1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương nhân học đại cương

34 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Nhân Học
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 118,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhân học đại cương ............................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN NHÂN HỌC

1 Nhân học là gì? Anh (chị) hãy trình bày đối tượng, nhiệm vụ và quan điểm nghiên cứu của nhân học.

a) Khái niệm:

- Giới thiệu chung: Nhân học là một ngành học lớn nhất trong các ngành học khoa học xã hội và nhân văn ở Bắc Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản… và nhiều nước khác nữa Trên thế giới, ngành học này đã phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ 19 nhưng ở Việt Nam

thì cái tên “Nhân học” còn khá mới mẻ.

- Nội dung chính: Nhân học là ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về bản chất

của con người trên các phương diện sinh học, xã hội, văn hóa của các nhóm người,các cộng đồng dân tộc khác nhau, cả về quá khứ của con người cho tới hiện nay

b) Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của Nhân học không chỉ bó hẹp trong nghiên cứu phương diện sinh học của con ngưởi mà cả văn hóa và xã hội của con người

- Nhân học quan tâm đến 1 thứ: văn hóa của con người

🡺 Nghiên cứu văn hóa là chủ đề nghiên cứu chính của nhân học

- Văn hóa là những cách ứng xử, phong tục, tập quán, tri thức do con người tạo ra

và hội tụ cả 3 điều kiện sau:

+ Là những thứ cá nhân học được khi sống trong một cộng đồng người thay vì là những hành vi mang tính chất bản năng

+ Là những điều được đa số các thành viên trong cộng đồng và xã hội chấp nhận thay vì là nhu cầu hay ý muốn của cá nhân đơn lẻ

+ Có sức sống tương đối lâu dài, được duy trì ít nhất qua một thế hệ thay vì là 1 xu thế ngắn ngủi và chóng tàn

Ví dụ:

- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

- Hắt xì là một hành vi bản năng nhưng khi một người hắt xì và lấy tay che miệng khi đứng chỗ đông người thì đó lại là một hành vi có văn hóa

c) Quan điểm nghiên cứu của nhân học:

Trang 2

🡺 Nhân học là một ngành toàn diện 🡺 Tính toàn diện là đặc điểm trung tâm của quan điểm nhân học.

VD: Các nhà nhân học nghiên cứu không chỉ tất cả các dân tộc mà còn nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người Cụ thể khi miêu tả một nhóm người, một nhà nhân học cơ thể đề cập đến lịch sử của khu vực mà nhóm người này sinh sống, có thể đề cập đến môi trường tự nhiên, tổ chức cuộc sống gia đình

và các đặc tính ngôn ngữ của họ, hình thái định cư của nhóm, hệ thống kinh tế và chính trị, tôn giáo, phong cách nghệ thuật và trang phục

- Đối chiếu, so sánh: Nhân học là khoa học mang tính so sánh đối chiếu để tìm hiểu

sự đa dạng về mặt sinh học và văn hóa của các nhóm dân cư, dân tộc khác nhau trên thế giới

+ VD: Khi các nhà giáo dục Mĩ phát hiện ra rằng những năm 1960 học sinh da đen

ít uống sữa, học cho rằng lí do chính là các học sinh này thiếu tiền hay thiếu giáo dục Nhưng bằng chứng của các nhà nhân học đã đưa ra một cách giải thích khác Các nhà nhân học từ lâu đã biết rằng có nhiều nơi chăn nuôi gia súc lấy sữa trên thế giới, con người không uống sữa tươi mà họ thường để chúng lên men trước khi uống hay làm phoomai Tại sao họ lại làm như vậy thì hiện nay đã rõ Nhiều người thiếu enzyme lactose vốn cần thiết cho việc tiêu hóa lactose, loại đường có trong sữa Khi những người này uống sữa sẽ gặp rắc rối với hệ tiêu hóa, không chỉ

lactose không tiêu hóa được mà các dưỡng chất khác cũng không được hấp thụ Trong nhiều trường hợp, việc uống sữa sẽ gây ra chứng chuột rút, tiêu chảy và buồn nôn,… Các nghiên cứu cho thấy rằng chứng không hấp thụ được sữa tươi có nhiều nơi trên thế giới như thường thấy ở thanh niên châu Á, Ả Rập, Do Thái, Tây Phi, cư dân bản địa Bắc và Nam Mĩ và người Mĩ da đen Bởi vì các nhà nhân học hiểu biết về các dân tộc khác nhau về địa lí, lịch sử nen học thường có thể điều chỉnh lại sự hiểu biết sai lệch về các nhóm người khác nhau

- Phạm vi không gian, thời gian:

Trang 3

+ Nhân học có phạm vi rộng lớn hơn cả về tính địa lí và lịch sử Nhân học liên quan rõ ràng và trực tiếp với tất cả các dân tộc trên thế giới Nó không chỉ quan tâm đến các dân tộc gần và trong một vùng có giới hạn Ngành này cũng quan tâm đến con người ở các thời đại bắt đầu với tổ tiên trực tiếp của loài người đã sinh sống cách đây hàng triệu năm và tìm hiểu sự phát triển của loài người cho đến hiệnnay.

