1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NÂNG CAO TRÌNH độ lý LUẬN CHÍNH TRỊ CHO đội NGŨ cán bộ CHỦ CHỐT cấp cơ sở ở THỊ xã KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY

121 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 716 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình này trên cơ sở làm rõ các khái niệm công cụ như Chính trị, Lý luận chính trị và cán bộ cơ sở đã đi sâu nghiên cứuthực trạng trình độ LLCT của cán bộ cơ sở ở 11 tỉnh, thành của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÂM TẤN ĐẠT

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Đinh Thế Định

Nghệ An, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục Chính trị, Phòngđào tạo Sau đại học, cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Vinh

đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Thế Định đã trựctiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng chân thành cảm ơn sự quan tâm của gia đình, bạn bè và sự giúp

đỡ các đồng nghiệp tại Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức Thị ủy, UBND Thị xã KiếnTường tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lâm Tấn Đạt

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp mới của đề tài 7

7 Kết cấu của luận văn 7

B NỘI DUNG 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ 8

1.1 Lý luận chính trị, bản chất, đặc trưng của lý luận chính trị 8

1.1.1 Khái niệm lý luận chính trị 8

1.1.2 Bản chất của lý luận chính trị 16

1.1.3 Đặc trưng của lý luận chính trị 18

1.2 Trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cơ sở 24

1.2.1 Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 24

1.2.2 Quy định về trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.28 1.2.3 Hình thức bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 30

1.2.4 Vai trò của lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 31

Kết luận chương 1 37

Trang 4

Chương 2: THỰC TRẠNG TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG TÁC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN 382.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, xã hội của thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 382.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 382.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 402.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 432.2.1 Cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 432.2.2 Trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 462.3 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốtcấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 492.3.1 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 492.3.2 Kết quả và hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An hiện nay 592.3.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế 68Kết luận chương 2 72Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÌNH

ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ

SỞ Ở THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 733.1 Phương hướng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 73

Trang 5

3.1.1 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở toàn diện cả lý luận, thực tiễn, kỷ năng thực hành 73

3.1.2 Chủ động mở rộng các loại hình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, một cách hợp lý, đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ sự nghiệp đổi mới của thị xã 77

3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay 78 3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và Chính quyền về công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 78

3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy ở trung tâm Bồi dưỡng Chính trị cấp huyện và Trường Chính trị tỉnh 82

3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp, tổ chức, quản lý giáo dục lý luận chính trị phù hợp với trình độ học vấn và khả năng nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 93

3.2.4 Nâng cao tính tự giác học tập rèn luyện, học tập lý luận chính trị của cán bộ chủ chốt cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An 97

3.2.5 Phối hợp công tác đào tạo, quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng cán bộ với công tác bồi dưỡng, giáo dục lý luận chính trị và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay .100

Kết luận chương 3 107

C KẾT LUẬN 108

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 CBCC: Cán bộ chủ chốt

2 CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

4 HĐND: Hội đồng nhân dân

7 UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng giáo dục lý luận chính trị chocán bộ Bởi vì, nếu có trình độ chuyên môn mà không có trình độ lý luận thì như “người nhắm mắt mà đi” Theo Người, giáo dục lý luận là nền tảng, trên cơ sở

đó nâng cao trình độ văn hoá và chuyên môn Lý luận chính trị là bộ phận quantrọng của lý luận, phản ánh những tính quy luật chính trị, các quan hệ chính trị -

xã hội, đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Người luôn nhấn mạnh đến giáo dục

lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, coi đây là yếu tố tiênquyết cho sự thành công của cách mạng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Banchấp hành Trung ương khoá IX nêu rõ: “Một trong những nguồn gốc thắng lợicủa công cuộc đổi mới là sức mạnh dấy lên từ cơ sở Chăm lo xây dựng cơ sở làbảo đảm thắng lợi vững chắc” Thật vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt (CBCC) cấp

cơ sở là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là nhân tố quyết định để đưa Nghịquyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống để thúc đẩykinh tế-xã hội phát triển

Trong điều kiện hiện nay, trước tình hình chính trị thế giới có nhiều biếnđộng phức tạp cùng với sự tác động của cơ chế thị trường đã dẫn đến sự daođộng tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên Năng lực và trình độ lý luậnchính trị của đội ngũ CBCC cấp cơ sở có tác dụng quan trọng trong sự phát triểnkinh tế, xã hội và an ninh trật tự ở địa phương, thúc đẩy sự phát triển chung chotoàn thị xã Ngày nay trong công cuộc đổi mới, trước thực trạng: “Một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, viphạm nguyên tắc đảng, phê bình, tự phê bình yếu Tình thương yêu đồng chí bịgiảm sút Tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trongmột bộ phận cán bộ đảng viên rất đáng lo ngại…”

Trang 8

Một số cán bộ, đảng viên hiện nay còn xem nhẹ việc nâng cao trình độ lý

luận chính trị, lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do

nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận

chính trị Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên nói

chung, đội ngũ CBCC cấp cơ sở của thị xã Kiến Tường được quan tâm và đẩymạnh Vì vậy, số lượng CBCC cấp cơ sở được nâng cao trình độ lý luận ngàycàng tăng Trên cơ sở đó, đã giúp cho đội ngũ này có năng lực tư duy lý luận,khả năng tổng kết thực tiễn, vận dụng tốt đường lối, chủ trương và chính sáchcủa Đảng và Nhà nước vào thực tiễn địa phương Tuy nhiên, công tác giáo dục,bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều hạn chế như chậm đổi mới nội dung vàphương pháp, hình thức, phương tiện; một số cán bộ chủ chốt cấp xã chưa nhậnthấy được tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho nênđôi khi đi học chỉ mang tính hình thức, đối phó Từ đó ảnh hưởng đến quá trìnhchỉ đạo thực tiễn của đội ngũ CBCC cấp cơ sở và tình hình hoạt động của địaphương, cơ sở Do vậy, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long

An nói riêng là yêu cầu vừa mang tính cấp thiết vừa là chiến lược lâu dài

Vì những lý do trên, nên chúng tôi chọn vấn đề: “Nâng cao trình độ Lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành

Chính trị học

Vấn đề Lý luận chính trị và nâng cao trình độ Lý luận chính trị cho đội

ngũ cán bộ đã có nhiều công trình nghiên cứu Tiêu biểu có các công trình:

GS.TS Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí Triết học, số 3 năm

1996 Bài báo đề cập đến mối quan hệ giữa đổi mới hệ thống chính trị và phát

Trang 9

huy dân chủ, trong đó làm rõ đổi mới hệ thống chính trị là điều kiện để phát huydân chủ.

GS Nguyễn Đức Bình, GS PTS Trần Ngọc Hiên, GS Đoàn Trọng

Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ nhiệm), “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới” Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 1999, đây là công trình rất có ý nghĩa giúp chúng ta có cơ

sở lý luận khi nghiên cứu về tăng cường hệ thống chính trị của nước ta trong quátrình CNH, HĐH đất nước Đặc biệt công trình đã làm rõ mối quan hệ giữa hệthống chính trị và xây dựng kinh tế cũng như đổi mới xã hội

TS Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002 Công trình

tập trung nghiên cứu 6 đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay,

để từ đó giúp cho chúng ta có cách tiếp cận đúng đắn, khoa học về xu hướng vậnđộng của các đặc điểm đó trong giai đoạn mới

Vũ Ngọc Am (2003) về Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở của trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Vũ Ngọc Am (2009) tiếp tục nghiên cứu vấn đề này với công trình Một

số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Thông tấn, Hà Nội.

