Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức không chỉ là căn cứ cơ bản để xác định trường phái triết học lớn trong lịch sử, mà còn mang tính định hướng cho m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI SỐ 3 Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức Từ đó, liên hệ với thực tiễn
Họ và tên SV: Nguyễn Thị Thu Vân
Mã sinh viên: 11226862
Lớp học phần: LLNL1105(122)_19
KHÓA: 64 - GĐ: D202
Hà Nội – 11/2022
1
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất và ý thức 4
a) Quan điểm về vật chất 4
b) Quan điểm về ý thức 5
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 6
a) Vật chất quyết định ý thức 7
b) Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 9
c) Ý nghĩa phương pháp luận chung 11
3 Liên hệ từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vào thực tiễn 12
PHẦN KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
2
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Will Durant – nhà sử học, triết gia và tác giả người Hoa Kỳ từng chia sẻ:
“Khoa học cho chúng ta tri thức, nhưng chỉ có triết học mới cho chúng ta sự thông thái” Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, con người đã đúc kết được những tri thức văn
hóa, phát triển thành khoa học với những phát minh, tiến bộ vượt bậc Dựa trên cơ sở kho tàng tri thức phong phú, đa dạng với sự phát triển tương đối cao của sản xuất xã hội, phân công lao động xã hội hình thành, của cải tương đối dư thừa, tư hữu hóa tư liệu sản xuất được luật định, triết học ra đời đóng vai trò như nền tảng lí thuyết cho mọi khoa học khác trên thế giới Trong đó, sự ra đời của triết học Mác-Lênin được ví như hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật – chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được những sai lầm và hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình, từ đó đưa ra những quan điểm triệt để, hoàn bị
về bản nguyên của thế giới và giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, làm tiền đề xác định thế giới quan
Hơn hết, nghiên cứu về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại (hay vật chất và ý thức) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức không chỉ
là căn cứ cơ bản để xác định trường phái triết học lớn trong lịch sử, mà còn mang tính định hướng cho mọi hoạt động thực tiễn của cá nhân nói riêng và toàn bộ nhân loại nói chung nhằm xây dựng và phát triển xã hội, đất nước Với mục tiêu hàng đầu là phát triển đất nước theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng một đất nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới” [Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam, 1945], Đảng và Nhà nước đã xác định mục tiêu nhận thức và đường lối, chính sách phù hợp nhất với đặc điểm tình hình phát triển của đất nước ta Trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” [Cương lĩnh xây dựng đất nước] Theo cách nói
dễ hiểu hơn, Đảng và Nhà nước đã vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và
ý thức vào giải quyết những vấn đề kinh tế và chính trị để xây dựng đường lối phát triển kinh tế xã hội giúp đất nước phát triển bền vững, nâng cao chất lượng sống cho người dân
Hiểu được tầm quan trọng của những lí luận triết học mang tính nền tảng, định hướng tư duy và hành động, cùng với mong muốn cống hiến một phần sức lực vào công cuộc kiến thiết, cải thiện đất nước, em lựa chọn tìm tòi, nghiên cứu sâu vào chuyên đề chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung và mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức nói riêng Đó là cơ sở để em chọn đề tài số 3: “Phân tích quan niệm duy vật
3
Trang 4biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Từ đó, liên hệ với thực tiễn”
làm đề tài nghiên cứu tiểu luận
PHẦN NỘI DUNG
1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất và ý thức
a) Quan điểm về vật chất
Trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khả tri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc, C.Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra những
tư tưởng vô cùng quan trọng về vật chất Ăngghen cho rằng: “Vật chất, với tư cách
là vật chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta
bỏ qua những sự khác nhau về chất của sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tư cách
là những vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất Do đó, khác với những vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính” [C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Sđd, t.20, tr.751,737] Ph Ăngghen
cũng chỉ ra rằng, các sự vật, hiện tượng dù rất phong phú, muôn màu, muôn vẻ nhưng chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất là tính vật chất – tính tồn tại độc lập không lệ thuộc vào ý thức