=> Trước đây: phạm vi không gian và thời gian, nhân học chỉ nghiên cứu các dân tộc ngoài châu Âu trong quá khứ nhưng hiện nay, nhân học đã nghiên cứu tất cả các dân tộc trên thế giới ở mọi giai đoạn lịch sử

Câu 2: Trình bày nội dung của phương pháp quan sát tham dự và phương pháp phỏng vấn sâu trong điền dã dân tộc học Khi thực hiện các phương pháp này thì vấn đề đạo đức nghiên cứu được đặt ra như thế nào?

a) Quan sát tham dự

- Khái niệm:

+Quan sát tham dự là phương pháp mà theo đó, người nghiên cứu thâm nhập vào nhóm, cộng đồng thuộc vào đối tượng nghiên cứu và được tiếp nhận như một thành viên của nhóm hay cộng đồng

+ Khái niệm tham dự ở đây được hiểu theo nhiều mức độ khác nhau: từ quan sát tham dự một phần vào các hoạt động đến sự hòa nhập hoàn toàn của người quan sát vào trong nhóm người được quan sát

+ Có thể thu thập được nhiều dữ liệu khác nhau

+ Do sự tham gia của người nghiên cứu vào hoạt động của người được quan sát và khắc phục được những hạn chế do trình độ tri giác thụ động gây ra, làm giảm khả năng phản ứng của chủ thể khi biết mình đang bị nghiên cứu

Trang 4

+ Sự tham dự cho phép người quan sát đi sâu và cảm nhận được, hiểu biết toàn bộ tình cảm và những hành động của đối tượng được quan sát 🡺 Giúp cho việc thâm nhập vào thế giới nội tâm của người được quan sát, hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về những nguyên nhân, động cơ của những hành động được quan sát.

+ Phương pháp quan sát tham dự cung cấp cho chúng ta những thông tin mà khi sửdụng các phương pháp khác khó có thể có được Đó là những thông tin liên quan đến hoạt động của nhóm, khi người quan sát trở thành một thành viên của nhóm vì thế dễ dàng nhận biết những hành vi bình thường, phong tục tập quán theo thói quen của mỗi người trong nhóm cũng như những quy tắc thông thường của nhóm, nghĩa là thấy được những gì là thuộc tính vốn có trong bối cảnh văn hóa của mỗi người trong nhóm hoặc cộng đồng

+ Giúp hình thành nên những câu hỏi nghiên cứu nhạy bén

+ Giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của những gì ta được quan sát

- Nhược điểm:

+ Tham dự quá tích cực, quá dài ngày của người quan sát đối với cộng đồng làm cho họ quen với cộng đồng dấn đến ít quan tâm đến sự khác biệt và đa dạng văn hóa của cộng đồng Trong một số trường hợp người quan sát không giữ được cái nhìn khách quan trung lập hay làm giảm hiệu quả quan sát

+ Phương pháp nghiên cứu tham dự đòi hỏi tốn nhiều thời gian, Trong nghiên cứu nhân học, kỹ thuật quan sát tham dự và sự trải nghiệm đòi hỏi rất nhiều thời gian

và công sức Muốn thực hiện được mục tiêu đề ra bắt buộc nhà nghiên cứu phải thâm nhập và hòa đồng với cộng đồng khách thể nghiên cứu Tiêu chí 3 cùng (cùng

ăn, cùng ở, cùng hoạt động) phải được thực hiện một cách triệt để Khi đó nhà nghiên cứu sẽ có nhiều điều kiện để chứng kiến và trải nghiệm cuộc sống của khách thể nghiên cứu

+ Tuy nhiên, trong nghiên cứu về tôn giáo, việc quan sát tham dự và trải nghiệm dễkhiến người nghiên cứu bị tác động bởi niềm tin tôn giáo của khách thể nghiên cứu

do cơ chế lây lan (cơ chế lây lan tâm lý) Tình trạng này rất dễ khiến nhà nghiên cứu bị hút vào đời sống tôn giáo và nhìn nhận các hiện tượng theo cách nhìn của tín đồ tôn giáo mà quên mất vị trí khách quan khi phân tích thông tin Để hạn chế được tình trạng này đòi hỏi nhà nghiên cứu phải hết sức vững vàng, tỉnh táo và có những kỹ năng để tránh bị cuốn theo khách thể mà xa rời nhiệm vụ nghiên cứu

- Các kĩ năng cần có của người quan sát tham dự:

Trang 5

+ Kĩ năng quan sát nghề nghiệp tốt, am hiểu tiếng địa phương và phải có thời gian thích ứng với môi trường mới

+ Quá trình nhập thân văn hóa vào cộng đồng phụ thuộc vào cả tính cách của người được quan sát, các đặc trưng về giới tính, tuổi tác