Các công trình của tác giả Vũ Ngọc Am tập trung vào làm rõ những vấn đề cầntập trung nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy Lý luận chính trị giai đoạn hiệnnay, trong đó tác giả cho rằng cần kết hợp lý luận và thực tiễn mới đưa lại kếtquả cao

Phạm Huy Kỳ (2010) với công trình Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, Nxb Chính trị- Hành chính quốc gia, Hà Nội; Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị (2007), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội Với 2 công trình trên tác giả Phạm Huy Kỳ tập trung làm rõ tầm quantrọng của công tác nghiên cứu, giáo dục lý luận chính trị, đồng thời tác giả cũng

Trang 10

cho rằng chính Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục lýluận chính trị

Ban Tuyên giáo TW: Chương trình bồi dưỡng chuyên đề: Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị dành cho giáo viên giảng dạy lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, Nxb Lao động xã hội, năm 2008 Công

trình này chỉ tập trung nêu các phương pháp giảng dạy lý luận, tập trung cho trung tâmbồi dưỡng chính trị cấp huyện, nội dung còn phiến diện, chung chung, chủ yếu vàomột số chuyên đề và các bài giảng dạy bồi dưỡng kết nạp Đảng và bồi dương choĐảng viên mới

Vấn đề nâng cao trình độ Lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

đã có các công trình nghiên cứu, tiêu biểu: PGS.TS GVCC Đoàn Minh Duệ

(chủ biên, 2014) có công trình Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ hội nhập

và phát triển, Nxb Nghệ An Công trình này trên cơ sở làm rõ các khái niệm

công cụ như Chính trị, Lý luận chính trị và cán bộ cơ sở đã đi sâu nghiên cứuthực trạng trình độ LLCT của cán bộ cơ sở ở 11 tỉnh, thành của vùng ĐBSCLcũng như đưa ra hệ thống các giải pháp để từng bước nâng cao trình độ LLCT

của đội ngũ cán bộ cơ sở ở khu vực ĐBSCL); Nguyễn Khoa Điềm (2004), Nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công việc giáo dục lý luận chính trị trong tình hình mới, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, số 01 (Bài báo trước

hết khảng định tầm quan trọng của chất lượng và hiệu quả của giáo dục LLCTcho cán bộ , đảng viên trong tình hình mới, trên cơ sở đó đề xuất một số giảipháp giúp các cấp ủy Đảng nâng cao hiệu quả và chất lượng chính trị cho cán

bộ, đảng viên; Vũ Thuỳ Linh (2006), Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở của tỉnh Hải Dương- thực trạng và kinh nghiệm, Tạp

chí Thông tin công tác Tư tưởng, lý luận, số 4 (Bài báo trước hết khảng định tầmquan trọng của công tác giáo dục LLCT cho cán bộ, đảng viên ở tỉnh Hải

Trang 11

Dương, trên cơ sở rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác giáo dục LLCTcho cán bộ, đảng viên; Luận án tiến sĩ Triết học của Lê Hanh Thông,

(2003), Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội (Đây là công trình đề cập tương đối sâu về giáo dục LLCT choCBCC trong hệ thống chính trị cấp cơ sở, đặc biệt Luận án đã đưa ra hệ thống 5nhóm giải pháp nhằm từng bước đổi mới giáo dục LLCT cho CBCC cấp cơ sở ởkhu vực Nam Bộ; Luận văn Thạc sĩ Chính trị học của Nguyễn Ngọc Khanh,

(2006), Nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội (Công trình tập trung làm rõ về các tiêu chí khẳng định về chấtlượng đào tạo LLCT cho đội ngũ cán bộ nói chung và ở Thái nguyên nói riêng,

từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm giúp các cấp ủy ở Đảng bộ Thái Nguyênnâng cao chất lượng đào tạo LLCT cho đội ngũ cán bộ; Nguyễn Thị Hồng Lê,

“Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp

cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học

năm 2004 (Báo cáo luận văn đã làm rõ các khái niệm như LLCT, Cán bộ và cán

bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, trên cơ sở đó luận văn đề xuất 5 giải pháp nhằmtừng bước nâng cao chất lượng trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ

chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dương Phùng Thanh Quang, (2014), Giáo dục lý luận chính trị với việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn hiện nay, Luân văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học, Trường Đại học Vinh Đinh Văn Sáu (2014), Nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An trong giai

đoạn hiện nay, Luân văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học, Trường Đại học Vinh

Đặng Hữu Trình (2014), Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, Luân văn thạc sĩ

Trang 12

Khoa học Chính trị học, Trường Đại học Vinh Nguyễn Quốc Thanh, (2014),

Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ

sở ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn hiện nay, Luân văn thạc sĩ

Khoa học Chính trị học, Trường Đại học Vinh

Các công trình đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của giáo

dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở của nước ta, thực trạngnhững vấn đề đặt ra và từ đó đã đưa ra các giải pháp nhằm đổi mới, nâng caochất lượng giáo dục lý luận chính trị hiện nay Nhưng đến nay chưa có côngtrình khoa học nào đi sâu nghiên cứu vấn đề thực trạng và giải pháp nâng caotrình độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nâng cao trình độ Lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề về lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục

lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục lýluận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An

- Đề xuất Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long

An trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Lý luận chính trị và đội ngũ CBCC cấp cơ

sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long

An, gồm có 5 xã, 3 phường

Trang 13

Thời gian khảo sát: từ năm 2010 đến 2015.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chính trị và vaitrò của giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã KiếnTường

- Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổnghợp, điều tra xã hội học, nghiên cứu khảo sát thực tiễn, thống kê, để thực hiệnmục đích và nhiệm vụ đã đề ra

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng công tác nâng cao trình độ lýluận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng, giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC cấp cơ sở ở thị xã KiếnTường, tỉnh Long An

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc bồi dưỡng, giáo dục lýluận chính trị cho cán bộ, đảng viên ở thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnvăn được kết cấu trong 3 chương, 7 tiết

Trang 14

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ 1.1 Lý luận chính trị, bản chất, đặc trưng của lý luận chính trị

1.1.1 Khái niệm lý luận chính trị

1.1.1.1 Lý luận

Lý luận là một phạm trù rộng lớn, tồn tại và phát triển cùng với sự pháttriển của xã hội loài người Vì vậy, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về lýluận

Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2006 viết: Lý luận là “ Hệ thốngnhững tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạothực tiễn” [55, tr.565]

Từ điển triết học, Nxb sự thật, Hà Nội, năm 1976 định nghĩa: “Lý luận là

sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích luỹ được trong quá trình lịchsử”; là “hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức” [47, tr.526]

Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 1997 viết: “Lý luận là hệ thốngnhững tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạothực tiễn Lý luận là những kiến thức được khái quát và hệ thống trong một lĩnhvực nào đó” [41, tr.544 - 545]

Trong cuốn Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị do Ban Tuyên giáo

Trung ương biên soạn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, năm 2008 viết: “ Lý luận,hiểu theo nghĩa chung nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái quáthoá từ hoạt động thực tiễn của con người Lý luận là kết quả nhận thức chủ quancủa con người đối với những hiện tượng khách quan của tự nhiên, xã hội và tưduy” [ 3, tr.7]

Trang 15

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn coi trọng lý luận Người rất tâm đắc với câu nói nổi tiếng của V.ILênin: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng” [3,

tr 13] Và theo Người thì lý luận “Là sự tổng kết những kinh nghiệm của loàingười, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quátrình lịch sử” [33, tr 497]

Như vậy, lý luận được hình thành từ thực tiễn trên cơ sở khái quát nhữngkinh nghiệm của hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của con người Quan niệm

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đã góp phần làm sáng tỏ quan niệm triết học

về lý luận, nêu ra nguồn gốc, cách thức, con đường hình thành lý luận

Lý luận thường được hiểu là những tri thức và kinh nghiệm được kháiquát tích luỹ từ thực tiễn Lý luận được truyền bá, vận dụng trong thực tiễn vàluôn được bổ sung, phát triển làm cho phong phú hơn Lý luận phản ánh mốiliên hệ bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển của các sự vật hiệntượng trong thế giới khách quan

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về lý luận nhưng đều thống nhất ởchỗ: Lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn, là sự tổng hợp các trithức về tự nhiên xã hội được tích luỹ trong quá trình hoạt động lịch sử của conngười; là phản ánh bản chất, tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong mộtlĩnh vực nào đó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn hoạt độngthực tiễn

1.1.1.2 Chính trị

Bách khoa triết học, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, năm 1983 viết: “Chính trị

-theo nguyên nghĩa của nó là những công việc Nhà nước, là phạm vi hoạt độnggắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạtnhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước” [2, tr.507]

Trang 16

Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (tập 1) định nghĩa chính trị là:

“ toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp,giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chínhquyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc củanhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhànước Bất kì vấn đề chính trị nào cũng đều có liên quan đến quyền lợi của cácgiai cấp và nhà nước Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, bao gồm hệ tưtưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái xuất hiện khi xã hội phân chia thànhcác giai cấp dựa trên cơ sở hạ tầng kinh tế.” [ 52]

V.I Lênin đã khẳng định: Chính trị không thể chiếm vị trí ưu tiên so vớikinh tế Ưu tiên cho chính trị là ưu tiên cho việc giành lấy quyền lực chính trị vàcho xây dựng các quyết sách chính trị đúng Kinh tế phát triển phải thông quachính trị, thông qua hệ thống đường lối, chính sách pháp luật, quyền lực Nhànước và giai cấp nào muốn lãnh đạo kinh tế phát triển, đạt mục tiêu, lợi ích đề rathì không được sai lầm về chính trị Chính trị phục vụ cho lợi ích của giai cấpthống trị, đồng thời luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư tưởng chính trị của giaicấp cầm quyền Chính trị mang trong nó yếu tố năng động đặc biệt và không cómột công thức, cách thức chung duy nhất nào Chính trị không phải là conđường thẳng, thuận lợi dễ đi V.I Lênin cho rằng: “Chính trị giống đại số hơn là

số học, càng giống toán học cao cấp hơn là toán học sơ cấp”, “Chính trị là vậnmệnh thực tế của hàng triệu con người” [40, tr.150]

Chính trị là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người, nó có quan hệchặt chẽ với hoạt động thực tiễn của con người, biểu hiện lợi ích kinh tế nhấtđịnh của các tầng lớp dân cư trong xã hội, gắn liền với vận mệnh của nhân dân.Chính trị được đưa vào thực tiễn cuộc sống nhờ hệ thống thiết chế chính trị,Đảng phái chính trị, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội

Trang 17

Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, năm 2006 cho rằng: chính trị là

“Những vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy Nhà nước trong nội bộ mộtnước và về quan hệ chính thức giữa các nước với nhau”; “ Những hoạt động củamột giai cấp, một chính đảng một tập đoàn xã hội nhằm giành lấy hoặc duy trìquyền điều khiển bộ máy Nhà nước”; “ Những hiểu biết về mục đích, đường lối,nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính đảng nhằm giành lấy hoặc duytrì quyền điều khiển bộ máy Nhà nước”[55, tr 163]

Tuy có nhiều định nghĩa hoặc khái niệm khác nhau về chính trị, nhưngnhìn chung chính trị có đặc trưng chính đó là “ hành động”, những hành độngnày do nhiều người cùng thực hiện để giành lấy hoặc duy trì quyền lãnh đạo,quyền quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Chính trị chỉ có trong xã hội có phânchia giai cấp và thuộc về kiến trúc thượng tầng và chính trị là sự biểu hiện tậptrung nhất của kinh tế nhưng có vai trò độc lập và có tác động quan trọng đếnnền kinh tế

1.1.1.3 Lý luận chính trị.

- Khái niệm lý luận chính trị

Trong cuốn Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị do Ban Tuyên giáo

Trung ương biên soạn, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, năm 2008 viết: “Lý luậnchính trị là từ ghép giữa lý luận và chính trị Ở đây, lý luận được giới hạn ở lĩnhvực chính trị khái niệm chỉ mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội có giaicấp, xung quanh vấn đề giành hoặc giữ chính quyền của giai cấp mình Do vậy,

lý luận chính trị được hiểu là những vấn đề lý luận gắn liền với cuộc đấu tranhgiữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp, xung quanh vấn đề giành và giữ chínhquyền” [3, tr 7]

Có thể nói cách khác, LLCT là một hệ thống những tri thức được kháiquát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấp hoặc mộtchính đảng Lý luận chính trị phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên,

Trang 18

mang tính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chínhđảng và được biểu đạt bằng hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quyluật…có liên quan; lý luận chính trị có cơ sở là thực tiễn hoạt động chính trị;LLCT có tính khái quát cao, thể hiện bản chất của hoạt động chính trị và có tính

hệ thống

- Lý luận chính trị Mác – Lênin

Lý luận chính trị Mác – Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sởnền tảng của học thuyết mác-xít, đó là một hệ thống hoàn chỉnh và khoa học vớinhững luận cứ, quan điểm triết học, kinh tế học và chính trị xã hội

Chủ nghĩa Mác được hình thành và phát triển trên cơ sở tiếp thu một cách

có chọn lọc những tinh hoa của các khoa học triết học cổ điển Đức, kinh tếchính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng, phê phán thế kỷXIX, cùng với kết quả tổng kết kinh nghiệm từ các phong trào đấu tranh của giaicấp công nhân thế giới Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là một bước biến chuyểncách mạng vĩ đại trong khoa học về tự nhiên và xã hội

Với hai phát kiến vĩ đại: quan niệm về duy vật lịch sử và học thuyết về giátrị thặng dư, C.Mác đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học,đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác V.I.Lênin đã đánh giá các giá trị của họcthuyết Mác: “ lý luận đó là lý luận lần đầu tiên đã biến chủ nghĩa xã hội từkhông tưởng thành khoa học; lý luận đó đã dựng nên những cơ sở vững chắccho khoa học ấy và vạch rõ con đường mà chúng ta phải theo” [39, tr 230] và

“Lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự của một Đảng xã hội chủ nghĩa cáchmạng, là tổ chức cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và lãnh đạo cuộcđấu tranh đó, mà mục đích cuối cùng là giai cấp vô sản giành lấy chính quyền và

tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa” [39, tr 231]

V.I.Lênin trên nền tảng của học thuyết mác-xít đã phát triển một cáchsáng tạo học thuyết của C.Mác trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành

Trang 19

chủ nghĩa đế quốc V.I Lênin đã chứng minh rằng: trong những điều kiện mới,cách mạng XHCN có thể giành được thắng lợi ở một nước và một số nước trong

hệ thống tư bản chủ nghĩa; đồng thời với phát hiện đó, ông đã xây dựng thànhcông học thuyết về Nhà nước, đặc biệt là vấn đề Đảng của giai cấp công nhân,coi vấn đề này là điều kiện cơ bản quyết định thắng lợi trong cuộc cách mạng vôsản cũng như cách mạng XHCN Bằng các cống hiến to lớn của mình trong lýluận cách mạng, V.I Lênin đã góp phần phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, lần đầu tiên Đảng ta

đã xác định: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tưtưởng của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định: tưtưởng Hồ Chí Minh “… là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng vàphát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoavăn hoá nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợpsức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khốiđại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật

sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũtrang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm,chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; vềxây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo,vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…Tư tưởng Hồ Chí Minh soiđường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần tolớn của Đảng và dân tộc ta" [21, tr 164] Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phậnquan trọng của LLCT Việt Nam

Trang 20

1.1.1.4 Trình độ lý luận chính trị.

- Khái quát về trình độ lý luận chính trị

Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 2006 Trình độ là: “ mức độ về sựhiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nàođó” [ 55, tr 1.037] hoặc là: “dung lượng, mức độ và chất lượng của hệ thống trithức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cảm xúc và đánh giá tương ứng trong cấu trúc nhâncách Trình độ chung của con người cấu thành từ học vấn phổ thông, chuyênnghiệp; từ cuộc sống, kinh nghiệm ứng xử, thông qua con đường chủ đạo là dạyhọc, giáo dục và hoạt động "nhận thức - thực tiễn xã hội" của chính người đó”[52]

Trình độ LLCT là mức độ về sự hiểu biết hệ thống những tri thức đượckhái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấp hoặcmột chính đảng Hiểu biết về những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tínhquy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chính đảng Hiểu biết

về hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…có liên quan

Ngoài ra, trình độ LLCT còn là kỹ năng vận dụng hệ thống những tri thứcđược khái quát từ kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của một giai cấphoặc một chính đảng Vận dụng những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mangtính quy luật của hoạt động chính trị của một giai cấp hoặc một chính đảng Vậndụng hệ thống những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật…có liên quan

- Xác định về trình độ LLCT hiện hành của Đảng Cộng sản Việt Nam

Quy định số 256-QĐ/TW ngày 16/9/2016 của Ban Tổ chức Trung ương

về việc xác định trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên đã học lýluận chính trị ở các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống trường chính trị của Đảng hoặcđại học chính trị chuyên ngành và sau đại học tại Học viện Chính trị - Hànhchính quốc gia Hồ Chí Minh được xác định như sau:

Trang 21

Việc xác định trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên nhằmđảm bảo sự thống nhất về tiêu chuẩn trình độ lý luận chính trị trong Đảng; làm

cơ sở xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về

lý luận chính trị và thực hiện chính sách đối với cán bộ, đảng viên

Đối tượng xác định: cán bộ, đảng viên đã học lý luận chính trị ở cáctrường ngoài hệ thống trường chính trị của Đảng hoặc đã học đại học chính trịchuyên ngành và sau đại học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HồChí Minh, nay có nhu cầu được xác định trình độ lý luận chính trị

Nguyên tắc xác định: lấy nội dung chương trình sơ cấp, trung cấp, cao cấp

lý luận chính trị hiện hành của hệ thống trường chính trị của Đảng (trung tâmbồi dưỡng chính trị cấp huyện; trường chính trị cấp tỉnh, Học viện Chính trị -Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) làm chuẩn để đối chiếu với nội dung,chương trình lý luận chính trị (số môn, số tiết) đã được học của cán bộ, đảngviên

Thẩm quyền, trách nhiệm xác định:

- Ban tổ chức của cấp uỷ cấp huyện và tương đương; ban tổ chức của cấp

uỷ cấp tỉnh và tương đương; cơ quan tổ chức cán bộ của các ban, cơ quan đảng,đoàn thể, bộ, ngành và tương đương ở Trung ương có trách nhiệm lập danh sáchcán bộ, đảng viên có yêu cầu đề nghị xác định trình độ lý luận chính trị vàchuyển đến cơ sở đào tạo theo phân cấp đối tượng và địa bàn đào tạo

- Trên cơ sở danh sách đề nghị của ban tổ chức cấp uỷ các cấp, cơ quan tổchức cán bộ của các ban, cơ quan đảng, đoàn thể, bộ, ngành và tương đương ởTrung ương, các cơ sở đào tạo (trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, trườngchính trị cấp tỉnh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) chịutrách nhiệm thẩm định, cấp giấy xác nhận Nếu nội dung, chương trình đã họctương đương với chương trình nào thì căn cứ vào đó để cấp giấy xác nhận trình

độ lý luận chính trị

Trang 22

1.1.2 Bản chất của lý luận chính trị

1.1.2.1 Lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn

Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người trước hết phải làlịch sử của quá trình cải tạo thực tiễn tự nhiên và xã hội Để thực hiện được côngviệc này thì điều kiện cơ bản là con người phải có tri thức Tri thức là cái khôngphải có sẳn trong đầu óc con người mà được hình thành và bổ sung trong quátrình con người tác động vào tự nhiên và xã hội để cải tạo thế giới Từ nhữngkinh nghiệm thu thập được trong hoạt động thực tiễn, con người trừu tượng hoá,khái quát hoá để hình thành nên lý luận về một lĩnh vực hiện thực nhất định củađời sống xã hội, định hướng cho thực tiễn

Lý luận chính trị là hệ thống lý luận về một lĩnh vực – lĩnh vực chính trị,phản ảnh trực tiếp tập trung lợi ích của một giai cấp, một chính đảng nhất địnhtrong xã hội; là cơ sở lý luận cho hệ thống các quan điểm, chủ trương, đườnglối, chính sách của một Đảng hay một giai cấp để giành, giữ và thực thi quyềnlực Nhà nước Để thực hiện được chức năng này, lý luận chính trị buộc phải xuấtphát từ thực tiễn hoạt động chính trị Từ thực tiễn hoạt động chính trị mới cónhững bài học kinh nghiệm, mới có cơ sở để lý luận chính trị bổ sung, hoànthiện các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách nhằm định hướng trở lạicho hoạt động chính trị

1.1.2.2 Lý luận chính trị mang tính giai cấp.

Xã hội có chính trị là xã hội còn giai cấp, còn nhà nước Trong xã hội đó,vấn đề chính trị luôn tồn tại, chỉ khác nhau về tính chất, quy mô, mục tiêu,phương pháp…mà thôi Chính trị là một trong những lĩnh vực cơ bản của đờisống xã hội, nó có mối quan hệ và tác động qua lại với các lĩnh vực khác nhưkinh tế, văn hóa, tư tưởng…tính giai cấp của chính trị đã được khẳng định

Trang 23

Như vậy, tiếp cận các quan niệm trên có thể xem chính trị là một lĩnh vựccủa đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, cácquốc gia trong vấn đề giành, giữ, sử dụng hoặc chi phối quyền lực nhà nước.

1.1.2.3 Lý luận chính trị phản ánh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động chính trị.

Trong hoạt động chính trị, lý luận chính trị và thực tiễn chính trị là haidạng hoạt động của con người LLCT được hình thành không phải ở bên ngoàithực tiễn chính trị lý luận chính trị và chính trị thống nhất với nhau một cáchbiện chứng, làm cơ sở, tiền đề cho nhau phát triển Chúng tác động qua lại lẫnnhau, và trong đó thực tiễn chính trị giữ vai trò quyết định đối với lý luận chínhtrị

Lý luận chính trị là kim chỉ nam cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉđạo hoạt động chính trị Lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn hoạt động chínhtrị, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu, đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thựctiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn bởi vì chỉ có thực tiễn là tiêuchuẩn của chân lý để kiểm nghiệm lại lý luận chính trị đúng hay sai Nếu lý luậnchính trị xa rời thực tiễn chính trị sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáođiều, máy móc, bệnh quan liêu

Tuy nhiên tự bản thân lý luận chính trị luôn luôn phải đổi mới để theo kịp

sự phát triển của thực tiễn hoạt động chính trị để khỏi phải lạc hậu, lỗi thời vàphải làm vai trò hướng dẫn chỉ đạo và thúc đẩy hoạt động thực tiễn chính trị bởi

vì chỉ có một lý luận chính trị khoa học, cách mạng thì hoạt động thực tiễn chínhtrị mới đạt hiệu quả cao được Lý luận chính trị có vai trò rất lớn đối với thựctiễn chính trị , tác động trở lại thực tiễn chính trị, góp phần làm biến đổi thựctiễn chính trị thông qua hoạt động của con người

Thực tiễn hoạt động chính trị là cơ sở, nguồn gốc, động lực của lý luận

chính trị Bởi đây chính là nền tảng, là điểm xuất phát, là nơi diễn ra hoạt động

Trang 24

lý luận Mặt khác hoạt động thực tiễn thúc đẩy cho hoạt động lý luận chính trị vàthông qua nó con người phát triển bản chất, năng lực trí tuệ của mình Thực tiễnchính trị còn là mục đích của nhận thức của lý luận chính trị bởi vì hoạt động lýluận chính trị không phải chỉ để lý luận mà là cải tạo hoạt động chính trị nhằmphục vụ nhu cầu con người

Thực tiễn hoạt động chính trị phải được chỉ đạo, hướng dẫn bởi lý luậnchính trị khoa học, cách mạng Nếu thực tiễn chính trị không có lý luận chính trịdẫn đường thì thực tiễn chính trị sẽ trở nên mù quáng Còn nếu thực tiễn chínhtrị được chỉ đạo bởi LLCT sai lầm và phản cách mạng thì hậu quả sẽ khó lường

