Kể từ khi ra đời, phép biện chứng duy vật trở thành công cụ nhận thức khoa học, sắc bén của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của nhân loại tiến bộ trong công cuộc nhận thức, cải tạ
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
… 0O0…
BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài số 03:
Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức Liên hệ với thực tiễn.
Trang 2Hà Nội – 11/2022
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Lý luận chung nhất về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 2
1 Hiểu rõ khái niệm vật chất và ý thức 2
1.1 Vật chất là gì ? 2
1.2 Ý thức là gì ? 2
2 Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: 3
2.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức 3
2.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất 5
3 Ý nghĩa phương pháp luận 6
II Liên hệ thực tiễn - nhận thức đối với việc học tập của sinh viên 6
KẾT LUẬN 10
TƯ LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4MỞ ĐẦU
Bằng việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trên nền tảng thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, chủ nghĩa duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin
là chủ nghĩa duy vật biện chứng Đây là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, là hạt nhân lý luận của thế giới khoa học Kể từ khi ra đời, phép biện chứng duy vật trở thành công cụ nhận thức khoa học, sắc bén của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của nhân loại tiến bộ trong công cuộc nhận thức, cải tạo
tự nhiên và xã hội; là chìa khóa giúp con người mở cánh cửa rộng lớn để hiểu đúng
về thế giới, trên cơ sở đó cải biến thế giới vì sự phát triển của xã hội loài người Trong đó, hạt nhân của phép biện chứng duy vật chính là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, bởi những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng, phát triển xã hội
Từ quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà
ta liên hệ với thực tiễn – nhận thức đối với việc học tập của sinh viên Và sau đó là
áp dụng quan niệm nhằm rút ra bài học để việc học của sinh viên phát triển theo một chiều hướng tích cực, đúng đắn, hiệu quả hơn
Thực hiện các yêu cầu bộ môn cần thiết, em đã nghiên cứu và cho ra đời tập
“Bài tập lớn môn Triết học Mác-Lênin” để phục vụ cho quá trình học tập bộ môn này Trong quá trình nghiên cứu và làm bài em đã kế thừa nội dung cuốn Giáo trình Triết học Mác-Lênin và tìm tòi thêm tài liệu trên các trang mạng uy tín để làm rõ
đề tài : “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Liên hệ với thực tiễn.” Từ đó mang hị vọng có thể một phần nào đó đóng góp công sức nhỏ bé của mình vào quá trình nhìn nhận, đánh giá lại việc học tập của mình cũng như ở các đối tượng sinh viên khác
Sau một thời gian dài, bài làm của em đã hoàn thành một cách đầy đủ nhất những khía cạnh liên quan đến đề tài Tuy nhiên do những hạn chế khách quan và chủ quan nên vẫn cần được chỉnh sửa và hoàn thiện hơn nữa Em sẽ tích cực nhận lời góp ý từ thầy và chỉnh sửa bài làm một cách hoàn hảo nhất
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô !
Trang 5NỘI DUNG
I Lý luận chung nhất về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1 Hiểu rõ khái niệm vật chất và ý thức
1.1 Vật chất là gì ?
Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về vật chất đứng trên các giác độ khác nhau Nhưng theo Lênin định nghĩa: “ Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà cho đến nay các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển
Lênin đòi hỏi phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, nó chỉ
ra tất cả những gì tác động đến ý thức của chúng ta, giúp hiểu biết các hiện tượng Vật chất là hiện thực khách quan, tồn tại bên ngoài không phụ thuôc vào cảm giác,
ý thức của con người
Định nghĩa vật chất của Lênin cũng giúp chúng ta - nhân tố vật chất trong đời sống xã hội, đó là tồn tại xã hội, và nó cũng có ý nghĩa trực tiếp định hướng trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâu vào nghiên cứu dạng cụ thể của vật chất trong giới vĩ mô Nó cũng giúp chúng ta có thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan trong suy nghĩ và hành động
1.2 Ý thức là gì ?
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì ý thức là sự phản ánh một cách năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ não con người thì tự nhiên trở thành ý thức Mặt khác, ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, với hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị giới tự nhiên của con người
Trang 6và trở thành mặt không thể thiếu được của hoạt động đó Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ, nó không chụp lại một cách thụ động, nguyên si sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tác động vào thế giới để phản ánh thế giới đó Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời Không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo Ngược lại không có sự sáng tạo thì không phải là sự phản ánh ý thức Đó là mối quan hệ giữa hai quá trình thu nhận xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức Do đó, ý niệm (ý thức) chẳng qua cũng chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biên đi ở trong đó (định nghĩa về ý thức của C Mác)
2 Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Theo quan niệm duy vật biện chứng, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau ( tác động qua lại lẫn nhau ) thông qua thực tiễn; trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất; suy đến cùng thì vật chất giữ vai trò quyết định
2.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên những khía cạnh sau:
2.1.1 Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất là nguồn gốc của ý thức Ý thức là cái nằm trong con người.Nhưng sự ra đời của con người cũng có giới hạn, còn thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn vô hạn, vô tận Nên có thể khẳng định vật chất có trước ý thức
Ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây 3-7 triệu năm, mà con người là kết quả của quá trình phát triền lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên Con người do giới tự nhiên sinh ra nên tất nhiên ý thức con người cũng do giới tự nhiên sinh ra Cac-Mác từng viết rằng: Trí tuệ con người phát triển song song với việc con người học cải biến tự nhiên Bộ óc con người một dạng vật chất
có tổ chức cao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ
Trang 7Discover more
from:
Document continues below
Triết 1
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Sơ đồ tư duy Triết chính thức
Triết 1 99% (114)
7
PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN…
Triết 1 100% (44)
12
Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t…
Triết 1 99% (91)
25
tóm tắt triết học Mac Lenin
Triết 1 100% (39)
58
TIỂU LUẬN TRIẾT 1
Triết 1 100% (34)
19
NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI
11
Trang 8thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan Do vậy sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của ý thức con người
2.1.2 Vật chất quyết định nội dung của ý thức
Khi điều kiện vật chất thay đổi thì ý thức con người sớm muộn cũng thay đổi theo Ý thức dưới bất kì hình thức nào đều phản ánh hiện thực khác quan Thật vậy, Các-mác từng nói: Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi trong đó Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu
óc con người Hay nói cách khác, có thế giới hiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của
ý thức
2.1.3 Vật chất quyết định bản chất của ý thức
Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không thể tách rời của ý thức Nhưng
sự phản ánh của con người không phải là “soi gương”,”chụp ảnh” hoặc là “phản ánh tâm lí” mà là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới con người, là cơ sở để hình thành và phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
Để hiểu rõ hơn các vấn đề trên, chúng ta tìm hiểu ví dụ sau: Trong quá trình lao động thì cha ông ta đúc kết được các kinh nghiệm: Chuồn chuồn bay thấp thì mưa bay cao thì nắng bay vừa thì râm; kiến đen tha trứng lên cây; Tháng bảy kiến
bò chỉ lo lại lụt; Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa,… Những kinh nghiệm này không phải do cha ông ta tự suy diễn ra Nó có từ: Đều được hình thành trên cơ sở quan sát trực tiếp các hiện tượng diễn ra trong thế giới vật chất có tính khách quan Vật chất quyết định đến sự vận động và phát triển của ý thức
2.1.4 Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Mọi sự tồn tại, phát triền của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn ý thức cũng phải thay đổi theo Con người – một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất lẫn tinh thần thì dĩ nhiên, một hình thức phản ảnh bộ óc con người cũng phát triển cả nội dung lần hình thức phản ánh của nó Đời sống xã hội ngày càng văn minh và khoa học ngày càng phát triển đã chứng minh điều đó Tất cả những thành tựu khoa học đều được khám phá từ những sự thật hiển nhiên, những vấn đề hoàn toàn khách quan
Triết 1 100% (35)
Trang 9diễn ra trong thế giới vật chất; đỉnh cao là sự hình thành và phát triển không ngừng
lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin
2.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức là sự phản
ánh thế giới vật chất vào đầu óc con người nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, không lệ thuộc máy móc vào vật chất mà tác động trở lại thế giới vật chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, song hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động
thực tiễn của con người Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biễn đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất để phục vụ cho cuộc sống con người.Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ
đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ chỉ đạo hoạt động, hành động của
con người, nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại Ý thức không trực tiếp tạo ra hay làm thay đổi thế giới mà
nó trang bị cho con người tri thức về hiện tượng khách quan để con người xác định mục tiêu, kế hoach, hành động nên làm Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng:
- Tích cực: Khi phản ánh đứng đắn hiện thực, ý thức sẽ là động lực thúc đẩy vật chất phát triển
- Tiêu cực: Khi phản ánh sai lạc hiện thực, ý thức có thể kìm hãm sự phát triển của vật chất
Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là
trong thời đại ngày nay, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn nhưng không thể vượt quá tính quy định của những tiền đề vật chất đã xác định, phải dựa vào các điều kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động Nếu quên điều
Trang 10đó chúng ta sẽ lại rơi vào “vũng bùn” của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ý chí, phiêu lưu và không tránh khỏi thất bại trong hoạt động thực tiễn
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức nói trên cho thấy quan điểm có tính nguyên tắc chung của giải quyết các vấn đề nhận thức, thực tiễn cần xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phát huy nhân tố chủ quan trong phạm vi khách quan nhằm tạo ra các sáng tạo trong giải quyết các vấn
đề nhận thức thực tiễn
Xuất phát từ thực tế khách quan là như thế nào ? Là xuất phát từ những điều kiện khách quan có thể được tuân theo các quy luật khách quan Mọi nhận thức, hành động, chủ trương, đường lối kế hoạch, mục tiêu đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có Cần tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủ quan duy ý chí
Phát huy nhân tố chủ quan: Là nghiên cứu, phát hiện tạo ra các nhận tố chủ quan đặc biệt là các nhân tố tri thức và huy động các nhân tố vào việc giải quyết các vấn đề tạo ra Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của nhân tố con người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác
tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, việc phát huy các nhân tố chủ quan nhất định phải dựa trên cơ sở khách quan và tuân theo quy luật khách quan mới đảm bảo tính khả thi của nó nếu không như vậy sẽ sa vào sai lầm trong việc xử lí tình huống
Giả định trong phạm vi điều kiện khách quan không đổi, nếu yếu tố chủ quan tăng lên về chất và lượng thì khả năng sáng tạo trong giải quyết vấn đề cũng
sẽ tăng lên Vì vậy trong điều kiện các nguồn lực tài nguyên phát triển ngày càng khan hiếm hơn nữa thì giải pháp tối ưu cho sử dụng phát triển kinh tế chỉ có thể là đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo
II Liên hệ thực tiễn - nhận thức đối với việc học tập của sinh viên
Tư duy biện chứng duy vật có vai trò to lớn đối với việc nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người nói chung và sinh viên nói riêng Cụ thể là, nó giúp
Trang 11sinh viên khắc phục lối tư duy siêu hình, phiến diện, để có thể xem xét đối tượng một cách đúng đắn, toàn diện; khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ định kiến về cái mới; tránh sự phản đoán thiếu cơ sở khoa học và nguy cơ rơi vào ảo tưởng; nhìn nhận đối tượng một cách khách quan và khoa học; giúp việc học tập nghiên cứu các môn khoa học khác có hiệu quả hơn, đồng thời có khả năng gắn kết
lý luận với thực tiễn, gắn học với hành
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức, cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, đòi hỏi nền Giáo dục Việt Nam nói chung và Giáo dục Đại học nói riêng phải đào tạo được đội ngũ những công chức, những nhà khoa học, những nhà kĩ sư, bác sĩ,… giỏi về chuyên môn, có khả năng vận dụng tri thức khoa học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả nhất Để nâng cao chất lượng Giáo dục Đại học, cụ thể là trang bị cho sinh viên tri thức khoa học, năng lực kết hợp lý luận với thực tiễn, gắn học đi đối với hành, cần phải có nhiều biện pháp tích cực và đồng bộ, đặc biệt là bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tư duy biện chứng duy vật Nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngay từ khi bước vào bậc đại học, sinh viên phải được rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy biện chứng
để việc học tập, tiếp thu và tích lũy tri thức có hiệu quả; đồng thời có khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra
Thứ nhất, vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan Đầu tiên, bản thân mỗi người phải tự xác định được các điều kiện khách quan ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống học tập của bản thân Là sinh viên năm nhất, học theo chế tín chỉ, tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì tôi nhận thấy trường đã có đầu tư vào cơ sở vật chất và đang ngày dần hoàn thiện đáp ứng các nhu cầu của sinh viên Hệ thống các phòng học với đầy đủ các trang thiết bị như: máy chiếu, mic, loa, phấn , bảng, phục vụ cho quá trình giảng dạy của giảng viên cũng như việc học tập của sinh viên Nhà trường cũng đã đẩy mạnh chuyển đổi số ở trường học: sử dụng hệ thống LMS ( Learning Management System ) trong việc quản lí tài liệu học tập, gửi tài liệu đến sinh viên cũng như thông báo các bài kiểm tra online để tiện đánh giá khả năng học tập, tiếp thu của sinh viên; áp dụng hệ thống thư viện điện tử dùng chung VNEUS giúp sinh viên dễ dàng tìm kiếm các đầu sách, tài liệu tham khảo, tiện theo dõi, đăng kí các phòng tự học trên thư viên bằng cách đăng kí online Tuy nhiên bên cạnh đó, còn tồn tại một số vấn đề như khu để xe của sinh viên chưa được quy hoạch, điều chỉnh nên thường xuyên xảy ra tình trạng tắc nghẽn tại các