+ Sự thành công của việc quan sát còn phụ thuộc vào bầu không khí thân thiện, cáckhía cạnh tâm lí, đạo đức của nhà nghiên cứu khi chung sống với cộng đồng

- Hình thức: Hình thức phỏng vấn trong điền dã dân tộc học là phỏng vấn sâu ( phỏng vấn tự do) Với bản câu hỏi phỏng vấn này, nhà dân tộc học nói chuyện đối mặt với người cung cấp thông tin, hỏi và ghi chép câu trả lời Đôi lúc có nhữngcâu hỏi bất chợt này sinh trong quá trình phỏng vấn, các cuộc thảo luận không giới hạn cũng có lúc nghỉ ngơi và tán chuyện dông dài

+ Các dạng vấn đề thường hỏi:

● Nền tảng cá nhân hoặc dân số học

● Hành vi hoặc sự trải nghiệm đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội,…

● Ý kiến

● Cảm xúc

● Kiến thức

- Các kĩ năng cần có của người phỏng vấn sâu:

+ Kĩ năng đặt câu hỏi:

● Câu hỏi mở

● Câu hỏi mô tả

● Câu hỏi nhớ lại

● Câu hỏi phân tích (tại sao ?, như thế nào?,…)

● Câu hỏi trước phải gợi mở hỏi tiếp câu hỏi sau

Trang 6

● Quan tâm các câu hỏi về cảm xúc

● Đặt câu hỏi từ góc nhìn của người trong cuộc

● Người phỏng vấn luôn phải đặt câu hỏi: tại sao họ lại nói với mình như vậy ?

+ Trong phỏng vấn sâu, sự tác động giữa người hỏi và người trả lời ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả cuộc phỏng vấn Điều này đòi hỏi người phỏng vấn phải có những kỹ năng nghề nghiệp nhất định Để có được những thông tin khách quan, người phỏng vấn không nên hỏi những câu gợi ý, mớm lời Tuy nhiên, khi gặp phải những vấn đề nhạy cảm khiến người trả lời lo ngại, ví dụ như thu nhập, tình dục, bí quyết làm ăn… thì người phỏng vấn không nên nóng vội thu thập thông tin,

mà cần kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, hoặc có thể mở rộng chủ đề phỏng vấn sang hướng khác Khi khách thể mất cảnh giác, người phỏng vấn có thể đột ngột trở lại vấn đề đã bị từ chối Trong nhiều tình huống, người phỏng vấn có thể dùng cách hỏi kiểm chứng những nội dung xung quanh vấn đề đó để tự rút ra những điều mình cần

VD: khi chúng tôi muốn biết thông tin về nghề làm vàng mã phục vụ nghi lễ lên đồng, thông thường người trả lời lảng tránh do lo sợ bị thu thuế thu nhập, thuế kinhdoanh cao, nhiều người sẽ lao vào nghề của họ,… Trong trường hợp này, chúng tôiphải hỏi các vấn đề liên quan gián tiếp như một đàn mã lễ gồm những thứ gì, mất bao nhiêu loại giấy bồi, mỗi loại giấy bao nhiêu tiền, đan cốt mã hết bao nhiêu, nếumua sẵn cốt mã thì giá bao nhiêu, tốn bao nhiêu hồ, bao nhiêu giấy, những vật liệu này mua ở đâu,v.v… Một số người được phỏng vấn trả lời rõ giá, song có trường hợp chỉ nói địa chỉ mua và nhà nghiên cứu phải đến tận nơi đó để kiểm chứng về giá Khi biết đích xác chi phí của từng nguyên liệu, nhà nghiên cứu có thể tự định giá, phần kiểm chứng sẽ dành hỏi người thường xuyên đặt mua mã lễ Với cách này, chúng tôi đã tính ra được số tiền lời của một bộ đàn mã mà những hộ làm vàng mã thu được Đối chiếu với ngày công lao động hoàn tất một bộ mã, chúng tôi có thể biết được ngày công của một thợ thủ công làm nghề này

+ Có kiến thức ngôn ngữ địa phương sẽ gặp nhiều điều kiện thuận lợi hơn khi tiếp xúc với cộng đồng

+ Một kĩ thuật thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là lập một bản điều tra dân tộc học có kèm theo bản liệt kê các câu hỏi phỏng vấn Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chúng ta lập bản câu hỏi khác nhau

+ Tùy theo vấn đề nghiên cứu mà chúng ta chọn đối tượng phỏng vấn khác nhau

Trang 7

● Nghiên cứu những vấn đề phong tục tập quán truyền thống: phỏng vấn những người già, trí thức dân tộc.

● Nghiên cứu hôn nhân gia đình: phỏng vấn cả nam và nữ, người già và trẻ

● Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội và sự phát triển cộng đồng: phỏng vấn những già làng, trí thức dân tộc, chức sắc tôn giáo, cán bộ quản lí địa phương

● Những vấn đề nghiên cứu phải lấy ý kiến của cộng đồng: tổ chức thảo luận nhóm tập trung

+ Trong phỏng vấn sâu nhân học thì độ chính xác của thông tin phụ thuộc vào mối quan hệ được thiết lập giữa người phỏng vấn và đối tượng được phỏng vấn Thông tin chỉ chính xác khi khoảng cách giữa khách thể và chủ thể gần như không còn Điều đó đặt ra yêu cầu người phỏng vấn phải lấy được lòng tin từ người được phỏng vấn Người phỏng vấn phải tạo ra được sự đồng cảm, thâm nhập được vào cộng đồng đối tượng nghiên cứu

+ Các nguyên tắc khi phỏng vấn:

● Thà hỏi ít mà sâu còn hơn hỏi nhiều mà hời hợt

● Coi người được hỏi như là chuyên gia

+ Nó không chỉ giúp nhà nghiên cứu thâm nhập được vào cộng đồng khách thể nghiên cứu, hiểu biết và phản ảnh được bản chất vấn đề, mà còn thực sự là những nghiên cứu từ bên trong (cách nhìn của người trong cuộc)

- Nhược điểm:

+ Phỏng vấn sâu là phương pháp tốn kém khá nhiều thời gian và tiền bạc

+ Đòi hiểu nhiều kĩ năng nghiệp vụ

c) Đạo đức nghiên cứu được đặt ra: rất quan trọng

Trang 8

- Báo cáo khoa học không thể bị sử dụng làm phương hại đến cộng đồng mà chúng

ta nghiên cứu

- Không xúc phạm và làm tổn hại đến phẩm chất và lòng tự trọng của đối tượng nghiên cứu

- Phải giữ bí mật cho người cung cấp thông tin

Câu 3: Trình bày mối quan hệ giữa nhân học với các môn khoa học xã hội khác.

- Nhân học là một ngành khoa học cụ thể Trong mối quan hệ với triết học, các nhànhân học cần tránh quan niệm nhân học biệt lập hay đối lập với triết học Nhân họcthường sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể để giải đáp những vấn đề thực tiễn sinh động của đời sống cọn người Các nghiên cứu của nhân học

cả về lí thuyết và phương pháp không thể phủ nhận những quy luật chung nhất về

sự phát triển của xã hội loài người của triết học Macxit mà chỉ bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức và phương pháp luận triết học

Trang 9

lịch sử, nhà nhân học không thể tiến hành nghiên cứu có hiệu quả Ngược lại, các nhà sử học sử dụng tài liệu của nhân học để soi sáng những vấn đề lịch sử và văn hóa Mối quan hệ giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học thường sử dụng những phương pháp nghiên cứu của sử học, ví dụ: phương pháp so sánh đồng đại

và lịch đại

- Sự khác nhau giữa nhân học và sử học là ở chỗ nhân học sử dụng tư liệu từ

nghiên cứu tham dự sâu tại cộng đồng còn sử học chủ yếu sử dụng tư liệu chữ viết bằng văn bản để tái tạo lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ

3) Nhân học và xã hội học

- Theo truyền thống, nhân học chú trọng nghiên cứu xã hội tiền công nghiệp, trong khi đó xã hội học lại chủ yếu quan tâm đến xã hội công nghiệp hiện đại Các nhà nhân học thường vận dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp để thu thập miểu

tả, so sánh phân tích bối cảnh, tình huống và đặc điểm chung của xã hội với tư cách là một chỉnh thể trọn vẹn Các nhà xã hội học nghiên cứu các sự kiện, bằng chứng xảy ra trong bối cảnh xã hội đã cho, tức là trong chỉnh thể xã hội hiện có

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Các nhà nhân học hướng tới việc sử dụng các phương pháp nghiên cứ tham dự sâu tại cộng đồng, sưu tập những dữ liệu định tính và tiến hành so sánh đối chiếu xuyên văn hóa

+ Các nhà xã hội học tiến hành nghiên cứu các dữ liệu khác nhau và sử dụng bảng hỏi để sưu tập những dữ liệu định lượng

- Nhân học có ảnh hưởng rõ rệt đến xã hội học Nhiều khái niệm mang tính lí thuyết của xã hội học bắt nguồn từ nhân học

- Xã hội học cũng có tác động trở lại đối với nhân học về mặt phương pháp luận nghiên cứu Ví dụ: quan điểm cơ cấu chức năng của Emile Durkheim đã ảnh

hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà nhân học

- Trong những thập niên gần đây, nhân học mở rộng đối tượng nghiên cứu tới các

xã hội công nghiệp hiện đại Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu:

+ Nhân học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng của xã hội học và các phương pháp khác

+ Các nhà xã hội học cũng đã sử dụng khá quen thuộc các phương pháp nghiên cứu cảu nhân học như phương pháp quan sát tham sự, phỏng vấn sâu

