1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam

130 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú Tỉnh Thái Nguyên Trong Định Hướng Phát Triển Nguồn Nhân Lực Vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Giang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Dân tộc học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM THỊ GIANG VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ GIANG

VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Dân tộc học

Mã số: 60 22 70

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh

Hà Nội - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên hướng dẫn để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Hà Nội, tháng 8 năm 2014

Tác giả Phạm Thị Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân tác giả Khi hoàn thành luận văn, tôi muốn được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đầy thách thức nhưng rất quan trọng với cuộc đời và sự nghiệp của tôi Trước tiên, tôi xin được gửi tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất, cảm ơn thầy

đã hướng dẫn tận tình trong việc hình thành ý tưởng, triển khai thu thập tài liệu nghiên cứu và viết kết quả nghiên cứu thành bản luận văn này Tôi cũng muốn được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dạy tôi những tri thức khoa học và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Luận văn này sẽ khó có thể hoàn thành được như tôi mong đợi nếu như không có sự hỗ trợ rất quý báu từ Ban dân tộc tỉnh Thái Nguyên, Sở GD&ĐT tỉnh Thái Nguyên Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới các ông, bà: ông Nguyễn Văn Trường (Phó Hiệu trưởng trường PTDTNT Thái Nguyên), bà Nông Thị Hảo (Hiệu trưởng trường THPT Bình Yên), bà Lương Thị Thu Hằng (Hiệu trưởng trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm) - những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc khảo sát tài liệu thực địa Gia đình và bạn bè tôi cũng chính là nguồn động lực tinh thần quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi

sẽ luôn ghi nhận và cảm kích với những hỗ trợ và động viên từ họ trong suốt quá

trình tôi thực hiện công trình nghiên cứu này

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Đối tượng nghiên cứu 8

3 Câu hỏi nghiên cứu 8

4 Nguồn tư liệu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 9

6 Bố cục của luận văn 10

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 11

1.1 Tổng quan nghiên cứu 11

1.2 Cơ sở lý thuyết 13

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 13

1.2.2 Cơ sở lý thuyết 15

1.3 Phương pháp nghiên cứu 19

1.4 Lịch sử hình thành và vai trò của trường phổ thông dân tộc nội trú 21

1.4.1 Lịch sử hình thành 21

1.4.2 Vai trò của trường phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục Việt Nam 24

1.5 Hệ thống trường PTDTNT ở Thái Nguyên 25

1.5.1 Vài nét về tỉnh Thái Nguyên 25

1.5.2 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp Trung học cơ sở 27

Trang 6

1.5.3 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp Trung học phổ thông 29

1.6 Tiểu kết 29

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 31

2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 31

2.1.1 Quy mô trường 31

2.1.2 Khu phòng học 32

2.1.3 Khu văn phòng 33

2.1.4 Thư viện 34

2.1.5 Ký túc xá và nhà ăn của học sinh 35

2.1.6 Hệ thống công nghệ thông tin 35

2.1.7 Sân chơi 36

2.1.8 Nhà để xe; hệ thống vệ sinh; phòng y tế 36

2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí 37

2.2.1 Đội ngũ giáo viên 37

2.2.2 Đội ngũ cán bộ quản lí, nhân viên 40

2.3 Đội ngũ học sinh 41

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ 1986 ĐẾN NAY 51

3.1 Vai trò của nguồn nhân lực 51

3.1.1 Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 51

3.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số và yêu cầu đổi mới việc phát huy nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số hiện nay ở nước ta 53

3.2 Công tác tuyển sinh, dạy nghề và hướng nghiệp 55

3.2.1 Công tác tuyển sinh 55

Trang 7

3.2.2 Công tác dạy nghề và hướng nghiệp 59

3.2.3 Công tác phân luồng đào tạo 60

3.3 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị trường học 61

3.3.1 Tiếp tục ưu tiên nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị trường học theo hướng trường trung học đạt chuẩn Quốc gia 61

3.3.2 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục 63

3.4 Thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá 66

3.4.1 Đổi mới chương trình, phương pháp dạy học 66

3.4.2 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá 69

3.5 Tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù 72

3.6 Tiểu kết 77

Chương 4 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 79

4.1 Chất lượng đào tạo của các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên 79

4.1.1 Chất lượng giáo dục của trường PTDTNT cấp THPT 80

4.1.2 Chất lượng giáo dục của trường PTDTNT cấp THCS 82

4.1.3 Thực hiện các chính sách ưu tiên 84

4.2 Hạn chế còn tồn tại 86

4.2.1 Các nguồn lực chưa được đầu tư tương xứng 86

4.2.2 Yếu tố tộc người ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục 96

4.3 Tiểu kết 98

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 110

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các dân tộc có dân số trên 7000 người ở tỉnh Thái Nguyên 26 Bảng 2.1: Đội ngũ giáo viên các trường PTDTNT ở tỉnh Thái Nguyên (năm học

2012 - 2013) 39 Bảng 2.2: Hiện trạng đội ngũ học sinh các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 - 2014) 43 Bảng 2.3: Học sinh các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 -

2014) 47 Bảng 4.1: Kết quả học tập của học sinh trường PTDTNT cả nước (năm học 2011 -

2012 và năm học 2012 - 2013) 79 Bảng 4.2: Tỷ lệ học sinh bỏ học, lưu ban của trường PTDTNT Thái Nguyên (năm học 2011 - 2012 và năm học 2012 - 2013) 80 Bảng 4.3: Kết quả học tập (2011 - 2012) và (2012 - 2013) của trường PTDTNT Thái Nguyên 80 Bảng 4.4: Bảng so sánh trường PTDTNT Thái Nguyên với một số trường

PTDTNT cấp tỉnh trong khu vực Đông Bắc 81 Bảng 4.5: Chất lượng giáo dục toàn trường THPT Bình Yên (năm học 2012 - 2013) 82 Bảng 4.6: Chất lượng giáo dục khối nội trú của trường THPT Bình Yên 83 (năm học 2012 - 2013) 83 Bảng 4.7: Chất lượng giáo dục hai mặt của trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai (năm học 2012 - 2013) 84 Bảng 4.8: Văn phòng phẩm cấp cho học sinh từng bậc học 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc cách mạng công nghiệp Anh cuối thế kỉ 18 đã mở ra cho nhân loại một thời đại mới: thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cho tới bây giờ, con đường tất yếu để phát triển của mọi quốc gia trên thế giới vẫn là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện được mục tiêu đó, mỗi quốc gia cần phải huy động những nguồn lực cần thiết, bao gồm: nhân lực (con người), tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Trong đó, NNL giữ vị trí quan trọng hàng đầu, quyết định các nguồn lực khác

Việt Nam đang trên bước đường tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và

đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng con đường phía trước của nước ta vẫn còn muôn vàn khó khăn và thách thức Hiện nay, để tránh tụt hậu khi thế giới

đã bước những bước dài trong phát triển công nghệ cao thì yêu cầu trong việc phát triển NNL và đặc biệt là NNL trình độ cao đối với nước ta trở nên ngày càng bức thiết NNL không những phải có trình độ chuyên môn mà phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về phẩm chất đạo đức, ý thức kỉ luật, lòng yêu nước, thể lực Đào tạo NNL sao cho đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của Việt Nam hiện nay

Trên thực tế, trong những năm qua mặc dù NNL của Việt Nam đã tăng cả về

số lượng, chất lượng và có cả sự thay đổi về cơ cấu Tuy nhiên, với những yêu cầu

mà quá trình phát triển kinh tế và hội nhập đang đặt ra thì NNL Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Ví dụ như: chất lượng NNL chưa cao so với đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội; cơ cấu NNL còn thiếu cân đối giữa các vùng, miền; cơ chế, chính sách sử dụng, sắp xếp, phân bố NNL còn chưa phù hợp và thoả đáng; việc đầu tư cho NNL còn thấp, chưa xứng đáng với vai trò và vị thế của NNL trong sự phát triển chung của nước nhà Chính vì thế, yêu cầu đào tạo và phát triển NNL cũng được đặt ra là hết sức quan trọng và cấp bách

Việt Nam là một quốc gia đa thành phần dân tộc, trong đó có 53 trên tổng số

54 dân tộc là DTTS Các thành phần dân tộc sống đoàn kết, tương trợ, thân ái với

Trang 11

nhau, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết và một nền văn hoá đa dạng, phong phú cho Việt Nam Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là những nguyên nhân lịch

sử để lại và do điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt ở nhiều địa phương mà trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc là không đồng đều Phần lớn các DTTS có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, một số DTTS vẫn còn trong tình trạng tự cung

tự cấp, du canh du cư Đời sống của đồng bào các DTTS ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Thực trạng ấy đòi hỏi các cấp chính quyền phải có những quan tâm thiết thực đến phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống của người DTTS Bởi, chăm lo đầy đủ đến con người chính là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia, đầu tư cho con người chính là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho

sự phát triển bền vững

Trong Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về Công tác mặt trận (tháng

8 -1962), Bác Hồ từng ra lời kêu gọi: “Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp” Những năm vừa qua, nhất là những năm trong thời kỳ Đổi mới, việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội Song song với sự phát triển kinh

tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt Trong giáo dục,

hệ thống trường PTDTNT được hình thành và phát triển từ Trung ương đến các huyện vùng dân tộc và miền núi là nguồn đào tạo cán bộ DTTS rất quan trọng Việc tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống trường PTDTNT trú tỉnh, huyện đã trở

thành một trong những nội dung quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng và

Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

Chính vì những ý nghĩa quan trọng và to lớn của mô hình trường PTDTNT đối với việc nâng cao dân trí, tạo nguồn cán bộ người DTTS nói riêng và sự nghiệp

giáo dục, đào tạo NNL của cả nước nói chung, tôi đã chọn đề tài:“Vai trò của

trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam”làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc

sĩ của mình

Trang 12

2 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Hệ thống các trường PTDTNT của tỉnh Thái Nguyên hiện nay được chia làm hai bậc học chính: bậc THPT với 01 trường và bậc THCS với mạng lưới các trường trải rộng gần khắp các huyện trong tỉnh Ngoài ra, nói về các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thì cũng không thể không nhắc đến trường Phổ Thông Vùng Cao Việt Bắc do Trung ương quản lí, là cánh chim đầu đàn trong

hệ thống trường chuyên biệt này Nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ chọn trường PTDTNT cấp THPT do tỉnh Thái Nguyên quản lí là trường PTDTNT Thái Nguyên và 02 trường PTDTNT cấp THCS là trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai và trường THPT Bình Yên huyện Định Hóa làm đối tượng nghiên cứu

3 Câu hỏi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tác giả không đi sâu tìm hiểu ưu khuyết điểm, thực trạng NNL của nước ta, mà chỉ trả lời câu hỏi: Vai trò của NNL đối với sự phát triển và tiến bộ của đất nước là gì? Đi sâu hơn là, vai trò của NLL các DTTS đối với

sự phát triển của đất nước được thể hiện như thế nào? Từ đó làm nổi bật nội dung chính của luận văn

Hệ thống giáo dục của nước ta có nhiều các cấp học, mô hình trường học khác nhau, bao gồm: trường tiểu học, trường THCS, trường THPT, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường bổ túc văn hóa, trường đại học công lập, đại học dân lập, các trường cao đẳng và trung cấp dạy nghề… Mỗi cấp học, mỗi mô hình trường đều

có một vai trò nhất định trong sự nghiệp giáo dục chung của cả nước Vậy vai trò của trường PTDTNT là gì? Vai trò ấy có gì đặc trưng, riêng biệt hay không?

Một nội dung không thể thiếu mà luận văn cần làm rõ, đó là hiện trạng phát triển của các trường PTDTNT ở tỉnh Thái Nguyên Thực trạng các nguồn lực của trường ra sao, có những ưu điểm và hạn chế nào? Thêm nữa, công tác dạy nghề, định hướng nghề nghiệp cho HS, những hoạt động ngoài giờ lên lớp, công tác nuôi dạy nội trú được tổ chức ra sao trong các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên?

Trang 13

Vấn đề trung tâm của luận văn chính là phân tích, làm rõ vai trò của hệ thống trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL vùng Đông Bắc Việt Nam Công tác tuyển sinh và phân luồng đào tạo cụ thể ra sao, đổi mới chương trình đào tạo và nâng cao CSVC, thiết bị trường học thế nào để phát triển chất lượng giáo dục của trường? Song song với việc dạy kiến thức phổ thông, các trường đã đặt nền tảng, trang bị các phẩm chất cần có của một người lao động như thể chất, đạo đức, văn hóa lối sống và tri thức như thế nào? HS các trường PTDTNT đều là người DTTS, vì vậy trong quá trình dạy và học, nhà trường làm thế nào để vừa dạy kiến thức vừa trang bị cho các em văn hóa dân tộc và tri thức địa phương? Đây cũng là một trong những đặc thù riêng của mô hình trường PTDTNT và sẽ được làm rõ trong luận văn

Hiện nay, yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng DTTS hướng tới sự tiến bộ đồng đều trên cả nước cũng ngày càng được đề cao Trong bối cảnh đó, hệ thống các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên chắc chắn sẽ còn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp đào tạo NNL của tỉnh nói riêng và của vùng Đông Bắc Việt Nam nói chung

4 Nguồn tƣ liệu

Tài liệu chủ yếu của luận văn được thu thập qua quá trình điền tra thực nghiệm Tác giả thông qua quá trình nghiên cứu định tính và định lượng về trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên để thu thập những tư liệu nguyên cấp quan trọng phục

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về vai trò của các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL vùng Đông Bắc Việt

Trang 14

Nam Với công trình này, tác giả góp phần làm phong phú thêm hệ thống các nghiên cứu về mô hình trường PTDTNT nói chung và hệ thống trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng Đây sẽ là nguồn tư liệu có giá trị cho các tác giả khác quan tâm đến mô hình giáo dục chuyên biệt này

Trên cơ sở nguồn tư liệu điều tra thực nghiệm, luận văn chỉ ra những đặc trưng giáo dục, vai trò của hệ thống trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL vùng Đông Bắc nước ta Với cái nhìn trên một địa bàn cụ thể

là tỉnh Thái Nguyên, chúng ta có thể có những đánh giá mang tính sơ bộ trong phạm

vi toàn quốc về vai trò của mô hình trường PTDTNT trong định hướng phát triển NNL cho các vùng DTTS

Luận văn với những số liệu mới được xử lí và phân tích đã đóng góp thêm cơ

sở khoa học giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách dân tộc trong lĩnh vực giáo dục, để từ đó có thể đưa ra những chính sách mới nhằm hạn chế những khó khăn, phát huy những thành quả đạt được để các trường PTDTNT nói chung ngày càng làm tốt vai trò của mình

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Năm 1957, trường Thiếu nhi rẻo cao Khu tự trị Việt Bắc được thành lập đã đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển của hệ thống trường PTDTNT ở nước ta Trải qua hơn nửa thế kỉ phát triển, mô hình giáo dục chuyên biệt này dần trở nên phổ biến rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước Và ngôi trường PTDTNT không chỉ nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, những nhà hoạch định chính sách dân tộc mà còn được các học giả, các nhà nghiên cứu rất chú ý

Những năm gần đây đã có nhiều công trình có giá trị nghiên cứu về mô hình

trường PTDTNT, cụ thể:

Năm 2001, Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn sách Nâng cao chất lượng đào

tạo tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, các tác giả: Trần Xuân Nhĩ, Phạm Chí

Đạo, Phạm Đình Thái Tác phẩm bao gồm các báo cáo nêu lên những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và đào tạo ở các trường PTDTNT

Tựa sách Hướng dẫn tổ chức hoạt động văn hoá xã hội trong trường phổ

thông dân tộc nội trú do Lê Nguyên Quang chủ biên đã được Nxb Giáo dục phát

hành năm 2012 Công trình là tập hợp các chuyên đề hướng dẫn các kịch bản cũng như quy trình tổ chức, triển khai các hoạt động văn hoá xã hội từ năm nội dung

chính của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Cuốn “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía

Bắc nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản được Nxb Chính trị Quốc gia phát hành

vào năm 2010 Trong đó, tác giả trình bày có hệ thống quan niệm về “Phát triển nguồn cán bộ”, công tác “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số” ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Đồng thời cũng phân tích thực trạng và đề ra những giải pháp phát triển nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Trang 16

Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên) với cuốn “Một số vấn đề về chính sách giáo

dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” được Nxb Khoa học xã hội phát

hành năm 2012 Tác phẩm đưa ra cái nhìn đầy đủ về chính sách xây dựng CSVC trong giáo dục, chương trình giảng dạy và sách giáo khoa, chính sách giáo dục

về phát triển NNL Tác giả đồng thời đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm phần nào khắc phục những hạn chế của chính sách giáo dục cho vùng cao miền núi phía Bắc

Công trình “Hướng dẫn bảo tồn văn hóa trong trường phổ thông dân tộc nội

trú” của nhóm tác giả Đào Nam Sơn (chủ biên), Vi Văn Điểu, Ngô Thị Thanh Thuỷ do

Nxb Giáo dục phát hành năm 2012 cũng đóng góp vào việc làm phong phú thêm các nghiên cứu về trường PTDTNT Nội dung giáo dục văn hoá truyền thống trong các trường DTNT đã được trình bày rõ nét trong cuốn sách này Ngoài ra, nó còn đề cập đến vai trò của văn hoá truyền thống các dân tộc trong hoạt động giáo dục, các hoạt động và phương pháp giáo dục nhằm bảo tồn, bảo tàng và phát triển văn hoá truyền thống

Bên cạnh các công trình trên, cũng có khá nhiều luận án tiến sĩ của các ngành khoa học khác nhau và các bài chuyên khảo đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến những nội dung xoay quanh vấn đề trường PTDTNT

Ngày 13 - 12 - 2010, tại đại học Sư phạm Hà Nội, Trương Xuân Cừ đã bảo

vệ thành công luận án tiến sĩ Giáo dục học với đề tài: “Phát triển hệ thống trường

phổ thông dân tộc nội trú khu vực Tây Bắc tạo nguồn đào tạo nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa” Luận án đi sâu đánh giá thực trạng hệ thống trường

PTDTNT khu vực Tây Bắc, về cả cơ cấu, quy mô, chất lượng và mức độ đáp ứng tạo nguồn đào tạo nhân lực Tác giả còn đề xuất giải pháp phát triển hệ thống một cách bền vững, hiệu quả để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, ngày 17 - 09 - 2012 đã diễn ra lễ bảo

vệ đề tài luận văn tiến sĩ Tâm lý học: “Phẩm chất nhân cách của giáo viên trường

phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” của Đinh Đức Hợi

Tác giả đã trình bày rõ cơ sở lý luận về phẩm chất nhân cách của GV các trường PTDTNT Luận án cũng mô tả một số chân dung phẩm chất nhân cách của GV

