1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn

14 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Quan Niệm Duy Vật Biện Chứng Về Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức, Từ Đó Xây Dựng Ý Nghĩa Phương Pháp Luận Chung Và Liên Hệ Với Thực Tiễn
Tác giả Trần Tất Thành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Triết Học Mác – Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

o0o BÀI TẬP LỚN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài số 3:

Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,

từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn.

Họ, tên SV : Trần Tất Thành

Mã SV : 11225825

Hà Nội - 11/2022

1

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

A – QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 4

I QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 4

1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng: 4

2 Vật chất: 4

a) Định nghĩa phạm trù vật chất: 4

b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất: 5

3 Ý thức: 5

a) Nguồn gốc của ý thức: 5

b) Kết cấu của ý thức: 6

c) Bản chất của ý thức: 6

II MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 6

1 Vật chất quyết định ý thức: 7

2 Ý thức tác động lại vật chất: 8

B – Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LIÊN HỆ TRONG THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG 9

I Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 9

II LIÊN HỆ THỰC TIỄN 10

1 Thực trạng trong học tập của sinh viên hiện nay: 10

a) Tfch cực: 10

b) Hạn chế: 10

2 Liên hệ sinh viên trong học tập và rèn luyện: 11

C KẾT LUẬN 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, nền kinh tế thế giới ngày càng hiện đại và phát triển Quá trình hội nhập và giao lưu ngày càng mở rộng hơn cho Việt Nam Với sự phát triển của Cách mạng khoa học - Công nghệ và xu hướng thế giới, Đảng và nhà nước cần tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện để ngày càng bước tiến trên con đường hội nhập quốc

tế trên nhiều lĩnh vực Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là làm sao để cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, theo đúng như những gì mà Bác Hồ mong mỏi: “ Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.” Tuy nhiên, làm thế nào để thực hiện tốt nhiệm vụ đó thì Đảng ta đã chỉ ra rằng phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chf Minh làm nền tảng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động Điều đó có nghĩa là chúng ta phải dựa trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác cũng như

tư tưởng mà Bác Hồ đã vạch ra để áp dụng vào thực tế hoàn cảnh xã hội đất nước hiện nay, tìm ra đường lối đúng đắn, phương châm phù hợp để phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hơn thế nữa, đối với thế hệ sinh viên hiện nay cũng rất cần áp dụng chủ nghĩa Mác-Lênin làm để phục vụ cho học tập, công việc, vận dụng vào đời sống để tìm ra những đường lối, cách thức đúng đắn để mang lại nhiều lợi fch cho bản thân mỗi sinh viên

Làm đề tài tiểu luận này, với tư cách là sinh viên em muốn cho mọi người hiểu hơn về triết học Mác – Lênnin phần chủ nghĩa duy vật biên chứng Cụ thể hơn

đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Mặt khác, chúng em cũng tìm hiểu, học hỏi về sự nghiệp cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác -Lênin Đây được coi là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trên con đường đi tới chủ nghĩa xã hội ở nước ta Chfnh vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ biện chứng và ý thức sẽ cho phép ta vận dụng nó vào mối quan

hệ giữa kinh tế và chfnh trị của đất nước giúp cho công cuộc phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn Trong bài tiểu luận dưới đây, em sẽ làm rõ quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ của vất chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và ứng dụng của nó trong thực tiễn hiện nay

3

Trang 4

NỘI DUNG

A – QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

I QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng:

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, V.I Lênin và những người kế tục ông bảo

vệ và phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ đầu khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại Tây Âu Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng của nhân loại

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng là trường phái triết học lớn Toàn bộ hệ thống quan điểm được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

2 Vật chất:

a) Định nghĩa phạm trù vật chất:

Định nghĩa vật chất của Lênin: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giá” [V.I Lênin (1980), Toàn tập, t.18 Sđd tr.151] Từ đó, ta rút ra được những vấn

đề cơ bản của vật chất Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người

đã nhận thức được hay chưa nhận thức được Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động trực tiếp hay gián tiếp vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác Thứ ba, vật chất là cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ảnh của nó

4

Trang 5

b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất:

- Phương thức tồn tại của vật chất chfnh là vận động Ăngghen định nghĩa:

“Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tfnh cố hữu của vật chất – thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trf đơn giản cho đến

tư duy” [C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, trang 751] Theo quan

niệm của Ăngghen, vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trf trong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”, vận động “là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tfnh cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại cụ thể của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động; và, sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vật chất Dựa trên thành tựu khoa học trong thời đại mình, Ăngghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ bản gồm vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hóa học, vận động sinh học và vận động xã hội

- Hình thức tồn tại của vật chất là không gian, thời gian Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trf nhất định, có một quảng tfnh nhất định tồn tại trong những mối tương quan nhất định với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,… Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian Ăngghen viết: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức

vô lý như tồn tại ngoài không gian” [C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994, tập 20, trang 78] Như vậy, vật chất, không gian,

thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại ngoài vật chất vận động