Trang 10

🡺 Nhiều lúc các nhà nhân học và xã hội học đã phối hợp nghiên cứu về những chủ

đề mà ranh giới phân biệt giữa chúng nhiều khi rất mờ nhạt

4) Nhân học với địa lí học

- Nhân học và địa lí có mối quan hệ gắn bó với nhau hình thành lĩnh vực nghiên cứu nhân học sinh thái ( bao gồm: sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn) nhằm giải quyết mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và hành

vi ứng xử của con người với môi trường xã hội và nhân văn

- Nhân học sinh thái liên quan với địa lí kinh tế trong việc phân vùng lãnh thổ mà các tộc người sinh sống, địa - văn hóa để có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ

đa chiều: tự nhiên – con người – kinh tế - văn hóa và hành vi ứng xử

5) Nhân học và kinh tế học

Nghiên cứu liên ngành giữa nhân học và kinh tế học hình thành lĩnh vực nghiên cứu nhân học kinh tế

- Nhân học kinh tế vận dụng một số quan niệm, phạm trù lí thuyết của kinh tế học

và công tác nghiên cứu của mình Ví dụ: lí thuyết về vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, thị trường,…

- Nhân học không đi sâu nghiên cứu các quy luật của kinh tế học mà tập trung tiếp cận trên bình diện văn hóa – xã hội của quá trình hoạt động kinh tế như cách thức chế tạo công cụ, hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng mang yếu tố văn hóa tộc người, địa phương, nghề nghiệp phản ánh truyền thống văn hóa tộc người

🡺 Nhân học kinh tế có mối quan hệ mật thiết với ngành kinh tế phát triển trong nghiên cứu nhân học ứng dụng

+ Nhân học tập trung nghiên cứu tính cách dân tộc, ý nghĩa của tính tộc người với

tư cách là tâm lí học cộng đồng tộc người lại có ý nghĩa to lớn Ngay từ giữa thế kỉ XIX, việc nghiên cứu tâm lí dân tộc có dự định trở thành một xu hướng độc lập

Trang 11

- Tâm lí học dân tộc được hiểu không phải là con số cộng tâm lí các cá nhân lại và các nhóm xã hội trong lòng dân tộc đó mà là nghiên cứu các đặc điểm tâm lí cũng như quá trình lịch sử của dân tộc qua các con đường xã hội hóa và chuyển thành những nhân tố lặp lại tương đối ổn định trong nhân cách các thành viên của dân tộc.

- Môi quan hệ giữa nhân học và tâm lí thể hiện xu hướng tâm lí trong nghiên cứu văn hóa và các lí thuyết văn hóa theo xu hướng nhân học tâm lí trong những thập niên gần đây

🡺 Các nhà nhân học nghiên cứu mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp để từu đó vận dụng luật tục và luật pháp trong quản lí xã hội và phát triển cộng đồng

8) Nhân học và tôn giáo học

- Cộng đồng tộc người và cộng đồng tôn giáo là hai dạng thức khác nhau của cộng đồng người và có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình phát triển Tôn giáo được coi như là một thành tố văn hóa của tộc người, dĩ nhiên nhân học không thể không nghiên cứu tôn giáo Mối liên hệ giữa ngành nhân học và tôn giáohọc hình thành lĩnh vực nhân học tôn giáo

- Nhân học tôn giáo:

+ Quan tâm đến việc nghiên cứu các hình thái tôn giáo sơ khai, các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới trong mối quan hệ với văn hóa tộc người

+ Đi sâu vào nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo, các nghi thức, các hành vi, lễ hội

và các thiết chế xã hội tôn giáo khác nhau

Trang 12

+ Quan tâm nghiên cứu mối quan hệ trong sinh hoạt tôn giáo với giới tính, các phong trào tôn giáo, xung đột tôn giáo trong mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia.

Câu 4: Đặc trưng của tôn giáo là gì? Phân tích chức năng tâm lý và chức năng

xã hội của tôn giáo Lấy ví dụ cụ thể

a) Khái niệm: - Tôn giáo bao gồm hệ thống niềm tin được hình thành do những

tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo, biểu hiện khác nhau, được biểu hiện bởi một nội dung mang tính siêu thực, nhằm tập hợp các thành viên trong một cộngđồng có tính xã hội, bổ trợ cho nhau một cách vững chắc, làm cho tín đồ tôn giáo tin tưởng và thực hành

- Hầu hết các học giả, dù thuộc trường phái nào cũng đều khẳng định yếu tố quyết định của một tín đồ đối với một tôn giáo nhất định, trước hết là niềm tin tôn giáo ( tín ngưỡng)

- Nhân học nghiên cứu tôn giáo dưới chiều kích của thời gian và không gian, phân tích sắc thái của tôn giáo đặc trưng của từng người, từng dân tộc, từng cộng đồng

cư dân chứ không phải tôn giáo nói chung

b) Đặc trưng của tôn giáo:

- Tôn giáo bao gồm nhiều nghi thức khác nhau như: cầu nguyện, hát xướng, vũ điệu, lời thỉnh cầu, hiến tế,…