Trang 17

trường PTDTNT và đề xuất một số vấn đề về phương hướng và biện pháp trong khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng GV trường PTDTNT

Nói về các chuyên khảo trên tạp chí phải kể đến bài viết “Phân luồng hướng

nghiệp dạy nghề ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh theo hướng đổi mới phương thức đào tạo” của Lê Nguyên Quang đăng trên số Tạp chí Giáo dục, số

119 Bên cạnh đó còn có bài viết: “Giáo dục văn hóa dân tộc và tri thức địa

phương ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh” của Hoàng Văn Sơn, Kiều Thị

Bích Thủy đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 130

Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề này, tiêu

biểu như: “Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh miền núi dân tộc thiểu

số”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 6, năm 2003; hay: “Kết quả thực hiện chính sách giáo dục đối với giáo viên miền núi, dân tộc thiểu số”, đăng trong

Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Dân tộc học, Hà Nội, 2004

Ngoài những công trình kể trên, cũng có nhiều nghiên cứu khác về vấn đề trường PTDTNT mà trong quy mô, phạm vi của luận văn không đủ để đề cập hết Tuy nhiên, về nội dung đề tài mà luận văn đang hướng tới thì chưa có tác giả nào đề cập Chính vì thế, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả trước đó, luận văn sẽ tập trung phân tích và làm rõ vai trò của hệ thống trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL vùng Đông Bắc nước ta

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

Trường phổ thông dân tộc nội trú: Trong Luật Giáo dục năm 2005, tại điều

61 có quy định về trường PTDTNT như sau: “Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú, được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách Trường lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi, dạy học sinh, đồng thời, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định

của Nhà nước”

Trang 18

Trường PTDTNT bao gồm cấp THCS và cấp THPT, còn trường liên cấp là trường nội trú đặc biệt Trường PTDTNT dành cho con em các DTTS (chỉ cho phép tối đa 5% số HS là người dân tộc Kinh) sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK về kinh tế - xã hội Nhà nước thành lập trường PTDTNT cho con em các DTTS, con

em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK, nhằm bồi dưỡng NNL, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Bằng những chương trình cụ thể, nhà nước đã đầu tư xây dựng CSVC và tăng cường thiết bị trường học cho hệ thống trường PTDTNT để trở thành trường có CSVC tốt nhất ở các địa phương

Nguồn nhân lực: Khái niệm nguồn nhân lực (Human Resource) (còn được

gọi là nguồn lực con người, nguồn lực cho lao động) chỉ thực sự xuất hiện khoảng vài chục năm gần đây Khái niệm này có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học

và được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận và lí giải về NNL Theo định nghĩa tổng quan của Liên hiệp quốc thì

“nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” Trong đó, NNL có thể hiểu ở nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội và nguồn lực con người cho sự phát triển Ở góc độ hẹp hơn, NNL được xem như là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh

tế - xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động và sản xuất xã hội Nói cách khác, NNL là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao hàm yếu tố thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một

cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định

Nguồn nhân lực chất lượng cao: Từ cách hiểu về NNL, có nhiều cách hiểu

khác nhau về NNL chất lượng cao Theo cách hiểu mang tính định tính, NNL chất lượng cao được xem là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc Tiếp cận theo khía cạnh định lượng cũng có những cách hiểu khác nhau

Trang 19

về NNL chất lượng cao Thứ nhất, NNL chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Cách hiểu định lượng hẹp hơn, coi NNL chất lượng cao là NNL có trình độ đại học, cao đẳng; NNL lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách; NNL khoa học công nghệ, đội ngũ

giảng viên các trường đại học, cao đẳng Như vậy, ở đây ta có thể hiểu NNL chất

lượng cao là một bộ phận của NNL nói chung, bao gồm những người có trình độ học vấn từ đại học, cao đẳng trở lên, đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp cho sự phát triển cộng đồng nói riêng và cho

toàn xã hội nói chung

Đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo NNL là một loại hoạt động có tổ chức,

được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người Nó là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp Theo quan niệm này, khi nói đến đào tạo NNL là nói đến việc trang bị cho người lao động kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý

Kết quả của quá trình đào tạo NNL sẽ nâng cao chất lượng, phát triển NNL đó

Phát triển nguồn nhân lực: Trong thời đại ngày nay, con người được coi là

một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển NNL Nhưng cơ bản

có thể hiểu, phát triển NNL của một quốc gia chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng NNL trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu NNL Nói một cách khái quát nhất, phát triển NNL chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến

bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu Dân tộc học - Nhân học Nếu không có lý thuyết, tư liệu mà nhà nhân học thu lượm được trên thực địa

Trang 20

sẽ chỉ là một mớ thông tin mô tả và phân tích đơn thuần Lý thuyết không chỉ giúp nhà nhân học định hình các câu hỏi nghiên cứu và thu thập thông tin trên thực địa, phân tích và trình bày tài liệu, mà quan trọng hơn, thông qua việc ứng dụng lý thuyết, nhà nhân học tham gia thảo luận những vấn đề lớn, cơ bản của Nhân học - ngành học về con người và văn hóa - xã hội loài người

Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu về vai trò của trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL, tác giả sẽ sử dụng những lý thuyết nghiên cứu sau: Lý thuyết phát triển bền vững; Nguyên lý phát triển và biến đổi xã hội; Lý luận về nghiên cứu con người và NNL

Lý thuyết Phát triển bển vững

Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển công bố báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, trong đó đã chính thức sử dụng thuật ngữ “phát triển bền vững”, đưa ra cách nhìn mới về việc hoạch định các chiến lược phát triển lâu bền Trong Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững họp tại Rio de Janeiro tháng 6 - 1992 với sự tham gia của 179 quốc gia đã thông qua chiến lược phát triển bền vững và khẳng định: “Phát triển bền vững là phát triển kinh tế

- xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của họ” Qua các bản tuyên bố tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững họp tại Johannesburg, Cộng hoà Nam Phi năm 2002, nội hàm phát triển bền vững ngày càng được mở rộng thêm: sự phát triển bao gồm toàn diện các vấn đề sinh thái, các vấn đề

xã hội, các vấn đề con người, các vấn đề văn hoá, chất lượng sống

Lý thuyết phát triển bền vững được Việt Nam tiếp nhận từ những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Đảng và Chính phủ Việt Nam hưởng ứng một cách mạnh mẽ những tư tưởng, các chương trình phát triển bền

vững của Liên hợp quốc và xây dựng Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam Phát

triển bền vững đã trở thành một trong những tư tưởng chủ đạo trong chính sách phát triển của Việt Nam

Trang 21

Tháng 8 - 2004, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 153/2004/QĐ - TTg

ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm phát triển

bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh

tế, phát triển xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người, bảo vệ môi trường Trong văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng cũng viết: “Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững… Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững” [16, tr.178-179]

Nguyên lý phát triển và biến đổi xã hội

Nguyên lý phát triển trong quan điểm Mác-xít chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển Còn biến đổi xã hội (Social change), theo Viện Từ điển học và Bách khoa Việt Nam thì đó là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian

Cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hoá đều không ngừng biến đổi Sự ổn định cùa xã hội chỉ là sự ổn định tương đối, còn trên thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng sẽ luôn biến đổi Sự biến đổi trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn và sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ mà trở thành chuyện bình thường Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng vận động và thay đổi Tất cả các xã hội đều ở trong một thực trạng “đứng yên trong sự vận động liên tục”

Trang 22

Auguste Comte1 khi đưa ra thuật ngữ “xã hội học” đã tin tưởng rằng khi các nhà xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể giúp chương trình cho một tương lai tốt hơn Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã hội là một hiện tượng chắc chắn xảy ra Biến đổi sẽ theo một con đường phát triển và những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn Ông còn tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến

về con đường tách khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến bộ của nhân loại

Thuyết biến đổi xã hội ra đời coi xã hội là một sự vận động tương tác không ngừng Chính sự vận động và tương tác này đã tạo nên sự đa dạng và phong phú của

xã hội Như vậy, theo lý thuyết này có thể lý giải rằng sự thành lập mô hình trường PTDTNT là một quá trình tất yếu, đáp ứng nhu cầu học tập của con em người DTTS, nâng cao trình độ dân trí, đồng thời đào tạo nguồn cán bộ DTTS có trình độ cho đất nước, mà trước hết là cho chính các vùng dân tộc ít người, đảm bảo sự phát triển đồng bộ và bền vững của đất nước

Lý thuyết về nghiên cứu con người và nguồn nhân lực

Trước đây, con người chủ yếu được xem xét như là sản phẩm của hoàn cảnh Người ta cho rằng quan hệ người với người trong sản xuất do lực lượng sản xuất quyết định, ý thức con người do tồn tại xã hội quyết định, nhân cách và cá tính con người do hoạt động quyết định Thậm chí, sự thành đạt của mỗi người còn được lý giải theo kiểu Ăng-ghen đã lý giải về sự xuất hiện của các nhân vật lịch sử: “Nếu như không có Napoleon Bonaparte thì người khác sẽ đóng vai trò của ông ta Điều

đó được chứng minh bởi một sự thật là bất cứ khi nào cần thì đều có một người như vậy: Cesar, Augustuts, Cromwell,…” [3; tr.73]

Nhưng vào cuối những năm 80 của thế kỉ 20, giới lý luận Xô Viết đã thẳng thắn thừa nhận tình trạng “bỏ quên con người”, lên án gay gắt cơ chế hành chính -

1 Auguste Comte (tên đầy đủ: Isidore Auguste Marie François Xavier Comte; 17 tháng

1 năm 1798 - 5 tháng 9 năm 1857) là một nhà tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã hội, người tạo ra ngành Xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra thuật ngữ “Xã hội học” (“Sociology”).