1.1.3 Đặc trưng của lý luận chính trị

1.1.3.1 Lý luận chính trị có tính trừu tượng và khái quát cao.

Lý luận chính trị chính là sản phẩm trực tiếp, là kết quả khái quát hoánhững tri thức về chính trị xã hội, trên cơ sở hoạt động chính trị thực tiễn củaquần chúng nhân dân Chính vì vậy, lý luận chính trị có tính trừu tượng và tínhkhái quát cao Những thuộc tính này giúp cho nhận thức đi sâu vào bản chất sựvật, hiện tượng xã hội và phát hiện ra các quy luật vận động, phát triển của xãhội Trong LLCT, quá trình trừu tượng hoá và khái quát hóa không tách rời màliên hệ, bổ sung cho nhau và xâm nhập lẫn nhau Các hình thức thể hiện lý luậnnói chung, lý luận chính trị nói riêng như khái niệm, nguyên lý, quy luật, phạmtrù … đều là kết quả của quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá cao của tư duycon người trong quá trình nhận thức thế giới

Nhờ có đặc trưng trừu tượng hoá, lý luận hướng con người vào việc tìm rachân lý, nắm bắt những mối quan hệ khách quan có tính bản chất, phát hiện racác quy luật chi phối sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong thếgiới Khái quát hoá giúp cho con người xây dựng các khái niệm, phạm trù, từ đóxây dựng nên các lý thuyết khoa học Khái quát hoá được thực hiện trên cơ sởmột số thuộc tính, đặc tính quan trọng nào đó đã được tư duy trừu tượng tách ra

Trang 25

khỏi những thuộc tính, đặc tính khác Từ những thuộc tính đã được trừu tượnghóa, tư duy đi đến khái quát thành cái chung bản chất, mang tính quy luật.

Mục đích của hoạt động, đặc biệt là công tác lý luận chính trị là đi vàobản chất của đời sống xã hội, quan hệ giai cấp và vạch ra bản chất ấy thông quacác quy luật lịch sử và hoạt động của con người trên các mặt lý luận và thựctiễn Trong lý luận chính trị các khái niệm, phạm trù, quy luật của nó có tínhchính xác, chặt chẽ và logic; độ tin cậy rất cao, tạo thành một chỉnh thể thốngnhất Lý luận chính trị tuy diễn đạt bản chất của các sự vật và hiện tượng ởnhững yếu tố và khía cạnh khác nhau nhưng lại có mối quan hệ biện chứng vớinhau Chính vì thế, lý luận chính trị không thể là sự hùng biện mang tính áp đặt,chắp vá và cắt xén những tri thức rời rạc Ngược lại, lý luận chính trị phải phảnánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng xã hội cũng như tự nhiên và dự báo,định hướng có cơ sở khoa học sự vận động và phát triển của lịch sử, xã hội

Mang đặc trưng tính trừu tượng hoá và khái quát hoá cao nên lý luận, lýluận chính trị là hệ thống tri thức đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc vềbản chất, tính quy luật các mối liên hệ tất nhiên … trong sự vận động và pháttriển của sự vật hiện tượng và do đó giúp cho con người có thể tiếp cận bản chấtsâu xa của sự vật vốn thường bị che lấp bởi các hiện tượng ngẫu nhiên, đơn lẻ,

bề ngoài; giúp cho con người không ngừng khám phá thế giới, đáp ứng nhu cầuthực tiễn đặt ra

1.1.3.2 Lý luận chính trị có sự thống nhất cao giữa lý luận và thực tiễn.

Lý luận chính trị được hình thành, tồn tại và phát triển song hành cùng với

sự phát triển của cuộc sống hiện thực; thực tiễn luôn có sự vận động và biến đổikhông ngừng Lý luận chính trị là phương tiện và có mục tiêu phản ánh đời sốngchinh trị - xã hội cũng phải không ngừng bổ sung và phát triển để theo kịp quyluật phát triển Do đó, để lý luận chính trị ngày càng phản ánh một cách chính

Trang 26

xác, sâu sắc và phong phú hơn thực tiễn đời sống chính trị - xã hội cần phảithường xuyên thực hiện việc tổng kết, đánh giá thực tiễn.

Quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa lý luận khoa học nói chung và chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng Theo quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận thuộc về lĩnh vực hoạt động tinh thần,còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất, là sản xuất là cuộc đấu tranh để bảo

vệ sự tồn tại của con người trước thiên nhiên và xã hội V.I Lênin khẳng định:

“Thực tiễn cao hơn nhận thức vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến

mà cả của tính hiện thực trực tiếp” [40, tr.230]

Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, lý luận có tồn tại, có sức sống hay khôngphụ thuộc ở mức độ phù hợp ở vai trò định hướng, gợi mở, chỉ dẫn, giải quyếtnhững vấn đề của đời sống thực tiễn Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triểnbuộc lý luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ sung,phát triển, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để làm cho tri thức lýluận ngày càng phản ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn đời sốngthực tiễn

Tuy nhiên, lý luận cũng có tính độc lập tương đối của nó, không hoàntoàn thụ động mà lýluận cũng đóng vai trò tích cực trở lại đối với thực tiễn Lýluận là kim chỉ nam giúp cho thực tiễn đạt kết quả cao Lý luận vạch ra phươnghướng cho thực tiễn, chỉ rõ phương pháp thực hiện có hiệu quả nhất để đạt mụcđích Đặc biệt là lý luận cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Không

có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” [38, tr.30]

Ly luận đem lại sức mạnh cho con người trong quá trình nhận thức và cải tạo thếgiới Nếu không có nhận thức đúng thì càng không thể có hành động đúng Nhờ

có lý luận, hoạt động của con người trở nên tự giác, tích cực, chủ động và tránhđược tình trạng tự phát, mò mẫm

Trang 27

Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làmột nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn không có lý luậnhướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng; Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn

là lý luận suông” [34, tr.498] Đối với Hồ Chí Minh lý luận cách mạng có vaitrò to lớn đói với cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân thúc đẩy cách mạngtiến lên Người cũng thường xuyên nhắc nhở Đảng và Nhà nước khi xây dựngđường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp phải xuất phát từ thực tiễn, từnhững đòi hỏi bức thiết của thực tiễn cách mạng Theo Người: “Lý luận phảiđem ra thực hành Thực hành phải nhằm theo lý luận” [32, tr.235]

Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường, Đảng cộng sản ViệtNam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiệnhoàn cảnh cụ thể Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi

to lớn Vì thế, Đảng và Bác hồ luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý luậncho cán bộ, Đảng viên, nhất là bồi dưỡng, giáo dục lý luận chính trị, coi đó làyêu cầu cơ bản không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng Bác đã chỉ rõ “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luậncủa Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hìnhthực tế của Đảng ta để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thànhtốt nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình” [33, tr.497] Quán triệt nguyên tắcthống nhất lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin, được Chủ tịch HồChí Minh cụ thể hoá sẽ chống được mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan duy

ý chí, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc …

Trong từng giai đoạn lịch sử cách mạng, Đảng ta kiên định, bảo vệ, pháttriển, và vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mộtcách sáng tạo phù hợp thực tiễn đất nước, đã thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển,nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kéo dài, sau 30 năm đổi mới, đấtnước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đưa Việt Nam

Trang 28

ra khỏi tình trạng kém phát triển; trở thành nước có thu nhập trung bình Vì thế,

“đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận” [11, tr.134] đã trở thànhnhiệm vụ hàng đầu trong công tác lý luận Nghị quyết TW 5 khoá X khẳng định

“Công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trong trongtoàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nềntảng chính trị của chế độ, tuyên truyền giáo dục, động viên và tổ chức nhân dânthực hiện các nhiệm vụ cách mạng, khẳng định và nâng cao vai trò tiên phongcủa Đảng về chính trị, lý luận, trí tuệ, văn hoá và đạo đức; thể hiện vai trò đitrước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”

1.1.3.3 Lý luận chính trị có sự thống nhất cao giữa tính Đảng và tính khoa học.

Trong hệ thống LLCT của Đảng Cộng sản Việt Nam, tính đảng và tínhkhoa học luôn thể hiện mục tiêu vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và toàn dân tộc Điều này là sự phản ánh đúng quy luật khách quan củatiến trình cách mạng Việt Nam Thực tiễn cách mạng đã khẳng định chủ nghĩaMác – Lênin không chỉ xuất phát, phản ánh khách quan nhu cầu lợi ích của giaicấp công nhân, của nhân dân lao động mà còn phù hợp với nguyện vọng của họnữa Vì thế, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong hệ thống lý luậnchính trị của Đảng là một trong các đặc trưng quan trọng, cơ bản

Trong lý luận chính trị, tính Đảng và tính khoa học có mối quan hệ biệnchứng không thể tách rời, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu sắc,tính Đảng và tính khoa học làm điều kiện, tiền đề tồn tại, phụ thuộc lẫn nhau,không thể loại bỏ cái này, coi trọng cái kia Do vậy, “Khoa học càng được tiếnhành một cách dũng cảm và vô tư thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyệnvọng của giai cấp công nhân” [30, tr.451] Lý luận chính trị không có mục đíchnào khác ngoài mục đích thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng cho nênnhiệm vụ quan trọng của nó là định hướng cho con người trong nhận thức và

Trang 29

hành động để cải tạo thế giới Khi đó, tính khoa học là tiền đề, là cơ sở và tínhĐảng giữ vai trò định hướng cách mạng để loại trừ cái cũ, cái lạc hậu, xây dựngcái mới tiến bộ, hợp quy luật V.I Lênin coi trọng chủ nghĩa Mác là cơ sở lý luậnvững như đá hoa cương, có “sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn nhữngngười xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước theo lý luận đó chính là ở chỗ nó kếthợp tính khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội),với tinh thần cách mạng” [29, tr.421].

Để thực hiện được vai trò là đội tiên phong thì trước hết Đảng phải có một

hệ thống lý luận chính trị tiên phong hướng dẫn Để đảm bảo cho vai trò lãnhđạo của mình, Đảng phải thực sự tiêu biểu cho trí tuệ dân tộc và thời đại Tínhchất phát triển của lý luận chính trị là lý luận chính trị phải xuất phát từ thực tiễnchính trị và đời sống của nhân dân, đồng thời trên cơ sở xuất phát ấy đưa ranhững dự báo khoa học về sự phát triển cho các vấn đề mới nảy sinh và nhữngkết luận mới nhằm bổ sung, hoàn thện và phát triển chính bản thân lý luận chínhtrị Tính Đảng có vai trò định hướng cho việc nghiên cứu lý luận chính trị đạtđược hiệu quả cao trong thực tiễn chính trị Lý luận cách mạng phải xuất phát từthực tiễn cách mạng, được thực tiễn cách mạng kiểm nghiệm để bổ sung, hoànthiện và phát triển

Lý luận chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nềntảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với tổng kết thựctiễn có vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những luận cứ khoa họccho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới và thực hiện thắnglợi các mục tiêu, chủ trương kế hoạch đề ra Lý luận chính trị của Đảng ta chính

là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa trí tuệ của dân tộc và thời đại, kháiquát những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ trên thế giới Là

sự tổng kết, đúc kết những kinh nghiệm từ thực tiễn phong trào đấu tranh cáchmạng của dân tộc và nhân dân thế giới, sự vận dụng sáng tạo và phát triển của

Trang 30

chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, trong hoàncảnh cụ thể mới, đồng thời cũng chính là một điển hình về sự thống nhất caogiữa tính Đảng và tính khoa học.

Thực tiễn cũng đã khẳng định, lý luận chính trị của Đảng ta còn có tính

hệ thống và tính kế thừa Các tính chất này giúp cho Đảng ta với hệ thống lýluận chính trị đúng đắn, khoa học, phù hợp quy luật đã hoàn thành tốt nhiệm vụchính trị lãnh đạo cách mạng Việt Nam Mục tiêu kiên định của Đảng ta hiệnnay là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, xây dựng và phát triển đất nước theo

hướng “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Để hoàn thành

mục tiêu này, Đảng phải quan tâm đặc biệt đến công tác nghiên cứu và hoànthiện hệ thống lý luận, làm cho lý luận chính trị của Đảng không ngừng pháttriển, là định hướng thực hiện nhiệm vụ Đồng thời, việc hệ thống lý luận chínhtrị của Đảng ta ngày càng hoàn thiện, có sức sống mới, có sự mạnh sẽ góp phần

bổ sung và hoàn thiện kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

1.2 Trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cơ sở

1.2.1 Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

1.2.1.1 Khái niệm cán bộ

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, cán bộ:

“Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước; người giữ chức vụ,phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chứcnhà nước” [56]

Theo Luật cán bộ, công chức 22/2008/QH12, ngày 13/11/2008: Cán bộ,công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là người đem chính sách của Đảng,Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hìnhdân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng

Trang 31

Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm dùng để chỉnhững người ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách hoànthành nhiệm vụ theo chức năng được tổ chức đó phân công.

Như vậy, có thể hiểu:

Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc

trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị, xã hội, các doanh nghiệpnhà nước và các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương và cơ sở

Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ

chức để phân biệt với người không có chức vụ

Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốn đặctrưng cơ bản:

+ Cán bộ được sự ủy nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức kháctrong HTCT lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động

+ Cán bộ giữ chức vụ, trọng trách nào đó trong một tổ chức của HTCT.+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoànthành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung,chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ

Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lýhoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc,hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ được hìnhthành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổnhiệm, đề bạt hoặc bầu cử

1.2.1.2 Khái niệm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2002: Chủ chốt là tính từ chỉ "quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” Như vậy, nói chủ

Trang 32

chốt là nói đến quan hệ trong một tập hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đốitượng và vị trí, tính chất của những phần tử, đối tượng trong tập hợp ấy.

Từ những nội dung trình bày nêu trên, có thể hiểu "Cán bộ chủ chốt" là

người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trongcác tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảmđương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thựchiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấpmình về lĩnh vực công tác được giao

CBCC có những đặc trưng cơ bản như sau:

- CBCC là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xácđịnh phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và tổchức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra,giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnhkịp thời những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để

bổ sung, hoàn chỉnh lý luận Đồng thời, CBCC còn là người giữ vai trò đoàn kết,tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn

vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh

- CBCC là những người đại diện một tổ chức, một tập thể chủ yếu do bổnhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, chính quyền(cấp trưởng, cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệmtrước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnhvực công tác được đảm nhận

Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Trong hệ thống hành chính của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam thì xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) là đơn vị hành chính cấp cơ sở,nơi thể hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước

Trang 33

Bộ máy hành chính cấp xã có vị trí hết sức quan trọng trong bộ máy hànhchính Nhà nước pháp quyền Đây là cấp hành chính có quan hệ trực tiếp, gắn bómật thiết với người dân, là mắt xích, cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân Đểđường lối của Đảng, chính sách - pháp luật Nhà nước đến với nhân dân, trởthành hành động của nhân dân CBCC cấp xã là những người thay mặt choĐảng và Nhà nước trực tiếp lãnh đạo, làm việc với dân; trực tiếp chuyển tảinhững chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của đảng và Nhà nước đếnnhân dân Đồng thời, cán bộ lãnh đạo xã cũng là những người tổ chức thực hiệncác chủ trương, đường lối, chính sách ấy trên địa bàn.

Từ khái niệm CBCC có thể hiểu CBCC cấp xã là những người đứng đầu,giữ vị trí quyết định trong các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể trong HTCT

cơ sở Theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm

2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối vớicán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động khôngchuyên trách ở cấp xã thì ở xã có các chức danh lãnh đạo sau: Bí thư, Phó Bí thưĐảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủyban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịchHội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt độngnông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịchHội Cựu chiến binh Việt Nam

Từ nhận thức đó, đặc biệt theo quan điểm được khẳng định trong Nghị quyết

Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5 khóa IX “Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” cũng như Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ “Về công chức xã, phường, thị trấn” thì tác giả luận văn đề cập đến đội ngũ CBCC của hệ thống chính trị cấp

cơ sở bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy xã; Chủ tịch, Phó Chủ

Trang 34

tịch HĐND xã; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổquốc; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Bí thư ĐoànThanh niên; Chủ tịch Hội Nông dân.

1.2.2 Quy định về trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp

d- Đảng viên là công chức ngạch chuyên viên, là chuyên viên chính phảihọc xong chương trình trung cấp về lý luận chính trị, chuyên viên cao cấp phảihọc xong chương trình lý luận chính trị cao cấp

e- Đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, quận và cán bộ lãnhđạo một số ban, ngành cấp tỉnh, một số doanh nghiệp (có quy định riêng) phảihọc xong chương trình lý luận chính trị cao cấp tại Phân viện thuộc Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh

g- Đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, thành, cán bộ lãnh đạochủ chốt các ban, ngành Trung ương, uỷ viên thường vụ các đoàn thể Trungương, ban giám đốc các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn của nhà nước (cóquy định riêng) phải học xong chương trình lý luận chính trị cao cấp tại Trungtâm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 35

h- Tất cả đảng viên và cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp phải học tập quántriệt các nghị quyết của Đại hội Đảng, của Ban Chấp hành Trung ương thôngqua các chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị do Bộ Chính trị quy định cụ thểcho từng năm".[11]

Ngày 16 tháng 01 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyếtđịnh số 04/2004/QĐ-BNV Về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối vớicán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Trong Quyết định này, từng chức danhlãnh đạo, công chức cấp xã đều có những tiêu chuẩn riêng về tuổi đời, học vấn,

lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ…Trong đó, trình độ LLCT là tiêu chuẩnquan trọng nhất, bởi vì cấp cơ sở là nơi gần dân nhất, nơi trực tiếp triển khai và

tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước Do vậy, người cán bộ, công chức chủ chốt của xã phải có mộttrình độ LLCT tương ứng với chức vụ, chức danh đang đảm nhiệm

Theo tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn do

Bộ Nội vụ quy định thì trình độ LLCT của CBCC cấp cơ sở như sau: Bí thư,Phó Bí thư Đảng uỷ, Chi ủy,Thường trực đảng uỷ xã: có trình độ trung cấp chínhtrị trở lên; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân,Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: có trình độ sơ cấp và tương đương trở lên; Chủtịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân: có trình độ trung cấp lý luận chính trị đốivới khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trịtương đương trình độ sơ cấp trở lên; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân:

có trình độ trung cấp LLCT trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miềnnúi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Trang 36

1.2.3 Hình thức bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở

Giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị góp phần quan trọng vào việc nângcao trình độ giác ngộ của quần chúng nhân dân, khơi dậy tinh thần kiên cườngbất khuất, dũng cảm hy sinh chống áp bức, bóc lột, giành độc lập, tự do; là độnglực thúc đẩy cán bộ đảng viên và quần chúng hăng hái thi đua, ra sức bảo vệ vàxây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa Hình thức bồi dưỡng nâng cao trình độ

lý luận chính trị đối với CBCC cấp cơ sở như sau:

- Hình thức bồi dưỡng tập trung: bồi dưỡng LLCT dành cho đối tượng kếtnạp đảng và đảng viên mới tại Trung tâm BDCT thị xã; Trung cấp LLCT tạitrường Chính trị tỉnh; Cao cấp LLCT tại Học viện chính trị Quốc gia khu vực II-Thành phố Hồ Chí Minh

- Hình thức bồi dưỡng vừa làm, vừa học: Đối với cấp thị xã có hình thứcbồi dưỡng sơ cấp LLCT tại Trung tâm BDCT thị xã, lớp trung cấp LLCT và caocấp LLCT tại Trường Chính trị tỉnh

Nội dung các chương trình bồi dưỡng nêu trên thực hiện theo hướng dẫncủa Ban Tuyên giáo Trung ương, đối với chương trình Sơ cấp lý luận chính trị,thực hiện theo Hướng dẫn số 65-HD/BTGTW, ngày 11 tháng 12 năm 2012 củaBan Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình Sơ cấp lý luận chính trị Tàiliệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành Chương trình lý luận chính trịdành cho học viên lớp đối tượng kết nạp Đảng, thực hiện theo Hướng dẫn số 10-HD/BTGTW, ngày 30 tháng 9 năm 2016 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thựchiện chương trình học tập lý luận chính trị dành cho học viên lớp đối tượng kết nạpĐảng Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành Chương trình bồi dưỡngđảng viên mới, thực hiện theo Hướng dẫn số 11-HD/BTGTW, ngày 30 tháng 9 năm

2016 của Ban Tuyên giáo Trung ương về thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận

Trang 37

chính trị dành cho đảng viên mới Tài liệu do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấnhành.

1.2.4 Vai trò của lý luận chính trị đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thể hiện trực tiếp

và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước CBCCcấp cơ sở là những người trực tiếp làm việc với nhân dân, trực tiếp giải quyếtnhững vấn đề phát sinh từ thực tiễn cơ sở Để hoàn thành nhiệm vụ tốt thì ngoàiviệc phải có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ, người CBCCcấp cơ sở cần phải có trình độ LLCT tương ứng Vai trò của LLCT với CBCCcấp xã được thể hiên:

Thứ nhất; Trang bị cho người CBCC sự hiểu biết cần thiết để nhận thức

đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương đường lối của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở

Tại các đơn vị hành chính cấp cơ sở, hoạt động của người CBCC có vaitrò rất quan trọng trong việc triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện các chủtrương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan

Để thực hiện tốt vai trò quan trong trên, người CBCC cấp cơ sở bên cạnh nănglực của mình còn phải có trình độ nhất định về nhiều mặt – trong đó có LLCT

Lý luận chính trị với những đặc trưng riêng biệt sẽ trang bị cho người cán bộlãnh đạo cấp cơ sở năng lực tư duy để nhận thức vấn đề một cách đúng đắn, trên

cơ sở nhận thức đúng đắn thì người cán bộ lãnh đạo sẽ tổ chức triển khai thựchiện các chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nướctrong thực tế cơ sở đạt kết quả cao Nhiệm vụ chính trị trọng tâm của người cán

bộ lãnh đạo cấp cơ sở là tiếp thu, lĩnh hội các chủ trương, đường lối và chínhsách, pháp luật thông qua các Nghị quyết, Chỉ thị, văn bản của cấp trên (tỉnh,huyện) và tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn công tác được phân công phụtrách

Trang 38

Có được trình độ LLCT đảm bảo theo tiêu chuẩn chức danh đang đảmnhiệm thì người cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở mới có thể nhận thức được vấn đềmột cách có hệ thống, hiểu rõ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách pháp luật của Đảng

và Nhà nước Trên cơ sở đó, người CBCC cấp cơ sở hình thành được năng lựcđịnh hướng đúng đắn và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và chỉ đạohoạt động thực tiễn

Có trình độ LLCT, có tư duy lý luận thì người CBCC cấp cơ sở mới cókhả năng tiếp thu chuẩn xác những vấn đề về quan điểm chủ trương, về chínhsách pháp luật, về khoa học kỹ thuật Khi mà tiếp thu đã chuẩn xác rồi thì chắcchắn việc triển khai, việc tổ chức thực hiện các nội dung ấy sẽ đạt kết quả cao.Thực tế đã có không ít trường hợp, do trình độ LLCT và tư duy lý luận còn hạnchế nên tiếp thu chưa chính xác tinh thần cơ bản của lý luận Từ việc tiếp thuchưa chuẩn thì chắc chắn khi báo cáo lại, khi tổ chức thực hiện trong thực tiễnchỉ là hình thức, đọc lại văn bản, thậm chí còn làm mất đi tính hệ thống của vấn

đề, không làm rõ được trọng tâm cũng như bản chất của vấn đề Như thế, chấtlượng việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của cấp trên sẽ không cao,làm ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế - xã hội không chỉ tại cơ sở mà cònảnh hưởng đến cả cấp trên

Lý luận chính trị còn trang bị cho người CBCC cấp cơ sở năng lực nhậnthức thực tiễn trong việc phát hiện vấn đề, xác định bản chất, nguyên nhân chủyếu và khả năng vận dụng lý luận khoa học vào việc xây dựng các chủ trương,định hướng hoạt động, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn phụtrách và quyết định các vấn đề có liên quan một cách chính xác và đúng đắn

Trình độ LLCT còn giúp cho người CBCC cấp cơ sở rèn luyện năng lực

tư duy, năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách năng động và sáng tạo.Đối với người CBCC cấp cơ sở khả năng này rất quan trọng trong việc hoạch

Trang 39

định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương cũng như cho từnglĩnh vực, từng đơn vị cụ thể LLCT giúp cho họ có nhận thức đúng trong việchoạch định kế hoạch hoạt động, phải xuất phát từ điều kiện, từ hoàn cảnh cụ thểcủa địa phương trên từng lĩnh vực để xây dựng các mô hình, chương trình, kếhoạch hành động và các giải pháp, biện pháp để thực hiện kế hoạch Thực hiệnđược yêu cầu trên, đội ngũ CBCC cấp cơ sở đã thể hiện được năng lực sáng tạocủa mình nhờ nhận thức đúng đắn lý luận, quan điểm, đường lối trong quan hệvới việc thực hiện nhiệm vụ của bản thân Năng lực đó được hình thành trên cơ

sở kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn thành một quy trình thống nhấttrong hoạt động lãnh đạo, quản lý; năng lực ấy góp phần quan trọng vào việcxây dựng thành công các mô hình phát triên kinh tế, văn hoá, xã hội phục vụcho phương hướng và mục tiêu phát triển; năng lực ấy còn là cơ sở cho khả năngquyết đoán trong thực hiện nhiệm vụ, giải quyết công việc một cách tự tin,nhanh chóng, đúng đắn; nhất là trong các tình huống bất ngờ Nhờ vậy, ngườicán bộ lãnh đạo cấp cơ sở kịp thời giải quyết các mâu thuẫn và các vấn đề phứctạp phát sinh, làm chủ trong mọi tình huống, đảm bảo tính ổn định để phát triển

Tóm lại, LLCT có vai trò quan trọng trong việc trang bị thế giới quan vàphương pháp luận cũng như những tri thức cần thiết cho đội ngũ CBCC cấp cơ

sở trong việc thực hiện nhiệm vụ được phân công

Thứ hai; Trình độ LLCT giúp cho người CBCC cấp cơ sở có thể nâng cao

năng lực tổ chức và tổng kết thực tiễn

Lý luận chính trị có nhiều đặc trưng cơ bản, một trong những đặc trưng đó

là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Nguyên tắc này đòi hỏi ngườiCBCC trước tiên phải có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vàtrình độ LLCT nhất định tuỳ theo từng cương vị lãnh đạo, quản lý Đạt được quyđịnh như trên thì người cán bộ mới có khả năng nắm bắt vấn đề, biết sàng lọcnhững thông tin cơ bản trong suốt quá trình triển khai, tổ chức thực hiện công

Trang 40

việc cũng như những vấn đề chủ yếu để tiến hành việc tổng kết công việc - tổngkết thực tiễn Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và công việc, sẽ rút ra được nhữngbài học kinh nghiệm quý báu để góp phần xây dựng phương hướng, đường lốitrong thời gian tới; bổ sung và phát triển lý luận theo hướng ngày càng hoànthiện.

Đặc trưng quan trọng của lý luận là lý luận phải có cơ sở khoa học mới cóvai trò chỉ đạo đối với hoạt động thực tiễn Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênintrang bị cho con người thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luậnkhoa học trong việc nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực Lý luận Mác –Lênin phản ánh một cách đúng đắn và khách quan quy luận vận động và pháttriển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; khái quát và tổng kết một cách có

hệ thống những kinh nghiệm của phong trào cách mạng vô sản trên toàn thếgiới Với bản chất khoa học và cách mạng, chủ nghĩa Mác – Lênin đóng vai tròkhông thể thiếu đối với những người Cộng sản trong nhận thức và cải tạo tựnhiên, cải tạo xã hội Trên cơ sở lý giải đúng đắn các vấn đề về thế giới và vaitrò của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, chủ nghĩa Mác –Lênin đã trở thành nền tảng lý luận quan trọng, định hướng cho con người tronghoạt động thực tiễn của mình Sự định hướng đó giúp cho chủ thể hoạt độngthấy được phương hướng hoạt động của đối tượng, cũng như mục tiêu, phươngpháp và cách thức tối ưu để đạt được mục tiêu Phương pháp luận khoa học củachủ nghĩa Mác – Lênin còn chỉ cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải biết xuất phát

từ thực tế khách quan, lấy thực tiễn làm định hướng chỉ đạo cho con người tronghành động để tránh những sai lầm hay mò mẫm trong hoạt động thực tiễn

Tư tưởng Hồ Chí Minh - một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về

những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng vàphát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa

Ngày đăng: 11/03/2022, 18:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Ngọc Am (2009), Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy lýluận chính trị
Tác giả: Vũ Ngọc Am
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
[3]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy lý luậnchính trị
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2008
[5]. Bảo tàng Hồ Minh (2006), Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luậnchính trị
Tác giả: Bảo tàng Hồ Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[6]. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, Kế hoạch số 04-KH/TU, ngày 16/9/2002 “về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý
[7]. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/12/2006 “về việc nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị-xã hội ở xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về việc nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của MTTQ vàcác đoàn thể chính trị-xã hội ở xã, phường, thị trấn
[8]. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Long An, Quyết định số 279-QĐ/TU, ngày 27/9/2011 “về việc ban hành Đề án công tác cán bộ của tỉnh giai đoạn 2011- 2020 và những năm tiếp theo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về việc ban hành Đề án công tác cán bộ của tỉnh giai đoạn 2011-2020 và những năm tiếp theo
[9]. Ban Thường vụ Thị ủy Kiến Tường, Kế hoạch số 20-KH/TXU, ngày 10/10/2013 “về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý
[10]. Nguyễn Đức Bình (2001), Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác lý luận tưtưởng và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[11]. Bộ Chính trị (1999), Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 “về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “vềchế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1999
[12]. Bộ Nội vụ , Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 /01/2004 “về việc ban hành qui định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “vềviệc ban hành qui định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường,thị trấn
[13] Chính phủ, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 “về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về chứcdanh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
[14] Chính phủ, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 “về công chức xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “vềcông chức xã, phường, thị trấn
[15]. Hồ Ngọc Cẩn (2006), Tìm hiểu các quy định pháp luật về cán bộ công chức, Nxb Lao động- Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các quy định pháp luật về cán bộcông chức
Tác giả: Hồ Ngọc Cẩn
Nhà XB: Nxb Lao động- Xã hội
Năm: 2006
[18]. PGS.TS. GVCC Đoàn Minh Duệ và GS.TS Nguyễn Đăng Dung - đồng chủ biên (2010), giáo trình Chính trị học, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Chính trị học
Tác giả: PGS.TS. GVCC Đoàn Minh Duệ và GS.TS Nguyễn Đăng Dung - đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2010
[19]. PGS.TS. GVCC Đoàn Minh Duệ và Ths. Hồ Thị Hồng Cúc (đồng chủ biên) (2014), Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ cơ sở các tỉnh đồng bằng sông Cửu long trong thời kỳ hội nhập và phát triển , Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cánbộ cơ sở các tỉnh đồng bằng sông Cửu long trong thời kỳ hội nhập và phát triển
Tác giả: PGS.TS. GVCC Đoàn Minh Duệ và Ths. Hồ Thị Hồng Cúc (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2014
[20]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[21]. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[22]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ nămBan Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
[23]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ nămBan Chấp hành Trung ương khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
[25]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w