- Thông qua các nghi thức, con người giao tiếp với các thế lực thần linh Theo nhu cầu tôn giáo của họ, những vật thể và các thế lực này bao gồm các vị thần, nữ thần,

tổ tiên, thượng đế, các linh hồn hoặc các thế lực khác tồn tại độc lập bên ngoài ý thức con người và cũng có thể kết hợp đa dạng với nhau

- Có những nhân vật trung gian thực hiện các nghi thức đó và giúp con người giao tiếp với thần linh, chuyển tải lời cầu nguyện của con người đến với thần linh

c) Chức năng của tôn giáo: Tôn giáo có nhiều chức năng khác nhau: chứ năng

nhận thức thế giới tự nhiên và xã hội, chức năng điều chỉnh hành vi,… nhưng trong

đó có 2 chức năng chính là chức năng tâm lí và chức năng xã hội

* Chức năng tâm lí:

- Là chỗ dựa tinh thần của con người, an ủi tinh thần cho con người 🡺 chức năng

“đền bù hư ảo”

Trang 13

- Làm giảm sự lo lắng, bất an của con người, cho họ niềm tin để đối mặt với thực tại Theo các nhà nhân học, Tôn giáo có hai chức năng tâm lý là nhận thức và tình cảm Khác với các loài khác, loài người phát triển hơn nhiều, do đó nhu cầu tìm hiểu về thế giới xung quanh ngày càng nhiều Tuy nhiên, mọi xã hội, kể cả hiện đại, đều có những sự vật hiện tượng mà không giải thích một cách logic được.+ Ví dụ như: Cuộc sống bắt đầu khi nào? Sau cái chết thì cái gì sẽ diễn ra? Tôn giáo giúp chúng ta trả lời các hiện tượng không giải thích này Về mặt tình cảm, Tôn giáo giúp các cá nhân đối mặt với sự lo lắng thường xuất phát từ cuộc sống hàng ngày Vì con người chưa bao giờ kiểm soát được thế giới xung quanh, nên Tôn giáo giúp tối đa hóa sự kiểm soát này Con người tham gia vào các lễ nghi tôn giáo như là một cách cầu xin các thế lực siêu nhiên giúp họ kiểm soát các hiện tượng mà họ chưa bao giờ kiểm soát được.

* Chức năng xã hội:

- Quan trọng nhất là chức năng liên kết các thành viên trong cộng đồng vì thông qua tôn giáo các thành viên cộng đồng có thể biểu lộ sự đồng nhất của mình, thôngqua đó mối quan hệ xã hội chặt chẽ được xây dựng Nói cụ thể hơn, mỗi tôn giáo đều có một hệ thống thần thánh hay thế lực siêu nhiên cụ thể Các thành viên với việc tham gia các lễ nghi sẽ có cùng một niền tin, một truyền thống sẽ cảm thấy gần gũi hơn Qua đó, tính đoàn kết cộng đồng được tăng lên

- Củng cố các quy tắc, chuẩn mực luân lí đạo đức trong ứng xử của mỗi cá nhân trong cộng đồng, giúp xã hội cân bằng và ổn định Tôn giáo là một cách kiểm soát

xã hội Thông qua các điều răn, luật lệ Tôn giáo duy trì trật tự xã hội bằng cách ủng hộ các hành vì được xã hội chấp nhận và ngược lại Mọi tôn giáo đều mang trong nó một hệ thống các chuẩn mực đạo đức quy định các hành vi đúng đắn trong bối cảnh của xã hội nó tồn tại Khi mà các chuẩn mực này được gắn liền với các thế lực siêu nhiên, nó có tác động mạnh hơn Vì khi các thành viên tin vào sự tồn tại của các thế lực siêu nhiên, họ sẽ tuân thủ các chuẩn mực một cách chặt chẽ hơn Không ăn vật phẩm từ lợn trong Đạo Hồi, hay không giết bò ở văn hóa Hindu

là những minh chứng cho chức năng kiểm soát xã hội của Tôn giáo

Câu 5: Tôn giáo là gì? Hãy trình bày một số hình thái tôn giáo tương đối phổ biến và còn tồn tại đến hiện nay.

1) Khái niệm:

- Tôn giáo bao gồm hệ thống niềm tin được hình thành do những tình cảm thông qua những hành vi tôn giáo, biểu hiện khác nhau, được biểu hiện bởi một nội dung

Trang 14

mang tính siêu thực, nhằm tập hợp các thành viên trong một cộng đồng có tính xã hội, bổ trợ cho nhau một cách vững chắc, làm cho tín đồ tôn giáo tin tưởng và thựchành

- Hầu hết các học giả, dù thuộc trường phái nào cũng đều khẳng định yếu tố quyết định của một tín đồ đối với một tôn giáo nhất định, trước hết là niềm tin tôn giáo ( tín ngưỡng)

- Nhân học nghiên cứu tôn giáo dưới chiều kích của thời gian và không gian, phân tích sắc thái của tôn giáo đặc trưng của từng người, từng dân tộc, từng cộng đồng

cư dân chứ không phải tôn giáo nói chung

2) Một số hình thái của tôn giáo

a Tín ngưỡng vạn vật hữu linh

- Trong những công việc lao động thời nguyên thủy, con người hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên , do vậy cuộc sống rất bấp bênh và con người ở giai đoạn này cần phải chờ đợi sự giúp đỡ của thần linh Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dẫn tới mối quan hệ giữa con người và thần linh, biểu hiện thành nghi lễ, tế tự Ở

xã hội nguyên sơ, con người không thể không có cái nhìn vô thần Họ tạo ra sản phẩm nên họ cũng hình dung các hiện tượng tự nhiên như những sản phẩm do một hay những thế lực siêu nhiên tạo ra, ít nhiều mang dáng dấp con người, đó là quan niệm vạn vật hữu linh phổ biến ở mọi tộc người đương thời

- Quan niệm này cho rằng tự nhiên đầy sức sống với đủ loại linh hồn Thức tế thì thuật ngữ này bao hàm hàng loạt sự biến đổi Động vật và thực vật đều giống con người, đều có linh hồn như đá, con suối, ngọn núi, cây cối hay những vật khác trong tự nhiên Do người ta quan niệm mọi vật đều có linh hồn nên những vật đó

có thể gây tai họa hay đem lại điều tốt lành cho con người, chính vì vậy mà con người phải thờ và quan tâm đến nó

Ví dụ: Cho tới nay người Khmer tại Nam Bộ vẫn còn tín ngưỡng Neak Tà dưới dạng thờ những hòn đá trong ngôi miếu nhỏ, đó là tín ngưỡng vạn vật hữu linh và cũng là tục thờ đá cổ xưa của cư dân Đông Nam Á Hàng năm người Khmer trong khu vực cư trú của mình đều tiến hành cúng kiếng long trọng tại miếu Neak Tà để cầu an Khi thời tiết không thuận lợi cho nông nghiệp, người Khmer đều tới miếu Neak Tà cúng Trong nghi thức cúng thể hiện sắc thái ma thuật và người cúng có khi biến thành một shaman

Trang 15

- Thuyết vạn vật hữu linh điển hình cho những người nhìn nhận bản thân các động thực vật như là một phần của tự nhiên hơn là người chỉ của tự nhiên Điều này tồn tại trong các dân tộc chuyên đi tìm kiếm lương thực ( dân du mục) cũng như nhữngdân tộc tự sản xuất lương thực, họ luôn chấp nhận sự khác biệt giữa đời sống con người và đời sống các vật thể khác trong tự nhiên.

b Totem giáo (Totemlsm) – Tín ngưỡng vật tổ

- Khái niệm: Totem giáo là tục thờ một động vật, thực vật hay một vật vô tri, vô giác nào đó được coi là “tổ” của thị tộc có cùng huyết thống, có khả năng phù giúp con người trong cuộc sống

🡺 Totem giáo thường được nhìn dưới góc độ đó là các nghi lễ chung cố kết cộng đồng xã hội Thuật ngữ totem chỉ sự phân chia bộ lạc ra thành các nhóm gắn liền với họ hàng theo dòng cha hoặc mẹ Mỗi nhóm đều tin vào mối quan hệ họ hàng thần bí của mình với một loại đối tượng vật chất nào đó là “totem” của nhóm, thường là động vật hoặc thực vật

- Mối liên hệ với totem thường được thể hiện ở sự cấm giết totem hoặc cấm dùng totem làm thức ăn, lòng tin rằng nguồn gốc của nhóm là totem, lễ nghi ma thuật tácđộng vào totem,… Các con vật và các biểu tượng thường chiếm ưu thế như côn trùng, cây cỏ và những hiện tượng tự nhiên khác như mưa, mây cũng đưuọc sử dụng để đặt tên nhóm Những vật thể được dùng định dạng nhóm được xem là các totem vật tổ

- Kiểu tôn giáo nguyên thủy này tồn tại chủ yếu trong thời kì cuối của thị tộc mẫu hệ

- Totam giáo phổ biến trong các bộ lạc ở Úc, Bắc và Nam Mĩ, điển hình nhất là Oxtraylia

Ví dụ: Người Arunta ở Úc còn giữ một trong số những trường hợp kinh điển và lễ nghi thờ vật tổ Đó là những vật thể mang tên là churinga được họ xem là những vật thể hữu hình của linh hồn mỗi người Người Arunta tin rằng các churinga là do

tổ tiên của họ để lại khi các người tổ tiên này ra đi để tìm nguồn sống trong những ngày đầu khởi nguyên vũ trụ Vùng đất thiêng của mỗi vật tổ được viếng bái mỗi năm một lần trong dịp các nghi lễ được gọi là Intichiuma với nhiều ý nghĩa và các chức năng khác nhau