Trang 23

bao cấp và chú trọng đặc biệt đến nghiên cứu “nhân tố con người” cả về mặt lý thuyết và thực tiễn Năm 1990, Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP)

công bố Báo cáo phát triển con người đầu tiên, tạo ra sự quan tâm đặc biệt đến con

người tại tất cả các nước thuộc Liên hiệp quốc UNDP khuyến cáo các chính phủ đừng quá chú trọng vào tăng trưởng kinh tế, đừng bằng mọi giá để vươn tới giàu có

mà bỏ quên con người Chân lý của phát triển giản đơn hơn nhiều: “Tài sản của mỗi quốc gia là con người của quốc gia đó”, “phát triển con người là mục đích của sự phát triển”

Không bao lâu sau, Việt Nam tiếp thu được những điều hợp lý từ khoa học bên ngoài, đặc biệt là quan điểm về nhân tố con người và về vị trí của con người trong sự phát triển Rồi từ đó, luận điểm “con người là động lực, là mục tiêu của sự phát triển” đã được ghi trong các văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước Năm

1995, Việt Nam bắt đầu có mặt trong báo cáo của UNDP về phát triển con người

Năm 2001, Việt Nam đã công bố Báo cáo quốc gia về phát triển con người

Tới đây, xu hướng nghiên cứu định lượng về phát triển con người được chú ý ngay cả ở phạm vi các địa phương (tỉnh, thành phố) Quan điểm coi con người chiếm vị trí trung tâm dần trở nên phổ biến Với quan điểm này, con người đóng vai trò quyết định ở cả “đầu vào”, ở cả “đầu ra” và trong toàn bộ quá trình phát triển của đất nước Con người chính là nguyên nhân cuối cùng của mọi thất bại, là cơ sở

sâu xa của mọi thành công

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình chuẩn bị và tiến hành một dự án nghiên cứu khoa học Theo H Russel Bernard2 thì: “Phương pháp nói một cách khách quan là sự nghiên cứu làm cách nào chúng ta biết được sự vật hiện tượng và vấn đề mà chúng ta muốn tìm hiểu” Phương pháp là một công cụ để thu thập tổng hợp và phân tích các thông tin từ thực

2

Giáo sư danh dự ngành Nhân học tại đại học Florida, Mỹ

Trang 24

tế trên cơ sở mục tiêu của một đề tài nghiên cứu nhất định Phương pháp chính là lý thuyết được biến thành phương tiện, con đường cho nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp quan sát (quan sát không tham gia và quan sát tham gia): Sử

dựng các phương tiện kỹ thuật như máy ảnh, máy ghi âm, camera … nhằm thu thập các tư liệu cần thiết để phân tích các vấn đề về thực trạng, hoàn cảnh, các khía cạnh liên quan đến trường PTTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Nội dung quan sát cụ thể: điều kiện CSVC, trang thiết bị trường học; điều kiện sinh hoạt, ăn ở, vui chơi trong kí túc xá của HS; điều kiện làm việc của các thầy cô giáo và cán bộ quản lý trong nhà trường

Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Với mục đích thu thập thông tin phục

vụ luận văn, tác giả sử dụng các câu hỏi mở, không có đáp án sẵn để phỏng vấn các

cá nhân tiêu biểu của các nhóm đối tượng như: các học sinh DTTS, GV, cán bộ quản lý của nhà trường Trong quá trình thu thập thông tin, các câu hỏi phỏng vấn

có thể được chuẩn bị trước theo thứ tự, có thể chủ động thay đổi thứ tự chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn Qua đó có được những nhận xét, đánh giá của chính HS, GV về thực trạng giáo dục trong trường, những tâm tư nguyện vọng, đề đạt của họ trong công tác dạy và học

Phương pháp thu thập và nghiên cứu tư liệu thứ cấp: Các nguồn tài liệu thứ

cấp phục vụ luận văn cũng sẽ được thu thập và phân tích nhằm góp phần soi sáng các tài liệu nguyên cấp đã thu được từ điều tra trực tiếp Tài liệu thành văn được tìm kiếm tại các thư viện, viện nghiên cứu, trường học và các trung tâm lưu trữ như: Sở GD&ĐT tỉnh Thái nguyên, phòng lưu trữ của các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh, Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên…

Luận văn sử dụng đầy đủ cả 3 kỹ năng nghiên cứu: kỹ năng nghiên cứu mô

tả, nghiên cứu có tính giải thích và nghiên cứu có tính so sánh Trong điều kiện thiếu hụt thông tin mang tính khoa học về các trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu mô tả của luận văn là một phương pháp rất có ích Nó mang lại thông tin mới cần thiết cho các nhà nghiên cứu khác, cũng như cho các nhà làm chính sách

Trang 25

hoặc hoạt động thực tiễn có liên quan Dựa trên cơ sở các tài liệu thu thập được, luận văn nêu lên thực trạng về trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên, đồng thời đã có những lý giải, tìm hiểu về các nhân tố chủ quan và khách quan đối với hiện trạng

đó Lối nghiên cứu so sánh cũng được sử dụng để tiếp cận các vấn đề như: liệu văn hoá khác nhau có tác động khác nhau đối với việc học tập của HS hay không Khái quát ở tầm cao hơn là so sánh trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên với các địa phương khác để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt

Phương pháp nghiên cứu đa ngành: Dưới góc độ chính trị học, triết học để

làm rõ bản chất của NNL, bất cứ một quốc gia nào muốn xây dựng đất nước giàu mạnh thì phải biết chăm lo xây dựng NNL của đất nước mình Sự ổn định của một chế độ chính là sự ổn định, phong phú, dồi dào về đội ngũ NNL Tiếp cận ở góc độ tâm lý học là chỉ ra các đặc trưng tâm lý, đặc trưng nhân cách riêng của NNL các DTTS, chỉ ra phương pháp, cách thức đào tạo có hiệu quả NNL đặc thù này để phục

vụ cho sự phát triển của đất nước Còn tiếp cận ở góc độ khoa học giáo dục chính là nêu lên những tồn tại trong công tác dạy - học ở các trường PTDTNT, qua đó làm

cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục nhằm đào tạo NNL, nhất là NNL chất lượng cao có hiệu quả trong điều kiện hiện tại Rõ ràng, luận văn đã có sự tiếp cận vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, chứ không chỉ dừng lại ở việc xem xét riêng ở một khoa học cụ thể nào đó Nhờ đó có thể khai thác vấn đề trên nhiều bình diện và

từ các khoa học khác nhau để đạt được những nhận định tổng hợp, mang tính tích hợp liên ngành

1.4 Lịch sử hình thành và vai trò của trường phổ thông dân tộc nội trú

1.4.1 Lịch sử hình thành

Để nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, sự nghiệp giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là “quốc sách hàng đầu” Chăm lo sự nghiệp giáo dục, các nhà lãnh đạo rất coi trọng và đặt cao vai trò của cán bộ địa phương, cán bộ người DTTS trong công cuộc xây dựng đất nước nói chung và xây dựng vùng cao, vùng sâu, vùng dân tộc ít người nói riêng Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở những vùng cao, vùng sâu, vùng khó khăn, đội ngũ cán bộ người DTTS còn thiếu

Trang 26

nghiêm trọng, nhất là đội ngũ có trình độ cao Để giải quyết vấn đề đó, hệ thống trường PTDTNT đã ra đời Loại hình trường PTDTNT được hình thành từ những cơ

sở ban đầu như: trường Sư phạm Miền núi Trung ương, trường Bổ túc văn hóa, trường Phổ thông Thiếu niên dân tộc, trường Thiếu nhi rẻo cao Việt Bắc, trường Thanh niên lao động Xã hội Chủ nghĩa Hòa Bình, trường Học sinh miền Nam…

Ngày 29 - 6 - 1985, Bộ GD&ĐT có Quyết định số 661/GDĐT, ban hành Quy

định về tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, từ đó có tên gọi

thống nhất trong cả nước là “Trường phổ thông dân tộc nội trú” Ngày 14 - 8 -

1997, Bộ GD&ĐT đã thay thế Quyết định số 661 bằng Quyết định số 2590/GDĐT

Về tổ chức và hoạt động của các trường phổ thông dân tộc nội trú Từ đây, trường

PTDTNT có mạng lưới từ Trung ương đến địa phương, trở thành một hệ thống trường phổ thông chuyên biệt, đặc thù của vùng miền núi, vùng DTTS Đến năm

1998, tổ chức và hoạt động của hệ thống trường PTDTNT đã được luật hóa, với các quy định tại điều 56 của Luật Giáo dục (và điều 61 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, năm 2005)

Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú

do Bộ GD&ĐT ban hành, hệ thống trường PTDTNT gồm 2 cấp: trường cấp huyện đào tạo cấp THCS được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc và trường cấp tỉnh đào tạo cấp THPT được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong trường hợp cần thiết, để tạo nguồn cán bộ là con em các DTTS

ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK (62 huyện nghèo thuộc Nghị quyết số

30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với

các huyện nghèo do Chính phủ ban hành), UBND cấp tỉnh có thể giao cho trường

PTDTNT cấp huyện đào tạo cả cấp THPT, Bộ GD&ĐT có thể giao cho trường PTDTNT trực thuộc Bộ đào tạo dự bị đại học và cấp THCS

Đến năm học 2007 - 2008, các trường PTDTNT đã có ở 47 tỉnh và 2 thành phố (Hà Nội, Hồ Chí Minh), với 280 trường, 85.880 HS [47, tr.2], trong đó:

Trang 27

Do Trung ương quản lý: Gồm 7 trường, trong đó 03 trường do Bộ GD&ĐT quản lý (Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc - Thái Nguyên, Trường Hữu nghị 80

và Trường Bổ túc Văn hóa Hữu nghị - Sơn Tây, Hà Nội); 04 trường Thiếu sinh quân do Bộ Quốc phòng quản lý (theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) Trong các trường của Trung ương, có trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc được giao thêm các nhiệm vụ: đào tạo hệ Dự bị đại học (tuyển đối tượng là HS trường PTDTNT không đạt điểm chuẩn tuyển thẳng vào các trường cao đẳng, đại học); thực hiện chương trình đào tạo riêng cho HS của một số DTTS đặc biệt ít người (Lự, Ngái, Mảng, Si La, La Hủ ) Trường Hữu nghị 80 còn được giao nhiệm vụ quốc tế, đào tạo cán bộ giúp hai nước bạn Lào, Campuchia Bộ công an còn có 03 trường Thiếu sinh quân đào tạo HS các DTTS (giống như các trường PTDTNT)

Do địa phương quản lý: Đến năm học 2007 - 2008 có 273 trường, với 82.494 HS; trong đó: cấp tỉnh có 47 trường THPT với 17.494 học sinh THPT; cấp huyện có

226 trường THCS, với 65.000 HS Hiện nay, các trường PTDTNT thuộc địa phương quản lý gồm hệ THPT ở cấp tỉnh, trực thuộc Sở GD&ĐT (mỗi tỉnh có 01 trường, quy mô từ 200 đến 650 HS) và hệ THCS ở cấp huyện, trực thuộc phòng GD&ĐT (đa số mỗi huyện có 01 trường, một số huyện có 02 trường)

HS trường PTDTNT được hưởng chế độ giáo dục toàn diện, học văn hóa, dạy nghề, rèn luyện đạo đức, tác phong trong môi trường nội trú Ngoài việc được đầu tư CSVC, thiết bị như các trường THCS, THPT theo quy định đối với trường chuẩn Quốc gia, trường PTDTNT còn được đầu tư khu nhà ở nội trú, nhà ăn cho HS, nhà công vụ cho GV, nhà sinh hoạt, giáo dục văn hoá dân tộc với các thiết bị kèm theo và phòng học, thiết bị giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông Các em sẽ là nguồn cán bộ tương lai cho địa phương mình, là những GV, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn kỹ thuật có trình độ làm giàu đẹp quê hương

Được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt là của UBND các tỉnh, các Sở GD&ĐT, các tỉnh đang hoàn thiện hệ thống trường PTDTNT, đảm bảo nhu cầu dạy và học cho con em đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng ĐBKK Cho đến nay tất cả các DTTS đều có con em theo học tại trường PTDTNT Một số dân

Trang 28

tộc đặc biệt ít người (Lự, Ngái, Mảng, La Hủ, Si La ) đã được tổ chức đào tạo riêng tại trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc từ năm học 2005 - 2006 Với mạng lưới trải rộng từ Trung ương đến địa phương, mô hình trường PTDTNT đã trở thành một

hệ thống trường phổ thông chuyên biệt, đặc thù của vùng miền núi, vùng dân tộc

1.4.2 Vai trò của trường phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục Việt Nam

Mục tiêu, vai trò và tính chất của trường PTDTNT được đề cập đến trong điều 3,

Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, ban hành ngày

25 - 8 - 2008 của bộ trưởng Bộ GD&ĐT Theo đó, Nhà nước thành lập trường PTDTNT cho con em các DTTS, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường PTDTNT là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng DTTS

Về nhiệm vụ, trường PTDTNT thực hiện các nhiệm vụ chung của các trường

trung học được quy định tại điều 3, Điều lệ trường trung học (Ban hành kèm theo

Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 - 3 - 2011 của bộ trưởng Bộ GD&ĐT) Ngoài ra, trường PTDTNT còn thực hiện các nhiệm vụ riêng biệt quy định trong

điều 4, Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, ban

hành ngày 25 - 8 - 2008 của bộ trưởng Bộ GD&ĐT Cụ thể như sau: tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao hằng năm; giáo dục HS về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hoá của các DTTS

và đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; giáo dục lao động và hướng nghiệp, giúp HS định hướng nghề phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, giáo dục HS ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp; tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho HS trường PTDTNT; có kế hoạch theo dõi số HS đã tốt nghiệp nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục

Trang 29

Đặc biệt, trường PTDTNT bên cạnh việc tổ chức dạy học như tất cả các trường phổ thông trong cả nước thì còn tổ chức các hoạt động ngoài trường, ngoài lớp như lao động sản xuất, văn nghệ, thể dục thể thao, các sinh hoạt theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch Không những thế còn tổ chức các ngày lễ hội, Tết dân tộc góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho HS Các hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc đã giúp nâng cao lòng tự hào dân tộc cũng như ý thức bảo tồn và phát triển văn hoá các DTTS, khích lệ HS tinh thần học tập, tự hào về dân tộc mình, đồng thời tăng cường hiểu biết, tôn trọng và đoàn kết với các dân tộc anh em

Các trường PTDTNT đã và đang từng bước phát triển, làm tốt vai trò, nhiệm

vụ của mình, khẳng định vị trí quan trọng trong sự nghiệp tạo nguồn đào tạo cán bộ

là người DTTS cho các vùng dân tộc, miền núi Đã, đang và sẽ có nhiều HS của trường PTDTNT trở thành nhà khoa học, nhà quản lý đang tham gia công tác tại các

cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và trong các doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương, đóng góp trí tuệ, sức lực xây dựng kinh tế - xã hội ở vùng DTTS

1.5 Hệ thống trường PTDTNT ở Thái Nguyên

1.5.1 Vài nét về tỉnh Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực trung du miền núi phía Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.562,82 km² Phía bắc Thái Nguyên tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông giáp với hai tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội

Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: thành phố Thái Nguyên, thị

xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số có 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du Về dân số, theo Niên giám thống

kê 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.131.300 người, trong đó tổng dân số đô thị là 293.600 người (chiếm 25,95% dân số toàn tỉnh) và tổng dân cư nông thôn

là 837.700 người (chiếm 74,05%)

Trang 30

Về thành phần dân tộc, người Kinh chiếm 73,1% dân số của tỉnh, trong đó, thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện phía nam như Phổ Yên, Phú Bình cũng như tại các khu vực ven quốc lộ, tỉnh lộ và thị trấn có tỉ lệ người Kinh chiếm cao hơn

Bảng 1.1: Các dân tộc có dân số trên 7000 người ở tỉnh Thái Nguyên

(người)

Tỉ lệ

so với tổng dân số tỉnh

Dân số đô thị (người)

Tỉ lệ

so với dân

số dân tộc

Dân số nông thôn (người)

Tỉ lệ

so với dân

số dân tộc

Kinh 821.083 73,1% 249.305 30,4% 571.778 69,6% Tày 123.197 11% 21.319 17,3% 101.878 82,7% Nùng 63.816 5,7% 7.716 12,1% 56.100 87,9% Sán Dìu 44.134 3,9% 3.941 8,9% 40.193 91,1% Sán

Chay 32.483 2,9% 1.101 3,4% 31.382 96,6% Dao 25.360 2,3% 1.186 4,7% 24.174 95,3% Hmông 7.230 0,6% 237 0,03% 6.993 99,97% Hoa 2.064 0,18% 712 34,5% 1.352 65,5%

Nguồn: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, Tổng điều tra dân

số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ

Thái Nguyên còn được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo NNL lớn thứ

ba cả nước sau thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6 trường đại học, 11 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề Mỗi năm tỉnh đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động Thái Nguyên cũng là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 01 bệnh viện đa khoa Trung ương, 09 bệnh viện cấp tỉnh và

14 trung tâm y tế cấp huyện Tỉnh đồng thời là một nơi có những địa danh du lịch lịnh

Trang 31

sử, sinh thái - danh thắng, có nhiều danh thắng tầm cỡ như: Hồ Núi Cốc, Hang Thần

Sa - Thác Mưa Bay, Hồ thuỷ lợi Văn Lăng và khu đô thị hai bờ sông Cầu

Thái Nguyên còn có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, như: than, thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Đây là một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng Khoáng sản vật liệu xây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng các loại Thái Nguyên còn có Tổ hợp gang thép được thành lập năm 1959, là nơi đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai thác quặng sắt đến sản xuất gang, phôi thép và cán thép Khu công nghiệp đầu tiên của Thái Nguyên là khu công nghiệp Sông Công và hiện nay tỉnh đã được Chính phủ chấp thuận để hình thành 6 khu công nghiệp trên

cả địa bàn toàn tỉnh

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh những năm gần đây có nhiều phát triển đáng kể, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất Các thành phần kinh tế đều có sự tăng trưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần Cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên cũng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành nông - lâm nghiệp trong GDP Tuy vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng với sự quyết tâm và nỗ lực cố gắng các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội Thái Nguyên đã thu được kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực

1.5.2 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp Trung học cơ sở

Trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai

Năm 1995, trường DTNT huyện Võ Nhai được thành lập Đến năm 1997 trường được nâng cấp thành trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên theo quyết định số 2216/QĐ-UB ngày 16 - 9 - 1997 của UBND tỉnh Theo quyết định số 1827/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Nguyên, từ ngày 11 - 9 - 2007, trường mang tên là

trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm Trường đóng tại xã Phú Thượng, huyện Võ

Trang 32

Nhai, tiếp nhận và đào tạo con em các DTTS ở các huyện trong tỉnh Thái Nguyên:

Võ Nhai, Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ

Trường THPT Bình Yên

Trường THPT Bình Yên là ngôi trường tiêu biểu cho mô hình trường nội trú

lồng ghép trường cấp 2 - 3 Kết quả của mô hình đó là do nguyện vọng của địa phương cần nâng cao dân trí theo kịp với các địa phương khác, tạo nguồn cán bộ dân tộc ít người cho địa phương Đây là hướng đi phù hợp với mục tiêu chương trình của Bộ GD&ĐT trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục ở miền núi

Trường THPT Bình Yên nguyên là phân hiệu trường THPT Định Hóa Năm học 1986 - 1987, UBND huyện Định Hóa và Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Thái đã trình với UBND tỉnh Bắc Thái xin thành lập trường THKT Định Hóa trên cơ sở phân hiệu này để phục vụ cho sự nghiệp giáo dục phía nam của huyện với 8 xã vùng ATK Quyết định được thành lập, ký ngày 07 - 11 - 1987 và công bố ngày 20 - 11 - 1987 Năm học 1990 - 1991 trường được bàn giao về cho Sở GD&ĐT Thái Nguyên quản

lý Đến năm học 2000 - 2001 đổi tên thành trường THPT Bình Yên, đóng tại xóm Yên Thông, xã Bình Yên, huyện Định Hóa Trong quá trình phát triển của mình, năm 1996 - 1997 trường được đón nhận chương trình VII phát triển giáo dục vùng sâu, vùng ĐBKK của Bộ GD&ĐT Từ đây tỉnh đã có hướng đầu tư xây dựng CSVC của trường theo mô hình trường nội trú cấp huyện Năm học 2003 - 2004 trường tuyển lớp HS nội trú đầu tiên với 29 HS vào học lớp 6, địa bàn tuyển sinh là 2 huyện Định Hóa và Phú Lương

Cuối năm 2011, UBND tỉnh Thái Nguyên quyết định phê duyệt Chương

trình phát triển giáo dục Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015 Theo đó, UBND tỉnh

sẽ có kế hoạch đầu tư xây dựng mới ba trường PTDTNT cấp THCS ở các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ với quy mô của mỗi trường là 250 HS Như vậy, sau

Võ Nhai, Định Hóa thì ba huyện miền núi của tỉnh đều có cơ sở giáo dục dành cho

HS các DTTS học theo hệ nội trú Tổng mức đầu tư 3 trường lên đến trên 111 tỷ đồng, thuộc nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo

Trang 33

Trong 3 trường được đầu tư xây dựng này thì trường PTDTNT Đại Từ có tiến độ thực hiện nhanh nhất Trường được xây dựng trên địa bàn xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ với diện tích đất sử dụng là 22.950 m2 Năm học 2012 - 2013 trường

đã tuyển sinh năm đầu tiên, được 4 lớp với 120 HS của khối 6 và khối 7 Trong đó ngoài vùng tuyển sinh ở 11 xã và 2 xóm thuộc vùng kinh tế ĐBKK của huyện thì có thêm 13 em HS người DTTS thuộc 2 xã Bàn Đạt và Tân Khánh của huyện Phú Bình Còn lại hai trường trên địa bàn huyện Phú Lương và Đồng Hỷ vẫn đang gấp rút hoàn thiện nốt những công đoạn cuối cùng và sẽ tiến hành tuyển sinh vào năm học 2013 - 2014

1.5.3 Trường phổ thông dân tộc nội trú cấp Trung học phổ thông

Ngày 06 - 9 - 1997, UBND tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số 2216/QÐ-UB

Về việc nâng cấp trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Võ Nhai thành trường

PTDTNT tỉnh Thái Nguyên Năm 2005 theo Quyết định số 932/QÐ-UB, ngày 24 -

5 - 2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc chuyển trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên về thành phố Thái Nguyên trên cơ sở nâng cấp trường THPT Bán công Việt Bắc (giải thể theo Quyết định số 1125/QÐ-UB, ngày 26 - 3 - 2008) tại phường Tân Lập, thành phố Thái Nguyên

Ngày 01 - 7 - 2008 trường PTDTNT Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động với bộ máy lãnh đạo Ðảng là một cấp uỷ lâm thời Theo Quyết định số 932/QÐ-UB, ngày 24 - 5 - 2005 của UBND tỉnh Thái Nguyên về quy mô đào tạo của trường từ 300 đến 400 HS cấp THPT Nhiệm vụ chính trị của nhà trường là nơi đào tạo nguồn cán bộ dân tộc cho các địa phương vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế ÐBKK của tỉnh Thái Nguyên Năm học đầu tiên 2008 - 2009, nhà trường tuyển sinh khoá I với 120 HS, biên chế thành 04 lớp 10 Cho tới nay nhà trường đã

có những phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng đào tạo, xứng đáng với nhiệm vụ của tỉnh và nhân dân các dân tộc giao phó

1.6 Tiểu kết

Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ cũng như các bài chuyên khảo đăng trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu về mô hình trường

Trang 34

PTDTNT Tuy vậy, về hệ thống trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên chưa có tác giả nào trước đó đề cập đến Luận văn với những số liệu thu thập từ thực địa sẽ làm phong phú thêm nghiên cứu về trường PTDTNT nói chung và các trường PTDTNT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và là nguồn tư liệu có giá trị đối với các tác giả khác quan tâm, đồng thời đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách dân tộc trong lĩnh vực giáo dục

Việc thành lập hệ thống trường PTDTNT trên cả nước đã kịp thời đáp ứng được nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước nói chung và xây dựng vùng cao, vùng sâu, vùng khó khăn, vùng DTTS nói riêng, nhất là hiện nay, khi mà đội ngũ cán bộ người DTTS còn thiếu nghiêm trọng thì nhu cầu về NNL người DTTS có trình độ ngày càng cấp thiết Được sự quan tâm của các cấp, các ngành, hệ thống trường PTDTNT đang ngày càng được hoàn thiện để đảm bảo nhu cầu dạy và học cho con em người DTTS

Tỉnh Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực trung du miền núi phía Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung

du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Ngoài ra, Thái Nguyên còn được biết đến là một trung tâm đào tạo NNL lớn thứ ba cả nước sau Thủ đô Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh Đối với các trường PTDTNT trên địa bàn, UBND tỉnh luôn quan tâm

và có những đầu tư đúng mức Tính đến năm 2014, mạng lưới các trường PTDTNT

đã trải rộng khắp tỉnh với 01 trường cấp THPT và 05 trường cấp THCS Nhờ thế mà

số lượng con em người DTTS được học tại trường PTDTNT tăng lên đáng kể Cũng

từ đó, mô hình giáo dục chuyên biệt này từng bước phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong sự nghiệp tạo nguồn cán bộ cho vùng DTTS, vùng miền núi của tỉnh, góp phần quan trọng trong việc đào tạo cán bộ là người DTTS

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC CỦA TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị

CSVC, trang thiết bị trường học là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ

thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện HS trong nhà trường, bao gồm những đồ vật, của cải vật chất và cả khung cảnh tự nhiên xung quanh trường

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảng cũng đã

nêu những chủ trương đối với phát triển giáo dục THPT, trong đó có đoạn như sau:

“… Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hóa nhà trường (lớp học, sân chơi, bãi tập, phòng thí nghiệm, máy tính nối mạng internet, thiết bị giảng dạy và học tập hiện đại, thư viện và ký túc xá) Phấn đấu đến năm 2010 phần lớn các trường phổ thông có đủ điều kiện cho học sinh học tập và hoạt động cả ngày tại trường.”