Kế thừa những tư tưởng của những bậc thiên tài đi trước, V.I Lênin đã tổng kết
và đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa phạm trù vật chất Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I Lênin
đã đưa ra định nghĩa về vật chất một cách mới mẻ và phản ánh các khía cạnh duy vật
và lý luận rõ ràng: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [V.I Lênin, Toàn tập,
Sđd, t.18, tr.171,151]
Định nghĩa của V.I Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại bên ngoài ý thức và
không lệ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được Ví dụ như: không khí, hành tinh, trái đất, vũ trụ, nhiệt lượng là những vật chất tồn tại khách quan tồn tại bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức của con người
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem
lại cho con người cảm giác Con người khi cảm nhận sự vật, hiện tượng có thể bằng cách gián tiếp hoặc trực tiếp, thông qua các giác quan hoặc các dụng cụ thí nghiệm
4
Trang 5khoa học, thậm chí có cái đến bây giờ vẫn chưa có cách nhận biết; nhưng nó vẫn được coi là vật chất nếu nó tồn tại khách quan, hiện thực ở bên ngoài, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức của con người
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó Chỉ có
một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần Còn các hiện tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức ) lại luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì
có được chỉ là sự chép lại, chụp lại, bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan
Như vậy, có thể thấy rằng định nghĩa của V.I Lênin vô cùng triệt để, hoàn bị,
có ý nghĩa quan trọng trong việc bác bỏ thuyết “bất khả tri”; đồng thời, khuyến khích các nhà khoa học đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất, góp phần làm giàu kho tàng tri thức nhân loại Ngày nay, khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn ngày càng phát triển với những khám phá mới càng khẳng định tính đúng đắn của quan niệm duy vật biện chứng về vật chất, chứng tỏ quan niệm của V.I Lênin vẫn giữ nguyên giá trị Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngày càng khẳng định vai trò là hạt nhân của thế giới quam, phương pháp luận đúng đắn của các nhà khoa học hiện đại
b) Quan điểm về ý thức
Nếu chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng “ý niệm” là cái có trước, sáng tạo
ra thế giới thì C.Mác lại khẳng định “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”[C.Mác và
Ăngghen, Toàn tập, Sđd, t.23, tr.35] Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Vì vậy,
để hiểu đúng nguồn gốc về ý thức cần xem xét nó trên cả hai mặt của vấn đề
Thứ nhất, xét về nguồn gốc tự nhiên, ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất,
nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao nhất là bộ óc người Hoạt động của ý thức chỉ xảy ra trên cơ sở của não người Nếu não người bị tổn thương một phần hay toàn bộ thì hoạt động của
ý thức cũng bị ảnh hưởng theo Tuy nhiên, chỉ con người mới tồn tại ý thức vì bộ óc người có cấu trúc đặc biệt phát triển rất tinh vi và phức tạp Khi tiếp nhận nguồn thông tin ở thế giới khách quan, não bộ và hệ thống dây thần kinh sẽ liên hệ với các giác quan để thu nhận thông tin và xử lí, hình thành những phản xạ có điều kiện và không có điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài
5
Trang 6Thứ hai, nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ Nếu sự phát
triển của giới tự nhiên chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức, thì hoạt động thực tiễn của con người thể hiện qua lao động xã hội và ngôn ngữ mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức Trải qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài của con người, các phương pháp, cơ sở tư duy khoa học dần được hình thành, phát triển giúp nhận thức của con người về thế giới ngày càng cải thiện và sâu sắc hơn Là phương thức tồn tại cơ bản của con người, lao động xã hội làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội Chính nhu cầu đó làm cơ sở
hình thành nên trung tâm ngôn ngữ và bộ máy phát âm trong bộ óc con người Như vậy, lao động và ngôn ngữ đóng vai trò thúc đẩy quá trình tiến hóa của con người,
hình thành nên ý thức Ý thức là sự phản ánh thực tại khách quan của bộ óc con người trên nền tảng mối quan hệ mật thiết với thực tiễn xã hội
Tóm lại, xem xét trên hai nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức cho thấy ý
thức xuất hiện là kết quả của hành trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và lịch sử trái đất; đồng thời, là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội – lịch sử con người Khi nghiên cứu về bản chất ý thức, cần xem xét cả hai mặt tự nhiên và xã hội để tránh cái nhìn phiến diện, sai lầm, không hiểu được thực chất của hiện tượng ý thức, tinh thần loài người nói chung và mỗi người nói riêng
Từ nguồn gốc tự nhiên và xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng luận giải một
cách khoa học về bản chất của ý thức là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,
là quá trình phản ánh tich cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người” [V.I
.Lênin, Toàn tập, Sđd, t.18, tr.138] Ý thức phụ thuộc vào thực tế khách quan, phản ánh nội dung, tri thức về thực tại khách quan nhưng được “ghi lại” bằng lăng kính chủ quan của mỗi người Vì thế, ý thức không phải sự vật mà chỉ là “hình ảnh” của sự vật được thu lại trong óc người, mang tính chủ quan của người tiếp nhận Cùng một đối tượng phản ảnh nhưng với các chủ thể phản ánh khác nhau có kiến thức, kinh nghiệm, năng lực, hoàn cảnh lịch sử khác nhau thì kết quả phản ánh trong ý thức cũng khác nhau Ngoài ra, ý thức còn có đặc tính tích cực, sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội Khi tiếp cận thực tại khách quan, song song với việc ghi lại trong
ý thức, con người còn có khả năng sáng tạo ra những cái mới không có trong thực tại khách quan Bởi vì ý niệm chẳng qua là cái khách quan được di chuyển dưới hình thức các dòng vật chất mang thông tin vào bộ óc người và được cải biến đi ở trong
đó
Như vậy, ta khẳng định rằng: bản chất của ý thức là phụ thuộc vào thực tế
khách quan để tiếp nhận thông tin, tri thức bằng lăng kính chủ quan để từ đó cải biên thông tin và sáng tạo nên những cái mới, làm tiền đề phát triển xã hội
6
Trang 7Discover more
from:
TLTHK31
Document continues below
Tiểu luận triết
học
Đại học Kinh tế…
33 documents
Go to course
Trang 82 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Quan điểm triết học Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đã khắc phục được những sai lầm, hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình
để đưa ra những khái quát đúng đắn về mặt triết học trên hai lĩnh vực lớn nhất của thế giới là: vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, “vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất”
a) Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất với ý thức được thể hiện trên các khía cạnh sau:
*Vật chất mang tính chất quyết định nguồn gốc của ý thức:
Lê- Nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù
vật chất “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại phản ánh và được tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [V.I Lênin, Toàn tập, Sđd, t.18,
tr.171,151] Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan được cảm giác ghi chép lại trong bộ não con người và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Thật vậy, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định nội dung của ý thức
Thứ nhất, sự ra đời của ý thức gắn liền với nguồn gốc tự nhiên là sự hình
thành và phát triển ở trình độ cao của não bộ và hệ thống các dây thần kinh của con người Nói cách khác, phải có thế giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con người thì mới tạo ra được ý thức – sự tương tác giữa não bộ và thế giới thực tại khách quan Giả dụ, trong một số trường hợp hi hữu, bộ não khi sinh ra của một vài người không hoạt động được hay không có bộ não thì không thể nào có ý thức Cũng giống như câu chuyện về “cậu bé rừng xanh” sống cùng bầy sói từ khi còn bé, không được tiếp xúc với nền văn minh nhân loại nên khi quay trở về xã hội cũng không thể hòa nhập với loài người và hoàn toàn không có ý thức [VN EXPRESS, 2021]
Thứ hai, nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động thực tiễn và hệ thống ngôn
ngữ, mà trong đó, vật chất là tiền đề để xây dựng và phát triển những yếu tố đó Từ những vật chất tồn tại khách quan không phụ thuộc vào cảm giác, con người tiếp nhận thông tin, hình ảnh rồi truyền vào bộ não để xử lí, ghi lại, chép lại và tạo nên những tri thức mới của nhân loại Vật chất có trước, quyết định ý thức, vì thế khi lao động là con người đang tương tác với vật chất và sáng tạo nên hệ thống ngôn ngữ dựa
7
Tiểu luận Triết học -triết học
Tiểu luận triết học 100% (4)
17
Tiểu-luận - thầy sinh Tiểu luận
triết học 100% (4)
14
Tiểu luận Triết Tiểu luận triết học 100% (3)
16
Bài làm kiểm tra tự luận PTTC (E-… Tiểu luận triết học 100% (1)
7
Triết - Tiểu luận Triết học - Mác Lênin Tiểu luận triết
16
TIEU LUAN Triet HOC
- Tiểu luận triết học Tiểu luận triết
2
Trang 9vào tri thức sẵn có để giao tiếp và kết nối với nhau Chính vì thế, ngôn ngữ là cầu nối
để trao đổi kinh nghiệm, tình cảm hay là phương tiện để thử hiện ý thức Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc xã hội đóng vai trò quan trọng hơn trong việc hình thành nên ý thức
Như vậy, vật chất “sinh” ra ý thức, bởi lẽ con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra nên theo lẽ tự nhiên thì ý thức – một thuộc tính của con người – cũng là do vật chất sinh ra Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc của ý thức, điều này đã được các thành tựu khoa học của con người chứng minh Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình hoạt động khách quan, nếu bộ não mất chức năng hoạt động thì không thể có ý thức Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người
*Vật chất quyết định nội dung của ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, cho dù ở dưới bất kỳ hình thức nào, suy cho cùng, ý thức luôn là sự phản ảnh của hiện thực khách quan trong đời sống Vì thế, nội dung của ý thức chẳng qua chỉ là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan trong bộ não của con người Hay nói cách khác, có thế giới hiện thực biểu hiện bằng vật chất vận động và phát triển theo các quy luật khách quan được phản ánh vào ý thức thì mới có nội dung của ý thức Trong đó, nội dung mà ý thức phản ảnh được quyết định bởi những hoạt động thực tiễn mang tính xã hội – lịch
sử của loài người, được gọi là thế giới khách quan Sự phát triển của các hoạt động thực tiễn về mọi mặt trong cả bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phong phú, sâu sắc của nội dung phản ánh bởi tư duy và ý thức con người qua các thời kì
*Vật chất quyết định bản chất của ý thức:
Trong bản chất của ý thức, phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không thể tách rời nhau Tuy nhiên, sự phản ánh hiện thực khách quan của con người không phải là hoạt động “chụp ảnh”, “soi gương” hoặc là “phản ánh tâm lí” như con vật mà sau khi tiếp nhận thông tin, bộ não của con người còn tích cực xử lí, phản ánh, sáng tạo thông qua thực tiễn khách quan Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất như những sự vật, hiện tượng cảm tính, không có mối liên hệ với nhau; chủ nghĩa duy vật biện chứng coi thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn, gắn bó mật thiết không tách rời Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người – là cơ sở hình thành và phát triển ý thức, trong
đó ý thức con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo
8
Trang 10*Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức:
Trước hết, ta phải khẳng định, vật chất luôn vận động vì vận động luôn là phương thức tồn tại của vật chất Nói cách khác, vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của nó với các hình dạng phong phú, muôn màu, muôn vẻ, vô tận Khi vật chất thay đổi thì sớm hay muộn ý thức cũng phải thay đổi theo, bởi lẽ mọi sự tồn tại và phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất Con người – một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất lẫn tinh thần thì dĩ nhiên ý thức – một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về mặt nội dung và hình thức phản ánh Sự phát triển của đời sống xã hội song song với nền văn minh và khoa học ngày càng tiến bộ là minh chứng cho sự vận động, phát triển không ngừng của ý thức nhờ vào những thành tựu, tri thức thời đại
Dưới đây là một ví dụ cho sự vận động, phát triển của ý thức con người phụ thuộc vào vật chất, tri thức thời đại:
Trong thời kì đồ đá cũ và giữa kéo dài hàng chục vạn năm, sự phát triển xã hội, tri thức còn hạn chế về nhiều mặt nên loài người nguyên thủy chỉ có thể nhận thức về đời sống ở mức thô sơ, đơn giản Vì chưa được phổ cập kiến thức về các công cụ lao động hiện đại, nên loài người thời kì đồ đá chỉ sử dụng vật dụng đơn sơ như đồ đá nhỏ, sau này xuất hiện những chế tạo tinh vi hơn là những lưỡi dao, mũi giáo, nạo gọt
Sang thời kì đồ đá mới (khoảng 6.000 năm trước công nguyên), với sự phát triển hơn về ý thức, con người đã nâng cấp công cụ lao động lên thành đá mài Lúc này, ý thức của con người phát triển cao hơn so với thời kì trước nhờ sự khai phá của nhiều tri thức, vật chất mới hiện đại hơn
Đến thời kì hiện đại, nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ, mọi hoạt động thực tiễn đời sống như trồng trọt, xây dựng, chăn nuôi ngày càng được cải tiến phù hợp hơn với sự phát triển vượt bậc của trí tuệ, nhận thức con người Loài người đã học được cách áp dụng tiến bộ khoa học, máy móc hiện đại vào công việc để nâng cao năng suất lao động Nhờ đó, nền kinh tế xã hội dần phát triển và trở nên phồn thịnh hơn
b) Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản
ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy
9