Trang 16

🡺 Các nghi lễ totem xác định lại và hun đúc thêm ý thức đặc trưng lãnh thổ cộng đồng của nhóm tộc người Những vật thể đá churinga là “ cội rễ” của một mảnh đất

cụ thể

c Mana

- Mana là từ có xuất xứ của cư dân Melanesia

+ Mana là khía cạnh của niềm tin vào sự huyền bí Niềm tin này cho phép con người kiểm soát được các thể lực vô hình quan mình Vì mana là một lực ẩn, có thểdùng vào việc có lợi cho con người qua những người có khả năng đặc biệt, những người mà dân tộc Melanesia tin rằng có thể sử dụng ma thuật tạo ra mana để cho một đồ vật trở thành linh nghiệm, hữu ích hoặc đánh đổ tà thần,…

+ Sự sợ hãi do mana huyền bí khuấy động có liên hệ mật thiết với thần linh – numinous (tiếng La tinh “numen” là linh hồn ) và nhận thức sự hiện hữu của thần linh

+ Mana làm gia tăng phong tục và các mối quan hệ xã hội Mana là quyền năng siêu phàm không thuộc về con người mà được truyền từ một vật có mana sang mộtvật khác không có mana Hình thức chữa bệnh bằng cách đặt bàn tay lên người bệnh là một ví dụ về việc dùng mana

- Đặc trưng cơ bản nhất của Shaman giáo là xuất hồn và nhập hồn của các thầy pháo Shaman:

+ Cuồng vũ

+ Thanh âm, màu sắc

+ Sự hỗ trợ cảu thuốc hút hoặc khí hun

+ Gương soi

+ Trạng thái tự dày vò cảm xúc

Trang 17

- VD:

+ Trong cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ có hiện tượng “chôl arak”, đó là một dạng Shaman giáo Tín ngưỡng Arak có nội dung khá phữ tạp , arak có thể là thần bảo hộ nhà cửa, phum srock, hoặc arak còn thuộc dạng “tổ tiên” của thời kì mẫu hệ

xa xưa mà con cháu mỗi lần cúng tổ phải “chôl arak” để được “tiếp xúc” Người

“chôl arak”( nhập xác) để chữa bệnh, để tiếp xúc với cộng đồng cư dân trong phumsrock thường là nam, nhưng người “chôl arak” để cúng kiếng, “gặp gỡ” tổ tiên đều

là nữ, có lẽ đó là tàn dư của dòng họ chế độ mẫu hệ Điều này cho thấy trong shaman giáo ở Nam Bộ, yếu tố giới được thể hiện khá rõ nét

+ Người Hoa ở Nam Bộ gọi các shaman “nhập xác” là “Ông Bổn” vì họ gọi theo danh xưng “Ông Bổn” mà họ đặt cho các vị thần được họ thờ ( như Phước Đức Chính thần, Huyền Thiên Thượng đế,…) Thực chất “Ông Bổn” là biểu tượng chung để chỉ Thổ thần , một dạng phúc thần có chức năng bảo vệ anh lành, đem lạiđời sống ấm no cho cư dân địa phương Người nào làm shaman Ông Bổn thường là

do “thần linh chọn” chứ không phải xuất phát từ ý muốn của người đó Ông Bổn của người Hoa luôn là nam giới, phù hợp với xã hội phụ hệ Một số nghi thức nhậpxác của shaman – Ông Bổn như cắt lưỡi vẽ bùa máu, xiên cây qua má, chạy trên lửa, ngồi trên ghế tua tủa dao nhọn cắm ngược, cầm đao nhảy lên mái ngôi đền,…

là những điều mà ngày thường không bao giờ ông ta thực hiện Ý nghĩa hoạt động cảu shaman – Ông Bổn chủ yếu liên quan đến vấn đề kinh tế, ví dụ trong vấn đề nuôi tôm hiện nay, vì việc thất bại trong nuôi tôm gần như đồng nghĩa với việc phásản, do đó, ngày mà cộng đồng thả tôm giống đều được shaman – Ông Bổn nhập xác đối thoại trực tiếp với “thần linh” để xin ngày tốt Ngoài ra shaman – Ông Bổn còn có nhiệm vụ tiếp xúc với “thần linh”để cầu an lành, sung túc cho cuộc sống cộng đồng

🡺 Qua tri thức bản địa về shaman giáo của người Khmer và người Hoa ở Nam Bộ cho ta thấy người Khmer sống trong môi trường thiên nhiên hoang dã, cuộc sống khó khăn, nhiều bất trắc nên còn dựa vào shaman, còn người Hoa do hoạt động kinh tế nuôi tôm còn bấp bênh nên họ tin vào bùa chú cúng kiếng và cầu viện tới thần linh qua vai trò nhập xác của shaman

e) Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

- Đức tin về linh hồn tổ tiên luôn gắn liền với quan niệm phổ biến rằng con người được tạo thành từ 2 phần: phần thể xác và phần linh hồn Nơi nào người dân có niềm tin vào linh hồn tổ tiên tồn tại thì nơi đó các “linh hồn” này được sự quan tâmtích cực và thậm chí còn được xem xét với tư cách là các thành viên trong xã hội

Ngày đăng: 13/12/2023, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w