Ðể củng cố mạng lưới, quy mô các trường DTNT nhằm nâng cao dân trí, tạo nguồn cán bộ và NNL phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi, thủ tướng

Chính phủ đã phê duyệt Ðề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông

dân tộc nội trú giai đoạn 2011 - 2015 Thực hiện theo tinh thần của đề án đó, các

trường PTDTNT trong cả nước nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung đã nhận được sự đầu tư và quan tâm rất lớn từ các cấp các ngành để có điều kiện về CSVC đảm bảo cho các em HS ăn ở, sinh hoạt và học tập tốt nhất

2.1.1 Quy mô trường

Trường PTDTNT Thái Nguyên có tổng diện tích là 14.000m2, bình quân đạt 38.9m2/HS Trường có tường rào bao quanh, biển trường, cổng trường khang trang,

Trang 36

đường đi được bê tông hóa sạch đẹp Các khối công trình trong nhà trường được bố trí xây dựng hợp lí và khoa học với khu lớp học (320m2), nhà hiệu bộ (248m2), nhà phòng bộ môn (320m2), ký túc xá, nhà ăn, khu vệ sinh… Hệ thống cây xanh bóng mát trong trường được trồng hợp lí, hệ thống bồn hoa cây cảnh cũng được xây dựng đảm bảo mỹ quan, cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp Sân chơi cho các em HS được cải tạo hợp lí đảm bảo tổ chức thuận lợi các hoạt động quản lý, dạy học và sinh hoạt của nhà trường

Trường THPT Bình Yên có tổng diện tích là 32.384m2 và đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Khuôn viên nhà trường đảm bảo xanh - sạch - đẹp, có tường rào bao quanh đảm bảo an toàn Vì là trường lồng ghép 2 cấp học nên ngoài việc sử dụng những công trình chung của toàn trường, học sinh hệ nội trú còn có khu dành riêng với 14 phòng ở khép kín, 01 nhà ăn và 01 thư viện tự học

Trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai với tổng diện tích lên đến 18000m2

được xây dựng tường rào khép kín, khuôn viên biệt lập, cổng trường,

biểu trường và tất cả các khu vực trong trường đều được bố trí hợp lí, sạch đẹp

2.1.2 Khu phòng học

Trường PTDTNT Thái Nguyên gồm có 12 phòng học cho đủ 12 lớp học với

bàn ghế đủ, đạt tiêu chuẩn quy định Trong các phòng học được trang trí thống nhất,

có diện tích xây dựng đúng tiêu chuẩn, hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện đảm bảo,

đủ cửa sổ, cửa ra vào Các phòng học đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông, 100% phòng học sử dụng bảng chống lóa Nhà trường xây dựng và thiết

kế các phòng bộ môn theo đúng tiêu chuẩn của phòng bộ môn đạt chuẩn Quốc gia:

có đầy đủ phòng học cho các bộ môn, đủ bàn ghế chuyên dụng, có kho chứa thiết

bị, phòng chuẩn bị của GV khi giao nhận thiết bị Trong phòng học bộ môn được trang trí thống nhất, đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường và có tính giáo dục cao theo nguyên lý học đi đôi với hành Mỗi phòng học bộ môn của nhà trường có diện tích 60m2/phòng với các trang thiết bị tương đối đầy đủ, đồng bộ, hiện đại Cụ thể gồm có: 01 phòng bộ môn Vật lý, 01 phòng bộ môn Hóa học, 01 phòng bộ môn Sinh học, 01 phòng bộ môn Công nghệ, 01 phòng bộ môn Tin học, 01 phòng nghe nhìn, 02 phòng kho thiết bị thể dục thể thao và giáo dục quốc phòng an ninh

Trang 37

Khu phòng học, phòng bộ môn của nhà trường THPT Bình Yên có 30 phòng học đảm bảo đủ phòng học cho việc học 2 ca sáng - chiều CSVC và trang thiết bị trường học của nhà nhà trường phục vụ chung cho cả khối THCS và khối THPT Các phòng học được trang trí, có ảnh Bác Hồ, có khẩu hiệu về dạy - học và nội quy học sinh, bàn ghế tại các lớp học cơ bản đạt chuẩn quy định về kích thước, toàn bộ khu lớp học được trang bị bảng từ chống lóa, lắp rèm trang trí và chống nắng Trường có đủ phòng học bộ môn Lý - Hóa - Sinh - Tin học đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định về phòng học bộ môn ban hành kèm theo quyết định số 37/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 26 - 7 - 2008; có 02 phòng học đa năng trong đó có đầu DVD, ti-vi, máy vi tính và máy chiếu Projector, máy chiếu đa vật thể

Trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai có 12 phòng xây

dựng kiên cố (08 phòng học và 04 phòng bộ môn) Các phòng học đều thoáng mát, đầy

đủ ánh sáng, bàn ghế HS, bàn ghế GV và bảng theo đúng quy định, đáp ứng nhu cầu học 2 buổi/ngày và các giờ tự học của HS Các phòng thí nghiệm, thực hành của các bộ môn như Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học được trang bị tương đối đầy đủ Qua chương trình cấp phát, mua sắm và trang bị của dự án Việt - Bỉ, nhà trường đã có 39 máy vi tính (05 máy xách tay), 03 bộ đầu video, màn hình chuyên phục vụ cho giảng dạy, 03 máy chiếu qua đầu, 04 máy chiếu đa năng Projector, 01 máy photocopy tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của GV và HS

2.1.3 Khu văn phòng

Trường PTDTNT Thái Nguyên có khu văn phòng đầy đủ các phòng chức năng với trang thiết bị đầy đủ, đồng bộ phục vụ hiệu quả hoạt động quản lí, giảng dạy và học tập trong nhà trường Tổng thể có 01 phòng Hiệu trưởng, 02 phòng Phó hiệu trưởng, 01 phòng Công đoàn, 01 phòng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tư vấn, 01 phòng văn thư - thủ quỹ, 01 phòng kế toán, 01 phòng giáo vụ, 01 phòng họp 60 chỗ ngồi, 01 phòng truyền thống kiêm phòng hội đồng, 01 phòng y tế học đường, 03 phòng làm việc của các tổ chuyên môn Tất cả đều được bố trí đủ các thiết bị cần thiết, theo đúng chuẩn quy định trong

điều lệ các trường phổ thông

Trang 38

Trường THPT Bình Yên có khu văn phòng có đủ phòng làm việc cho

Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên - Đội thiếu niên, có 05 phòng cho các tổ chuyên môn và khối hành chính, diện tích mỗi phòng đạt 22m2

Thư viện trường đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia theo quyết định số 847/QĐ-SGD&ĐT ngày 18 - 4 - 2011 Nhà trường vẫn đang không ngừng chỉnh trang lại để đạt tiêu chuẩn thư viện tiên tiến, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu học và dạy cho HS, cán bộ GV Phòng truyền thống có diện tích 70m2, đảm bảo

yêu cầu giáo dục truyền thống trong nhà trường

Khu văn phòng của trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai có

01 nhà hiệu bộ với đầy đủ các phòng làm việc và các phòng chức năng: phòng làm việc của Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng, phòng làm việc cho Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, phòng họp hội đồng, phòng sinh hoạt tổ chuyên

môn Các phòng được bố trí đầy đủ trang thiết bị và các phương tiện làm việc

2.1.4 Thư viện

Trường PTDTNT Thái Nguyên đã có thư viện đạt chuẩn quy định về tổ chức

và hoạt động thư viện Tổng diện tích thư viện là 180m2

(01 tòa nhà 2 tầng), có 01 phòng đọc đạt chuẩn, 01 kho sách liền kề với hơn 15.220 đầu sách các loại Các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, báo chí, tài liệu tham khảo, sách dùng chung, tủ sách giáo dục đạo đức pháp luật, sách giáo dục dân tộc… HS đều có thể dễ dàng tìm được trong thư viện trường Hoạt động mượn và trả sách diễn ra ở thư viện cũng rất

có hiệu quả, đảm bảo điều kiện về tư liệu học tập tốt nhất cho HS trong trường

Thư viện của trường THPT Bình Yên đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia theo QĐ số 847/QĐ-SGD&ĐT ngày 18 - 4 - 2011 Hiện nhà trường đang chỉnh trang lại và nâng cao chất lượng thư viện để ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu dạy

và học trong nhà trường

Thư viện của trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai có tổng diện tích sử dụng là 120m2 với 01 phòng đọc mà 01 phòng thư viện thân thiện đa năng Tổng số sách giáo khoa là 6500 cuốn, tổng số sách tham khảo cho GV và HS

là 3000 cuốn, sách bồi dưỡng nghiệp vụ, sách GV là hơn 700 cuốn, truyện đọc có

Trang 39

525 cuốn Như vậy tổng số sách của thư viện lên đến 10500 cuốn, bình quân tài liệu đạt 35 cuốn/người, đảm bảo được việc dạy và học của nhà trường Ngoài ra, thư viện còn có 12 loại báo và tạp chí, một số băng đĩa phục vụ giảng dạy khác Hoạt động của thư viện đã đi vào nề nếp, đáp ứng nhu cầu tham khảo của GV và học tập của HS

2.1.5 Ký túc xá và nhà ăn của học sinh

Ký túc xá HS của trường PTDTNT Thái Nguyên gồm 02 nhà 3 tầng với 46 phòng ở của HS nội trú và 02 phòng dành cho trực quản sinh của GV (có GV trực 24/24 giờ tại ký túc xá) Diện tích mỗi phòng là 30m2, tổng diện tích là 360m2 Các phòng ở của HS đều được bố trí đầy đủ giường, tủ, bàn, có buồng vệ sinh khép kín cho từng phòng ở, đảm bảo chỗ ở, ngủ nghỉ, vệ sinh cá nhân với 8 em/phòng Nhà

ăn và bếp ăn là một khối nhà 2 tầng với diện tích 150m2, được sắp xếp khoa học, gọn gàng, sạch sẽ, có đầy đủ trang thiết bị cho đun nấu và ăn uống của HS Bếp nấu luôn đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm và đã được cấp chứng nhận “Bếp ăn vệ sinh an toàn thực phẩm”

Trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai có 02 nhà kí túc xá

học sinh với 34 phòng ở, 02 nhà ăn và các công trình phụ đảm bảo sinh hoạt của

HS Phòng truyền thống của trường có nhiều hiện vật mang tính giáo dục cao về lịch sử hình thành và quá trình phát triển cũng như những thành tích mà nhà trường

đạt được

Trường THPT Bình Yên có khu nội trú dành cho HS hệ nội trú gồm 14 phòng ăn khép kín, có nhà ăn, thư viện tự học buổi tối dành riêng cho HS hệ nội trú

Tất cả đều đảm bảo quy cách và điều kiện cho HS ăn ở, sinh hoạt và học tập

2.1.6 Hệ thống công nghệ thông tin

Trường PTDTNT Thái Nguyên có hệ thống máy tính được kết nối internet, đáp ứng yêu cầu quản lí và dạy học Website chính thức của nhà trường hoạt động thường xuyên, hỗ trợ hiệu quả cho công tác dạy học và quản lý nhà trường

Trường THPT Bình Yên có hệ thống CNTT kết nối internet băng thông rộng

đáp ứng yêu cầu công tác và học tập, có website chính thức của nhà trường trên

Trang 40

mạng, có thiết bị hiện đại giúp cán bộ, GV có điều kiện ứng dụng CNTT trong quản

lý và giảng dạy (có 15 máy Projector, 3 máy chiếu đa vật thể)

Trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai đã có hệ thống CNTT kết nối internet đáp ứng yêu cầu quản lý và dạy học, xây dựng được website thông tin trên mạng internet hoạt động thường xuyên, hỗ trợ có hiệu quả cho công tác dạy học và quản lý nhà trường

2.1.7 Sân chơi

Trường PTTNT Thái Nguyên dành sân chơi cho HS với diện tích lên đến 1000m2, khu bãi tập cũng rộng tới 2470m2, tạo điều kiện tốt nhất cho HS hoạt động ngoài giờ và hoạt động thể dục thể thao Bãi tập của trường được thiết kế đúng kĩ thuật, đạt chuẩn về chất lượng với 01 sân bóng đá mini, 01 nhà tập đa năng diện tích 782m2, hố nhảy cao, hố nhảy xa, đường chạy 80m đảm bảo an toàn thuận tiện cho

học tập, thi đấu và rèn luyện sức khỏe của cán bộ, GV, HS

Để phục vụ nhu cầu rèn luyện thể chất của HS, trường PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai có nhà đa năng với diện tích sử dụng hơn 1000m2, có đầy đủ thiết bị luyện tập thể dục thể thao và sân vận động rộng hơn 3000m2

Khu sân chơi của nhà trường cũng rộng đến 2000m2, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, không gây

ô nhiễm môi trường Khuôn viên nhà trường cũng luôn gọn gàng, sạch sẽ, có cây bóng mát và nhiều cây cảnh làm đẹp cảnh quan Khu để xe cho cán bộ, GV và khách đến thăm trường luôn trật tự, an toàn Hệ thống cấp thoát nước hợp vệ sinh,

có đầy đủ nước sạch, nước uống phục vụ cho GV và HS

Trường THPT Bình Yên có khu sân chơi đảm bảo tiêu chuẩn xanh - sạch -

đẹp Khu luyện tập thể dục thể thao có nhà đa năng với diện tích lên đến 774m2, sân tập có diện tích 5400m2

2.1.8 Nhà để xe; hệ thống vệ sinh; phòng y tế

Hệ thống vệ sinh của trường PTDTNT Thái Nguyên được bố trí hợp lí, đảm bảo kín đáo, sạch sẽ không gây ô nhiễm môi trường xung quanh Ở mỗi khối nhà đều có các công trình vệ sinh khép kín phục vụ HS nội trú và cán bộ, GV Hệ thống cống thoát nước được bố trí đảm bảo thoát nước tốt trong suốt mùa mưa lũ Hệ

Ngày đăng: 02/07/2022, 16:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chương trình VII: Nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả các trường PTDTNT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình VII: Nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả các trường PTDTNT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1999), C. Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăng-ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Ngô Thị Chính, Tạ Long (2007), Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận , Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận
Tác giả: Ngô Thị Chính, Tạ Long
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000, Tạp chí Triết học, số 4 -1990, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong chiến lược kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000
7. Vũ Huy Chương (2002), Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hàng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tiến hàng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Vũ Huy Chương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Trương Xuân Cừ (2010), Phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực Tây Bắc tạo nguồn đào tạo nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, LATS Giáo dục học: 62.14.05.01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực Tây Bắc tạo nguồn đào tạo nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Tác giả: Trương Xuân Cừ
Năm: 2010
9. Hoàng Công Dân (2005), Nghiên cứu phát triển thể chất cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc từ 15 đến 17 tuổi, LATS Giáo dục học: 62.81.01.0, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển thể chất cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc từ 15 đến 17 tuổi
Tác giả: Hoàng Công Dân
Năm: 2005
10. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
11. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X-XIX)
Tác giả: Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
18. Nguyễn Minh Đường, Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, Hà Nội, Đề tài KX-07-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới
19. Trương Thu Hà (2005), Cơ hội và thách thức đối với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4, tr.47-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Trương Thu Hà
Năm: 2005
20. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
21. Phạm Minh Hạc (chủ biên), Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi (2004), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, Niên giám nghiên cứu (số 3), Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên), Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
23. Ðinh Ðức Hợi (2012), Phẩm chất nhân cách của giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, LATS Tâm lí học:62.31.80.05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẩm chất nhân cách của giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Ðinh Ðức Hợi
Năm: 2012
24. Hội đồng dân tộc của Quốc hội khóa X (2005) Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước về dân tộc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các dân tộc có dân số trên 7000 ngƣời ở tỉnh Thái Nguyên - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 1.1 Các dân tộc có dân số trên 7000 ngƣời ở tỉnh Thái Nguyên (Trang 30)
Bảng 2.2: Hiện trạng đội ngũ học sinh các trƣờng PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 - 2014) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 2.2 Hiện trạng đội ngũ học sinh các trƣờng PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 - 2014) (Trang 47)
11 120 33 87 02/120 HS quá 01 tuổi (= - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
11 120 33 87 02/120 HS quá 01 tuổi (= (Trang 47)
Qua bảng số liệu thành phần HS phân theo giới tắnh, thống kê được toàn trường PTDTNT Thái Nguyên có 88 HS nam (chiếm 24,4%) và 272 HS nữ (chiếm  75,6%) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
ua bảng số liệu thành phần HS phân theo giới tắnh, thống kê được toàn trường PTDTNT Thái Nguyên có 88 HS nam (chiếm 24,4%) và 272 HS nữ (chiếm 75,6%) (Trang 49)
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Đồng Hỷ - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 2.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Đồng Hỷ (Trang 49)
Bảng 2.3: Học sinh các trƣờng PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 - 2014)                                                                                   Theo thành phần dân tộc - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 2.3 Học sinh các trƣờng PTDTNT tỉnh Thái Nguyên (năm học 2013 - 2014) Theo thành phần dân tộc (Trang 51)
Bảng 4.1: Kết quả học tập của học sinh trƣờng PTDTNT cả nƣớc (năm học 2011 - 2012 và năm học 2012 - 2013) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.1 Kết quả học tập của học sinh trƣờng PTDTNT cả nƣớc (năm học 2011 - 2012 và năm học 2012 - 2013) (Trang 83)
Bảng 4.3: Kết quả học tập (201 1- 2012) và (2012 -2013) của trƣờng PTDTNT Thái Nguyên - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.3 Kết quả học tập (201 1- 2012) và (2012 -2013) của trƣờng PTDTNT Thái Nguyên (Trang 84)
Bảng 4.2: Tỷ lệ học sinh bỏ học, lƣu ban của trƣờng PTDTNT Thái Nguyên (năm học 2011 - 2012 và năm học 2012 - 2013) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.2 Tỷ lệ học sinh bỏ học, lƣu ban của trƣờng PTDTNT Thái Nguyên (năm học 2011 - 2012 và năm học 2012 - 2013) (Trang 84)
Bảng 4.4: Bảng so sánh trƣờng PTDTNT Thái Nguyên với một số trƣờng PTDTNT cấp tỉnh trong khu vực Đông Bắc - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.4 Bảng so sánh trƣờng PTDTNT Thái Nguyên với một số trƣờng PTDTNT cấp tỉnh trong khu vực Đông Bắc (Trang 85)
Bảng 4.6: Chất lƣợng giáo dục khối nội trú của trƣờng THPT Bình Yên (năm học 2012 - 2013) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.6 Chất lƣợng giáo dục khối nội trú của trƣờng THPT Bình Yên (năm học 2012 - 2013) (Trang 87)
Bảng 4.7: Chất lƣợng giáo dục hai mặt của trƣờng PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai (năm học 2012 - 2013) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.7 Chất lƣợng giáo dục hai mặt của trƣờng PTDTNT Nguyễn Bỉnh Khiêm huyện Võ Nhai (năm học 2012 - 2013) (Trang 88)
Bảng 4.8: Văn phòng phẩm cấp cho học sinh từng bậc học - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
Bảng 4.8 Văn phòng phẩm cấp cho học sinh từng bậc học (Trang 89)
Phụ lục 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH (Ảnh của tác giả) - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Vai trò của trường phổ thong dân tộc nội trú  tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển  nguồn nhân lực vùng Đông Bắc Việt Nam
h ụ lục 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH (Ảnh của tác giả) (Trang 121)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN