, ít quan tâm Để khắc phục tình trạng trên - cơ sở bảo đảm Đảng ta thật sự vữngmạnh từ những thành viên của mình, Đảng và Nhà nước có cơ chế chính sách quy địnhđối với người dạy, người học, lấy hiệu quả thiết thực làm mục tiêu, làm thước đo đánhgiá Mặt khác, không ngừng đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy vàhọc lý luận Mác - Lênin dưới mọi hình thức ở các cơ quan đào tạo, bồi dưỡng hiện nay
2 Bồi dưỡng những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp cơ sở
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nước ta là những người lãnh đạo, người tập hợpcác tầng lớp nhân dân ở khắp các địa phương, các vùng miền của đất nước thực hiện cácnhiệm vụ của cách mạng đặt ra Do đó, họ phải học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vữngnhững quan điểm lý luận của Người về việc nhận thức và giải quyết các vấn đề của cáchmạng nước ta Trong muôn vàn vấn đề của cuộc sống đặt ra đội ngũ cán bộ chủ chốt phảinắm được những nội dung chính yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh để cùng với chủ nghĩaMác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc xem xét, xử lý, hành động đúngđắn của mình
Trang 23Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay gồm:
- Nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là gì, tư tưởng ấy có nguồn gốc từ đâu, cơ
sở khoa học của nó ở chỗ nào, cái cần tiếp thu là gì, bằng cách nào, vì sao
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng
xã hội chủ nghĩa, về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, về đoàn kết dân tộc
và đoàn kết quốc tế
- Cán bộ, đảng viên phải hiểu sâu những căn cứ khoa học của lý tưởng độc lậpdân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về đảng cộng sản, đảng cầm quyền và lý luận vềcông tác xây dựng Đảng hiện nay
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trangnhân dân, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp cách mạng và tác phong công tác Những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh là vô cùng phong phú, giúp cho
chúng ta những tri thức mới, những nhận thức đúng, những phương pháp tư duy và hànhđộng đúng Từ những nội dung trên đây, việc giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là giáo dục những tri thức cách mạng,
Trang 24giáo dục phương pháp cách mạng, tác phong và phong cách công tác của Hồ Chí Minh;giáo dục đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh
3 Bồi dưỡng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
và tình hình chính trị thời sự cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thể hiện ýchí, nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta Qua mỗi kỳ đạihội, bằng trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, Đảng ta đã xác định phương hướng,nhiệm vụ phát triển đất nước một cách phù hợp từng thời kỳ Do vậy, văn kiện, nghịquyết được đại hội thông qua là cương lĩnh chính trị của Đảng, là chương trình hành độngdẫn dắt nhân dân ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc một cách cụ thể, phù hợp
Đường lối, nghị quyết đó được Nhà nước, các cơ quan chức năng và các cấp cóthẩm quyền thể chế hóa thành chính sách, pháp luật và ban hành những quy định, cơ chếtương ứng để bảo đảm cho nó đi vào cuộc sống
Ngoài những vấn đề nêu trên đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện nay cần phải bồi dưỡng,nâng cao nhận thức tình hình thời sự, chính trị trong nước một cách cập nhật, thườngxuyên
1.3.3 Phương pháp bồi dưỡng và hình thức bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
* Phương pháp bồi dưỡng
Phương pháp bồi dưỡng là cách thức thực hiện hoạt động dạy học trong công tácbồi dưỡng, là hệ thống tác động liên tục, có kế hoạch của giảng viên nhằm tổ chức hoạtđộng nhận thức và thực hành của người học để họ lĩnh hội vững chắc các nội dung bồidưỡng đạt được mục tiêu bồi dưỡng Như vậy, khi xem xét đến phương pháp bồi dưỡngphải chú ý đến hai mặt của quá trình bồi dưỡng (quá trình dạy và quá trình học) Nhữngphương pháp được áp dụng trong bồi dưỡng LLCT gồm:
- Các phương pháp dùng lời nói: Thuyết trình, vấn đáp, nêu và giải quyết vấn đề,thảo luận
Trang 25- Các phương pháp trực quan: Quan sát, dạy học trực quan.
- Các phương pháp thực tiễn: Tham quan, trò chơi, xử lý tình huống
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra viết, vấn đáp, viết tiểu luận
Lựa chọn phương pháp bồi dưỡng có tác dụng quyết định chất lượng và hiệu quảbồi dưỡng, vì vậy việc lựa chọn phương pháp bồi dưỡng cần:
+ Hướng vào học viên được bồi dưỡng
+ Hướng vào hoạt động của học viên
+ Hướng vào mục tiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng
+ Chú ý đến một số đặc điểm về việc học tập của học viên
* Hình thức tổ chức bồi dưỡng
- Căn cứ vào thời gian và cách thức tổ chức bồi dưỡng gồm:
+ Hình thức bồi dưỡng tập trung: Hình thức bồi dưỡng này cũng có những thuậnlợi và khó khăn riêng Hình thức bồi dưỡng tập trung thuận lợi là học viên có thể tập trungcho việc học tập, tiếp thu kiến thức mới, có thể được đi tham quan, trao đổi học hỏi cáckinh nghiệm khi áp dụng lý luận vào thực tiễn hoạt động
+ Hình thức bồi dưỡng bán tập trung là việc tổ chức triệu tập học viên bồi dưỡngLLCT 1 tuần/tháng (áp dụng đối với khóa học Trung cấp lý luận chính trị- hành chính)
- Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng bồi dưỡng gồm:
+ Hình thức bồi dưỡng theo mục tiêu là bổ sung, cập nhật kiến thức LLCT hàngnăm: Thông tin thời sự quốc tế, khu vực, trong nước; các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng,Nhà nước hàng năm; chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Trang 26+ Hình thức bồi dưỡng theo chức danh, nhiệm vụ Là hoạt động bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ theo lĩnh vực công tác sau các kỳ Đại hội Đảng, đoàn thể, sau bầu cửQuốc hội, HĐND.
1.3.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ mới
Với những kết quả sau gần 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác địnhnhiệm vụ trung tâm thời kỳ này là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tạo cơ sở vật chất kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần được nâng cao, quốc phòng anhninh vững chắc, đang hướng đến xây dựng đất nước dân giàu nước mạnh, dân chủ, côngbằng văn minh, xây dựng thành công CNXH
Để thực hiện được mục tiêu cơ bản của CNH, HĐH với một nước sản xuất nôngnghiệp là chủ yếu, Đảng ta xác định phải tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất nôngnghiệp Trên cơ sở tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm đápứng đầy đủ nhu cầu lương thực cho xã hội, nguyên vật liệu để mở rộng phát triển côngnghiệp chế biến và các ngành kinh tế khác Xây dựng cơ sở vật chất vững chắc là tiền đề
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Do đó, phải "đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn" [2, tr.92].
Mặt khác, sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng,nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiênnhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Vì vậy, để đạt đượcmục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp, phải tiến hành xây dựngnông thôn mới Để hoàn thành nhiệm vụ cơ bản trên đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải
tự hoàn thiện cả về trách nhiệm và năng lực, trí tuệ, trong đó một trong những phươngpháp hiệu quả, lâu dài là nâng cao trình độ lí luận chính trị
- Tăng cường sức mạnh và hiệu lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở Đánh giá vềnhững hạn chế của hệ thống chính trị nước ta, Báo cáo chính trị của Đại hội XII nêu rõ:
"Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, chiến lược điều hành quản lý của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp thời với đòi hỏi
Trang 27của tình hình" [11, tr.66] Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế này, trước hết là do: năng
lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ, một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lí tưởng, tha hoá về phẩm chất, đạo đức cáchmạng, từ đó dẫn đến sự suy yếu sức chiến đấu của một bộ phận tổ chức cơ sở Đảng, hiệulực của bộ máy Nhà nước cũng như khả năng hoạt động của các đoàn thể quần chúng bịgiảm sút
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua đã cho thấy, việc hạn chế về nhận thứcchính trị, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đã dẫnđến hậu quả nghiêm trọng ở một số địa phương Việc vi phạm nghiêm trọng quyền tự do,dân chủ của nhân dân, các tệ nạn quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, ức hiếp quần chúngnhân dân ở một số địa phương đã làm suy giảm lòng tin của dân đối với Đảng và Nhànước, không huy động được sức mạnh của dân trong sự nghiệp đổi mới Do đó, nâng caotrình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là điều kiện tiên quyết nhằmcủng cố, tăng cường sức mạnh, hiệu lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta hiệnnay
Trình độ lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước là một yêu cầu khá cấpthiết đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, bởi những kiến thức này có thể được xemnhư những kiến thức chuyên môn mà họ phải dùng đến hàng ngày khi giải quyết côngviệc, đặc biệt là những công việc liên quan đến chức năng, thẩm quyển của nhà nước, liênquan đến việc áp dụng các văn bản pháp luật cũng như các chủ trương, đường lối, chínhsách, liên quan đến công việc chuyên môn
Không những thế, trình độ lý luận chính trị còn là điều kiện góp phần đảm bảo bảnlĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ,
sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung,sửa đổi để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sựnghiệp cải cách kinh tế, cải cách hành chính, do vậy bồi dưỡng lý luận chính trị kiến thức
Trang 28về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công
vụ cho cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp sơ sở là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
1.4 Bí thư đảng bộ với hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
Bí thư Đảng bộ là người đứng đầu đảng bộ, có trách nhiệm lãnh đạo mọi mặt côngtác của đảng bộ và chịu trách nhiệm trước đảng bộ cấp trên; đồng thời, cùng với đảng bộtích cực cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, phápluật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên vàcấp mình, kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ, Quy định của Đảng
Bên cạnh đó, Bí thư Đảng bộ còn có trách nhiệm chăm lo xây dựng tổ chức cơ sởđảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, chăm lo đội ngũ cán bộ, đảng viên; biếtvận động nhân dân thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước,công tâm, thạo việc, tận tụy, biết phát huy sức dân Trực tiếp phụ trách các vấn đề cơ mật:
an ninh - quốc phòng, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảngviên và nhân dân Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong cấp uỷ và đảng bộ Để xây dựngHTCT vững mạnh Bí thư đảng bộ cần tăng cường công tác quản lý bồi dưỡng lý luậnchính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, hơn lúc nào hết công tác giáo dục líluận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sởđược Đảng Cộng sản Vệt Nam hết sức quan tâm và luôn coi đó là một trong những nhiệm
vụ chính trị hàng đầu đối với công tác xây dựng Đảng Việc tăng cường đào tạo, bồidưỡng lí luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt lúc này không những nhằmnâng cao năng lực tư duy lí luận cho họ mà còn thông qua công tác này Đảng làm tốt vaicông tác tư tưởng của mình, đó là giúp cho cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng vữngvàng, không bị ảnh hưởng, dao động trước những biến động chính trị trên thế giới, cũngnhư những vấn đề nảy sinh trong thời kì quá độ xây dựng CNXH ở Việt Nam Do đó vaitrò của bí thư Đảng bô lại càng quan trọng
Trang 291.5 Lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
1.5.1 Nội dung quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
15.1.1 Quản lý công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị
Lập kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thờihạn, nguồn lực, ấn định mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện mụctiêu cuối cùng đã được đề ra
Lập kế hoạch bồi dưỡng có vị trí, vai trò rất quan trọng, nó giúp cho việc triển khai
ở các đơn vị được chủ động theo một quy trình khoa học và logic; là cơ sở để đánh giámức độ đạt được về tất cả các mặt theo từng giai đoạn của kế hoạch; giúp lựa chọn đượccác phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện các hoạt động bồi dưỡng phù hợp vớichức năng của đơn vị tổ chức và tận dụng được thời gian tối ưu để thực hiện kế hoạch tốtnhất
Việc lập kế hoạch cho hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị ở các đơn vị hiện nay,thường gắn liền với công tác quy hoạch cán bộ, là toàn bộ những công việc về bồi dưỡngnâng cao trình độ cho đội ngũ CBCS theo tiêu chuẩn chức danh đối với từng đối tượngcán bộ trong một thời gian nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị Bồi dưỡng theoquy hoạch là bồi dưỡng có chủ đích, nhờ đó tạo dựng được đội ngũ CBCS với cơ cấutrình độ hợp lý để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị của ngành và của từng đơn vị, tạothế chủ động cho đơn vị trong điều hành công việc Công tác bồi dưỡng theo quy hoạchtránh được hiện tượng bồi dưỡng tràn lan, không đúng đối tượng, gây lãng phí thời gian
và tiền bạc của xã hội, làm mất ổn định tư tưởng của CBCS
Khi lập kế hoạch bồi dưỡng phải xem xét đến các vấn đề sau:
- Xem xét thực trạng trình độ đội ngũ CBCS
- Xác định nhu cầu bồi dưỡng (cho ai và cần học cái gì) bằng các cuộc điều tra,khảo sát Nhu cầu bồi dưỡng là sự chênh lệch giữa các kiến thức, kỹ năng cần phải có để
Trang 30thực hiện một công vụ nào đó và kiến thức, kỹ năng hiện có của CBCS đang thực hiệncông vụ đó.