3 Ý thức:

a) Nguồn gốc của ý thức:

- Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là kết quả của quá trình phát triển lâu dài trong

tự nhiên, cho đến khi con người và bộ óc của họ xuất hiện và là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người Sẽ không có ý thức nếu không có bộ não người

và sự tác động của thế giới quan lên nó Ý thức được coi là chức năng của bộ não, hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn nếu như bộ não bị tổn thương Việc làm cho tự nhiên thfch nghi với nhu cầu phát triển của xã hội luôn gắn liền với sự phản ánh ý thức

5

Trang 6

- Nguồn gốc xã hội: Dưới ảnh hưởng của lao động, giao tiếp và các quan hệ

xã hội, bộ óc con người cũng được phát triển Con người cần lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu, phục vụ mục đfch bản thân và cải tạo tự nhiên, từ đó xã hội mới hình thành và phát triển Một xã hội không thể phát triển nếu như mỗi người chỉ lao động riêng lẻ mà cần có sự liên kết giữa người với người và từ đó, ngôn ngữ được

ra đời Tư tưởng của con người được thể hiện thành hiện thực trực tiếp, tác động đến giác quan của con người và tạo cảm giác qua ngôn ngữ Qua đó, con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau Ngôn ngữ

là phương tiện tối quan trong cho sự phát triển của xã hội loài người

b) K t c u c a ý ế ấ ủ th c: ứ

Giống như vật chất ý thức cũng có rất nhiều các quan niệm khác theo tùy từng trường phái khác nhau Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ý thức là đặc tfnh là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnh rằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc của con người và được cải biến, sáng tạo ở trong đó

c) Bản chất của ý thức:

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới

- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tfnh xã hội

II MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

“Sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế, trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và sau? Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa đằng sau sự đối lập đó là tương đối.”

[Lê-nin: Toàn tập, tập 18, NXB tiến bộ, Matcova, năm 1980, trang 173]

* Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình:

- Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tfnh thứ nhất

từ đó sinh ra tất cả; còn thế giới vật chất chỉ là tfnh thứ hai, là bản sao, biểu hiện khác của ý thức, do ý thức sinh ra

6

Trang 7

Discover more

from:

Document continues below

Triết 1

Đại học Kinh tế…

999+ documents

Go to course

Sơ đồ tư duy Triết chính thức

Triết 1 99% (114)

7

PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN…

Triết 1 100% (44)

12

Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t…

Triết 1 99% (91)

25

tóm tắt triết học Mac Lenin

Triết 1 100% (39)

58

TIỂU LUẬN TRIẾT 1

Triết 1 100% (34)

19

NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI

11

Trang 8

- Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hoá yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh một chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tfnh độc lập tương đối của ý thức, không thấy được tfnh năng động, sáng tạo, vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan

* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

1 Vật chất quyết định ý thức:

- Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định nguồn gốc ý thức Con người có mặt trên trái đất này với lịch sử từ 3 – 7 triệu năm, bản thân thế giới vật chất vĩ mô hơn con người cũng chỉ có lịch sử 4,5 tỉ năm, vũ trụ này cũng có lịch sử 13,8 tỉ năm Trong khi đó quan điểm về thế giới vật chất là vô cùng vô tận, không sinh không diệt không do ai sinh ra mà không ai có thể làm mất đi thế giới khách quan chúng ta không thể nào đếm được điểm khởi đầu của thế giới vật chất cũng như điểm kết thúc của nó Vì vậy, thế giới vật chất phải là cái có trước vũ trụ, vũ trụ phải có trước trái đất, trái đất phải có trước con người, mà con người là kết quả của một quá trình tiến hóa và phát triển lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên từ đó ý thức mới được sinh ra

- Như ta đã biết rằng, các yếu tố hợp thành nguồn gốc tự nhiên cũng như nguồn gốc xã hội của ý thức đều mang tfnh vật chất (bộ óc người – một dạng vật chất có tổ chức cao và sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người như: lao động, ngôn ngữ, ) Như vậy, yếu tố đầu tiên tạo nên ý thức đó là bộ não của con người, là một dạng vật chất Về thế giới khách quan, thực chất là thế giới vật chất, còn bản chất của ý thức chỉ là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người Nếu không có thế giới khách quan thì bộ óc của con người không có đối tượng để phản ánh và do đó cũng sẽ không có ý thức Để khẳng định cho điều đó, Ăngghen đã nói rằng “Trf tuệ con người phát triển song song với

việc con người học cải biến tự nhiên” [C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 23, trang 78] Yếu tố thứ hai tạo nên ý thức

đó là lao động Mà lao động chfnh là hoạt động vật chất mang tfnh tất yếu nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người Nhờ lao động mà con người có thể chủ động tác động vào thế giới khách quan làm cho nó bộc lộ những thuộc tfnh, kết cấu, bản chất, quy luật vận động Qua đó phản ánh vào bộ óc người, hình thành nên những tri thức về tự nhiên, xã hội Yếu tố thứ ba cấu tạo thành nguồn gốc của ý

7

Triết 1 100% (35)

Trang 9

thức là ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tfn hiệu vật chất nhưng mang nội dung ý thức và C.Mác đã từng khẳng định rẳng: “Ngôn ngữ chfnh là lớp vỏ vật chất của tư duy” và sự hoàn thiện ngôn ngữ cũng chfnh là điều kiện để con người ta hoàn thiện

tư duy của mình Trên cơ sở phân tfch bốn yếu tố tạo thành hai nguồn gốc của ý

thức, cho phép chúng ta khẳng định lại một lần nữa: Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định nguồn gốc ý thức.