Xác định nhu cầu bồi dưỡng giúp chúng ta xác định được cần bồi dưỡng cái gì.Nhu cầu là sự đòi hỏi làm thỏa mãn mong muốn, khát vọng của mỗi cá nhân, tổ chứctrong xã hội về một hay nhiều mặt của cuộc sống và phát triển Nhu cầu bồi dưỡng là nhucầu nâng cao (phát triển) năng lực làm việc thực hiện nhiệm vụ được giao của mỗi cánhân hay tổ chức, nhu cầu này chỉ có thể được thỏa mãn bằng con đường đào tạo
Bồi dưỡng không chỉ làm nhiệm vụ lấp đầy, khắc phục những hẫng hụt về năng lựclàm việc của cán bộ mà hơn nữa còn liên quan đến việc xác định và thỏa mãn các nhu cầuphát triển như: phát triển kiến thức đa năng, để cán bộ đảm thêm trách nhiệm, tăng cườngnăng lực thực hiện nhiệm vụ và lý luận chính trị để chuẩn bị cho việc trở thành đảng viênĐảng cộng sản Việt Nam, hoặc đề bạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn với trách nhiệm nặng
nề hơn trong tương lai
Trên cơ sở đó, thiết kế các khoá học cho phù hợp với từng loại đối tượng Điều đógiúp chúng ta xác định được cần bồi dưỡng cái gì, tránh trùng lặp gây lãng phí tiền của vàthời gian của người học
- Vấn đề tài liệu, giáo trình phục vụ cho người học Căn cứ vào chương trình bồidưỡng để chuẩn bị tài liệu, phương tiện dạy và học cho từng khoá bồi dưỡng Tài liệuphải rõ ràng, dễ hiểu, mang tính khoa học và thực tế ứng dụng
- Năng lực của các cơ sở bồi dưỡng được đánh giá bằng một số chỉ tiêu: cơ sở vậtchất của trường lớp, năng lực của đội ngũ giảng viên, năng lực phục vụ giảng dạy và họctập, trình độ quản lý của cán bộ, chính sách bồi dưỡng, uy tín của cơ sở bồi dưỡng
- Nguồn kinh phí bồi dưỡng
15.1.2 Tổ chức thực hiện bồi dưỡng lý luận chính trị
Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, các bộ phậntrong thực hiện quy trình của các hoạt động gồm: Ra quyết định mở lớp; lập dự trù kinh
Trang 31phí; xây dựng và phát công văn chiêu sinh; xây dựng nội dung chương trình, lên lịch học
và bố trí giảng viên; chuẩn bị về cơ sở vật chất; tổ chức đón học viên nhập học; chuẩn bịkhai giảng; sử dụng các phương pháp, hình thức để tiến hành bồi dưỡng cho học viên;công tác trực tiếp quản lý khoá học; theo dõi, chuẩn bị và tổ chức kiểm tra, viết thu hoạch;
tổ chức cấp chứng chỉ cho học viên; họp, đánh giá kết quả khoá học; tiến hành thanhquyết toán sau khi kết thúc khoá học; quan hệ giữa đơn vị bồi dưỡng và học viên nhằmlàm cho họ thực hiện thành công kế hoạch
1.5.1.3 Chỉ đạo thực hiện hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo là hoạt động tác động điều khiển mang tính chất địnhhướng của chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo đến đối tượng chủ yếu bằng các phương pháp độngviên, giáo dục, chỉ đạo, thuyết phục, gây ảnh hưởng nhằm đạt được mục đích đề ra Theo
Đại từ điển tiếng Việt thì lãnh đạo là: “Đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện ” [31] Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng bao gồm các nội dung:
- Thiết lập tầm nhìn cho hoạt động BD
- Tập hợp đội ngũ tham gia hoạt động BD
- Cổ vũ, động viên toàn bộ đội ngũ tham gia hoạt động BD
- Xây dựng chiến lược hoạt động BD
- Ra quyết định
- Giúp mọi người thích nghi với những cái mới và những sự thay đổi
- Tạo môi trường làm việc lành mạnh, đó là một môi trường trong đó mọi người
có thể thi đua hoàn thành nhiệm vụ; hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ
1.5.1.4 Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị
Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng LLCT cho CBQL cấp cơ sở làtập trung vào quản lý lập kế hoạch kiểm tra đánh giá; tổ chức thực hiện việc kiểm tra,
Trang 32đánh giá và sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá trong xếp loại học viên, cấp giấy chứngnhận cho học viên sau khóa bồi dưỡng; làm sao để bồi dưỡng LLCT cho CBQL cấp cơ sởthấm sâu vào từng CBQL, GV, nhân viên và từng học viên như một nhu cầu, hoạt động ýnghĩa thiết thực, tránh hình thức, chiếu lệ.
1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực
1.6.1 Những nhân tố khách quan 1.6.11 Biến đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội
Đặc thù của quản lý hoạt động BD LLCT gắn bó chặt chẽ với những biến độngchính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới và của đất nước trong từng giai đoạn
Sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã thu được những thànhtựu, kinh nghiệm rất quan trọng, đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện Các lĩnh vựcvăn hoá, xã hội đạt thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, nhất là xóa đói, giảm nghèo; đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; dân chủ trong xã hội tiếp tụcđược mở rộng; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tácđối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai sâu rộng và hiệu quả, góp phần tạo môi trườnghòa bình, ổn định và tăng thêm nguồn lực cho phát triển đất nước
Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta sẽ phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sauthời kỳ suy giảm; nước ta sẽ thực hiện nhiều hơn các hiệp định thương mại tư do songphương, đa phương, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế - xãhội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị
Mặc dù vậy, đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn, đanxen, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp Nguy cơ tụt hậu cơ sở hơn về kinh tế so vớinhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại Tình trạng suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là cán bộ lãnhđạo, quản lý các cấp; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; những biểu
Trang 33hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phứctạp.
Những diễn biến của tình hình thế giới, khu vực và trong nước sẽ tạo ra cả thời cơ
và thách thức tác động trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, đồng thời, tác động mạnh
mẽ đến đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp trong hệ thống chính trị, từ đó, ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả quản lý hoạt động BD LLCT của Đảng bộ
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, ở tỉnh nào kinh tế tăng trưởng nhanh, tình hìnhchính trị, xã hội ổn định thì việc tổ chức học tập, bồi dưỡng LLCT của Đảng bộ tỉnh đócũng thuận lợi hơn rất nhiều Kinh tế tăng trưởng nhanh không chỉ tác động về mặt tưtưởng mà còn trực tiếp tạo điều kiện về vật chất giúp cho các đơn vị thực hiện tốt hơnnhiệm vụ được giao Ngược lại, nếu nơi nào kinh tế gặp khó khăn, đời sống nhân dânthiếu thốn, tỷ lệ nghèo đói cao, xã hội không ổn định, nảy sinh nhiều vấn đề an ninh,chính trị, trật tự, an toàn xã hội hoặc những vấn đề phức tạp khác, thì việc tổ chức quản
lý hoạt động BD LLCT cũng sẽ kém hiệu quả
16.1.2 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ và công tác tư tưởng, lý luận chính trị
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảngviên, coi đây là nhiệm vụ chiến lược, cấp bách Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhànước đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đã
và đang thúc đẩy việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ mang lại hiệuquả thiết thực
Các nghị quyết trung ương như: Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII; Nghị quyếtTrung ương 5 khóa IX; Nghị quyết Trung ương 9 khóa X là những nghị quyết chuyên sâu
về công tác cán bộ và về hệ thống chính trị cơ sở Tiếp tục các quan điểm lãnh đạo, chỉđạo về công tác cán bộ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định:
“Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ” [11] [ 2 ] [12].
Trang 34Triển khai thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiềuvăn bản tổ chức thực hiện như: Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05-3-2010 về đào tạo,bồi dưỡng công chức; Thông tư 03/2011/TT - BNV hướng dẫn Nghị định 18/2010/NĐ-
CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Thông tư liên tịch 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐTquy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách đối với giảng viên tại cơ sởđào tạo, bồi dưỡng của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Trường Chính trịtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đây là những văn bản mang tính pháp lý quan trọng
để các cấp ủy đảng và chính quyền, các cơ sở đào tạo lý luận chính trị - hành chính trongtỉnh xây dựng mục tiêu, phương hướng và đề ra những giải pháp cụ thể cho hoạt động bồidưỡng lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên [5] [7] [8]
1.6.2 Những nhân tố chủ quan
1.6.2.1 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành hoạt động BDLLCT cho các bộ cấp cơ sở Nếu thiếu điều kiện này thì quá trình bồi dưỡng không thểdiễn ra và càng không thể nói tới nâng cao chất lượng
Chất lượng công tác bồi dưỡng phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện cụ thể: nhưđiều kiện về chỗ ăn, ở, sinh hoạt, các phòng học đạt tiêu chuẩn, đội ngũ cán bộ giảng viên
có trình độ Ngoài ra phải có môi trường sư phạm thuận lợi, có hệ thống các phương tiệncung cấp thông tin như tivi, radio, máy tính, thư viện để có thể cập nhật tình hình pháttriển kinh tế - xã hội, thời sự của địa phương, của ngành và các chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước
1.6.2.2 Nội dung, chương trình bồi dưỡng, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng
Nội dung, chương trình bồi dưỡng mang tính thiết thực, phù hợp sẽ kích thích,động viên học viên tham gia
Phương pháp, hình thức bồi dưỡng thích hợp sẽ góp phần phát huy vai trò tích cựcchủ động, sáng tạo của học viên, huy động họ tham gia vào quá trình bồi dưỡng, tựnghiên cứu để nâng cao bản lĩnh chính trị
Trang 35Hình thức tổ chức quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBQL cấp cơ sở phùhợp với đối tượng CBQL sẽ phát huy vai trò cá nhân học viên, khai thác tiềm năng và trítuệ của họ, giúp họ hình thành thế giới quan, nhân sinh quan và đạo đức cách mạng trongbối cảnh, tình hình hiện nay.
1.6.2.3 Năng lực và phẩm chất sư phạm của giảng viên
Nhiệm vụ quan trọng của việc bồi dưỡng LLCT là giúp học viên hình thành thếgiới quan, nhân sinh quan, đạo đức cách mạng và trang bị kiến thức, phương pháp làmviệc cho người làm công tác chính trị Từ đó, khơi dậy ở học viên ý thức, trách nhiệmtrước sự nghiệp cách mạng của đảng, Nhà nước, nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng,
có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu,luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộcủa dân, phục vụ nhân dân Chính vì vậy, vai trò của đội ngũ GV - những người trực tiếptruyền đạt kiến thức đến học viên là vô cùng quan trọng
Kết luận chương 1
Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị là một bộ phận cơ bản trong công tác tưtưởng của Đảng, thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trongcán bộ chủ chốt cấp cơ sở Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị nhằm hình thành thế giớiquan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin vànăng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, đáp ứng yêu cầu của từng thời
kỳ phát triển của đất nước
Lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách củamột Đảng, một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyền lực Nhà nước Lý luận chính trị là
lý luận trong lĩnh vực chính trị Lý luận chính trị ra đời khi xã hội có giai cấp và đấu tranhgiai cấp để đại diện cho một lợi ích của một Đảng, một giai cấp nhất định trong xã hội
Hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơbản, có hệ thống chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối,
Trang 36quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhândân.
Quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở theo định hướng pháttriển nguồn nhân lực là sự tác động có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý nhằm nâng cao năng lực lý luận chính trị và việc vận dụng lý luận vào thựctiễn quản lý nhà nước của đội ngũ CBCC cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Nội dung quản lý bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sởtheo định hướng phát triển nguồn nhân lực là: (1) Quản lý công tác xây dựng kế hoạch bồidưỡng lý luận chính trị, (2) Tổ chức thực hiện bồi dưỡng lý luận chính trị (3) Chỉ đạo thựchiện hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị (4) Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá việcthực hiện kế hoạch và kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị
Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho cán bộ chủchốt cấp cơ sở theo định hướng phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nhân tố kháchquan (biến đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, các chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về công tác cán bộ và công tác tư tưởng, lý luận chính trị) và nhữngnhân tố chủ quan (cơ sở vật chất, nội dung, chương trình bồi dưỡng, phương pháp, hìnhthức tổ chức hoạt động bồi dưỡng, năng lực và phẩm chất sư phạm của giảng viên)
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC 2.1 Khái quát khảo sát thực trạng
2.1.1 Vài nét về khách thể khảo sát
Tỉnh ủy Tuyên Quang hay còn được gọi Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh TuyênQuang, hay Đảng ủy tỉnh Tuyên Quang Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ tỉnhTuyên Quang giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Đứng đầu Tỉnh ủy là Bí thư Tỉnh ủy và thường là Ủy viên Ban chấp hành Trungương Đảng Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang hiện nay là Chẩu Văn Lâm
Ngày 18/10/1997 Ban Thường vụ Thành ủy Tuyên Quang đã ra Quyết định số 196/QĐ-TU về việc thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính trị thành phố Tuyên Quang
Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Tuyên Quang là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố có chức năng: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng
về lý luận chính trị - hành chính; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước; kiến thức, kĩ năng và chuyên môn nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng,chính quyền, Uỷ ban Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, kiến thức quản lýNhà nước cho cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn thành phố
Đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang:
- Cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, có lập trường quanđiểm chính trị vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết gắn bó với tổ chức, có phẩm chất đạo đứctốt, luôn tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách của pháp luật của nhànước Một số được đào tạo cơ bản có trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
Trang 38công tác chuyên sâu về Tài chính, kinh tế, đáp ứng được những yêu cầu cao về kỹ năng
xử lý trong công việc thực tiễn
Tuy nhiên có hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ chủ chốt trong cơ quan vàtừng đơn vị trong nhiều năm qua, nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu giải quyết, khắcphục, thường là đối tượng có năng lực hạn chế, đã lớn tuổi, có quá trình công tác, khóđiều chuyển hoặc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ Bên cạnh, có đơn vị có chỉ tiêubiên chế nhưng chưa chọn được người đủ tiêu chuẩn để bổ sung Đặc biệt thiếu nhữngchuyên gia giỏi, đầu ngành trong những lĩnh vực chuyên môn
Trình độ quản lý nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ công tác chuyên môn tuy đượcnâng lên nhưng nhìn chung trình độ, năng lực chưa ngang tầm, chưa đáp ứng được yêucầu đòi hỏi của nhiệm vụ trong lộ trình hội nhập giai đoạn hiện nay
Số cán bộ trẻ chưa qua thực tiễn, thiếu kinh nghiệm và năng lực nghiên cứu tổnghợp về các hoạt động của cơ quan
Chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở thành phố Tuyên Quang không đồngđều, hơn nữa chế độ chính sách cho cán bộ chậm đổi mới hoặc chưa đủ sức thu hút, độngviên và khuyến khích, như cơ sở vật chất, phương tiện đi lại, bộ máy tổ chức chưa ổnđịnh, thu nhập chưa đáp ứng, chưa chú trọng vào việc tạo động lực cho cán bộ chủ chốt
từ đó ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng, độ tin cậy, chất lượng và hiệu quả thực thi côngvụ
Khối lượng công việc nhiều, tính chất yêu cầu cao, phạm vi công tác rộng, trongkhi số lượng cán bộ có kỹ năng làm việc tốt lại rất ít Do vậy những cán bộ giỏi gặp nhiềukhó khăn khi vừa đảm nhận nhiệm vụ vừa tham gia đào tạo, bồi dưỡng và tự học Số ítcòn ngại học tập, nhất là học tập theo phương pháp học tập tích cực; còn thiếu tính năngđộng, linh hoạt, mang dấu ấn của tư duy cũ, hành chính sự vụ, chưa sâu sát cơ sở, ngườilao động
Chính từ những đặc thù trên của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở thành phố TuyênQuang cho thấy những yêu cầu cấp bách để đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động
Trang 39bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt theo định hướng phát triển nguồnnhân lực.
2.1.2 Tổ chức khảo sát
2.1.21 Mục tiêu khảo sát
Đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng LLCT, quản lý hoạt động bồi dưỡngLLCT cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang; chỉ ra được ưu, nhượcđiểm trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng
2.1.2.2 Nội dung khảo sát
- Thực trạng hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thànhphố Tuyên Quang bao gồm: nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng
- Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộthành phố Tuyên Quang: thực trạng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạtđộng bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
2.1.2.3 Khách thể khảo sát
- 13 cán bộ quản lý và giảng viên tham gia giảng dạy bồi dưỡng LLCT choCBCC cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
- 110 học viên tham gia lớp học bồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở ở Đảng
bộ thành phố Tuyên Quang trong năm 2017
2.1.2.4 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ hoạt động: Nghiên cứu các quyết định quản lý,các tài liệu văn bản, các kế hoạch bồi dưỡng, báo cáo tổng kết công tác quản lý hoạt độngbồi dưỡng LLCT cho CBCC cấp cơ sở
- Phương pháp điều tra viết: Đây là phương pháp quan trọng nhất để nghiên cứuthực trạng hoạt động bồi dưỡng LLCT và quản lý hoạt động bồi dưỡng LLCT cho CBCCcấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang
Trang 402.2 Thực trạng bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng
Các trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy và học tập giữ vai trò, vị trí là cầunối, giữ mối liên hệ giữa người truyền đạt và người tiếp thu kiến thức trong quá trìnhgiảng dạy Do đó, việc đầu tư và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất phục vụ trực tiếp choquá trình giảng dạy tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị thành phố Tuyên Quang đã đượcđược trú trọng đầu tư Đến nay, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố đã được trang
bị đầy đủ máy tính xách tay, máy chiếu phục vụ giảng dạy giáo án điện tử và công tác vănphòng
Nhìn chung, việc đầu tư trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập cũng như côngtác khai thác sử dụng máy chiếu projector ở các lớp bồi dưỡng đã phát huy hiệu quả, gópphần quan trọng vào việc đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy và học
2.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy bồi dưỡng các lớp lý luận chính trị
Đội ngũ báo cáo viên, giảng viên tham gia hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trịcho các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phố Tuyên Quang hầu hết là báo cáoviên, giảng viên cấp thành phố, các đồng chí là cấp ủy viên, trưởng, phó các ban chuyênmôn, đoàn thể của thành phố, tất cả được đào tạo cơ bản, có trình độ LLCT, phẩm chấtđạo đức trong sáng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, có tinh thầntrách nhiệm cao và nhiệt tình trong công tác
Bảng 2.1 Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy cho
các cán bộ chủ chôt cấp cơ sở ở Đảng bộ thành phô Tuyên Quang
Năm
Tông
Trình độ chuyên môn Trình độ lý luận chính trị