- Vật chất quyết định đến nội dung và mọi sự biến đổi của ý thức, hay nói

cách khác, điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức của con người sẽ như thế đó Như đã khẳng định ở trên, bản chất của ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não của con người Để khẳng định điều đó, C.Mác đã từng nói rằng “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào

trong đầu óc của con người và được cải biến đi trong đó” [C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 23, trang 35] Bản thân của ý

thức chfnh là sự phản ánh mà quá trình phản ánh tức là quá trình thông tin, nghĩa là vật nhận tác động bao giờ cũng chứa thông tin từ vật tác động Vf dụ: Khi ta quan sát một cây thông, bộ não của chúng ta ngay lập tức sao lại, chụp lại, chép lại hình ảnh của cây thông, và tất nhiên hình ảnh đó tồn tại trong bộ não của chúng ta là thông tin về cây thông chứ không phải là thông tin về chiếc cây khác Dù ta đang nói đến cây thông nhưng thực tế trước mặt ta không có cây thông nào, nhưng hình ảnh của cây thông mà chúng ta đã nhìn thấy đã hiện diện trong bộ não của chúng ta

Đó chfnh là quá trình phản ánh thông tin Vì sự phản ánh thế giới khách quan thế giới vật chất nên nó sẽ mang hình ảnh của thế giới vật chất chứa đựng những đặc điểm, quy luật của thế giới vật chất Ý thức không bao giờ là sản phẩm thuần túy

do con người ta tưởng tượng ra, hay nói cách khác, con người dù giàu óc tưởng tượng đến đâu đi chăng nữa thì không thể thoát li ra khỏi đời sống vật chất, không thể nghĩ ra được những thứ mà nó không có xuất phát từ điều kiện vật chất Do vậy, toàn bộ nội dung của ý thức đều do điều kiện vật chất quyết định

2 Ý thức tác động lại vật chất:

Chủ nghĩa Mác không bao giờ xem thường vai trò của ý thức dù khẳng định vật chất quyết định ý thức Quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải là quan hệ một chiều mà là quan hệ tác động qua lại Ý thức có tfnh độc lập tương đối nên có

sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Nói tới vai trò của ý thức tức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là của con người, bản thân của ý thức tự nó không thể làm thay đổi gì hiện thực

8

Trang 10

C.Mác nói: “… lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bởi lực lượng vật chất…” Ý thức tác động trở lại vật chất theo hai hướng: Ý thức, tư tưởng có thể

quyết định làm sao con người hoạt động đúng và thành công khi nó phản ánh đúng

và sâu sắc thế giới khách quan, nó sẽ thúc đẩy thế giới vật chất phát triển nhanh vì

đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chfnh xác Cụ thể, năm vừa qua trước tình trạng diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid 19 nhà nước ta đã có những biện pháp ngăn chặn và tiêm phòng kịp thời nên

đã đẩy lùi được dịch bệnh Bên cạnh đó, nếu theo hướng tiêu cực, ý thức, tư tưởng

có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan, nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất Điển hình là hiện nay rất nhiều em học sinh học giỏi nhưng từ khi bước chân vào đại học không cưỡng lại được những cám dỗ đã không làm chủ được mình mà sa vào tệ nạn Như vậy, bằng cách định hướng hoạt động của con người, ý thức có thể quyết định hành động của con người, hoạt động thực tế của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại …

B – Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LIÊN HỆ TRONG THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG

I Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Trong mọi hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời phát huy tfnh năng động chủ quan Cụ thể:

+ Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: Đòi hỏi con người trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật nhận thức và hành động theo quy luật, từ đó xác định mục đfch, kế hoạch, các biện pháp cụ thể không được lấy ý chf áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược + Phát huy tfnh năng động chủ quan: Đòi hỏi con người phải phát huy vai trò tfch cực, năng động sáng tạo của ý thức, không ngừng học tập, nắm vững tri thức khoa học để có thể nắm bắt bản chất, quy luật của thế giới khách quan; không ngừng tu dưỡng đạo đức, trau dồi tình cảm; không ngừng luyện ý chf để có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tránh sự ỷ lại, thụ động, bảo thủ, nhất là trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay

9

Ngày đăng: 12/12/2023, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN