1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quanhệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn

17 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn
Tác giả Nguyễn Ngọc Ninh Giang
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một sinh viên, một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, em muốn tìm hiểu kĩ hơn về Triết hoc Mác – Lênin, cụ thể là tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa v

Trang 1

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

-oOo-BÀI TẬP LỚN

TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề tài số 3

Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn

Nguyễn Ngọc Ninh Giang – MSV: 11217012 Lớp: Triết học Mác – Lênin (221)_05

Hà Nội – 04/2022

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

1 Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 4

1.1 Vật chất 4

1.1.1 Phạm trù vật chất 4

1.1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 5

1.1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới 6

1.2 Ý thức 6

1.2.1 Kết cấu và nguồn gốc của ý thức 6

1.2.3 Bản chất của ý thức 7

1.3 Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 8

1.3.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức 8

1.3.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất 10

1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 11

2 Liên hệ thực tiễn 12

2.1 Trong kinh tế - chính trị 12

2.2 Trong thời kỳ đổi mới đất nước 13

2.3 Trong học tập và cuộc sống của bản thân 14

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nước ta bắt đầu đi vào giai đoạn đi lên Chủ nghĩa xã hội, tiến hành công cuộc xây dựng đất nước Nhờ vào việc vận dụng một cách năng động, sáng tác chủ nghĩa Mác – Lênin, thời gian qua nước ta đã có những thành tựu trong công cuộc đổi mới

và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới Thời kì cách mạng khoa học và công nghệ nở rộ với trình độ phát triển ngày càng cao, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội

Tuy nhiên, trình độ khoa học kĩ thuật giữa các nước không đồng đều Nhóm nước phát triển luôn có ưu thế về công nghệ hơn nhóm nước đang phát triển Vì vậy nhóm nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang đứng trước một thách thức to lớn – nguy cơ tụt lại phía sau ngày càng cao,

mà xuất điểm thì lại thấp, bắt buộc phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quốc

tế quyết liệt

Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với đất nước ta Vì vậy ngay lúc này đây, nước ta phải tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước

Với tư cách là một sinh viên, một công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, em muốn tìm hiểu kĩ hơn về Triết hoc Mác – Lênin, cụ thể là tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, từ đó vận dụng mối quan hệ này vào thực tiễn xã hội, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay Trong quá trình thực hiện đề tài, dù đã rất

cố gắng nhưng chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những sự góp ý từ thầy để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

NỘI DUNG

1 Lý luận chung về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 1.1 Vật chất

1.1.1 Phạm trù vật chất

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học – mang khái niệm rộng nhất, không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được, sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác

Từ phát biểu đó, ta suy ra 3 nội dung cơ bản của vật chất như sau:

Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên

ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó

có, không thể bị tiêu diệt, nó tồn tại bên ngoài và không bị lệ thuộc vào cảm giác, vào ý thức của con người Điều này khác với quan niệm tuyệt đối của chủ nghĩa duy tâm: vật chất là sản phẩm của tinh thần (ý thức) Vật chất theo Lênin không phải là lực lượng siêu nhiên, do con người tự tưởng tượng

ra như thần linh; mà trái lại, vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật, hiện tượng cụ thể

Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người

thì đem lại cho con người cảm giác Vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không bị lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện tượng cụ thể; tức là luôn biểu hiện sự tồn tại của mình dưới dạng thực thể Và những thực thể này khi tác động vào các giác quan của con người sẽ gây ra cảm giác, và từ đó mà con người có thể biết được, cảm nhận được, hiểu được và nắm bắt được thực thể, sự vật ấy Mặc dù không phải sự vật, hiện tượng nào khi tác động vào con người có thể cho con người cảm giác nhưng nếu nó vẫn tồn tại khách quan và không bị phụ thuộc vào ý thức của con người, thì nó vẫn là vật chất

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.

Trong thế giới của chúng ta đang sống, tức là thế giới vật chất luôn tồn tại song song hai hiện tượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần Các hiện tượng vật chất thì luôn tồn tại khách quan, còn các hiện tượng tinh thần

Trang 5

thì lại bắt nguồn từ các hiện tượng vật chất Vì vậy những nội dung của các hiện tượng vật chất ấy cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các hiện thực khách quan Và cảm giác là cơ sở của mọi sự hiểu biết, bản thân nó không ngừng chép lại, chụp lại, phản ánh lại hiện thực khách quan, nên theo nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất là nhờ có cảm giác

1.1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.

Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất Có 5 hình thức vận động chính từ thấp đến cao: cơ – hóa – lý – sinh – xã hội Các hình thức vận động này có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện tác động qua lại lẫn nhau Vật chất tồn tại và điều đó biểu hiện thông qua sự vận động không ngừng và các dạng khác nhau của vật chất Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất

có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau, cùng tồn tại, có ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi Nguồn gốc vận động

do những nguyên nhân bên trong, vận động vật chất chính là tự thân vận động

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, mang đặc trưng, tính chất của vật chất, không thể có vận động bên ngoài vật chất và vận động không

do ai sáng tạo ra, đồng thời không thể bị tiêu diệt Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật bị mất đi thì tự nó sẽ hình thành một hình thức vận động khác thay thế Các hình thức vận động chuyển hóa lẫn nhau còn vận động của sự vật thì tồn tại vĩnh viễn

Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng, nhưng trong đó vẫn bao hàm hiện tượng đứng im tương đối, đây là điều kiện chủ yếu của sự phân hóa vật chất Đứng im chính là một trạng thái đặc biệt của vận động

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.

Không gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất về mặt quảng tính,

có 3 chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao) Còn thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất về mặt trường tính và chỉ có 1 chiều (từ quá khứ đến tương lai) Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có hình thức kết cấu, có kích thước, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng; còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra

Trang 6

nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định Lênin đã chỉ ra rằng, không có vật chất nào tồn tại bên ngoài không gian và thời gian cũng như không có không gian, thời gian nào tồn tại bên ngoài vật chất

1.1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới

Triết học Mác – Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng

cụ thể của vật chất, có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức và đều phải tuân thủ theo quy định khách quan của thế giới vật chất, do đó tồn tại vĩnh cửu, không do ai sinh ra và cũng tự không mất đi Trong thế giới đó, không có gì khác ngoài quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hóa lẫn nhau, là nguyên và kết quả của nhau

1.2 Ý thức

1.2.1 Kết cấu và nguồn gốc của ý thức

Định nghĩa theo phạm vi, thì ý thức chỉ toàn bộ đời sống tinh thần, tâm lý của con người được tạo thành từ nhiều yếu tố, trong đó có 2 yếu tố cơ bản nhất là tình cảm và tri thức Định nghĩa theo bản chất thì ý thức là toàn

bộ sự phản ánh năng động sáng tạo của con người đối với thế giới khách quan

Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là quan trọng nhất Theo Mác “Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức” Tri thức là yếu tố căn bản nhất phân biệt tâm lý của con người với tâm lý động vật, nhờ vào tri thức mà con người có thể cải tạo tự nhiên xã hội

Nguồn gốc của ý thức bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

Nguồn gốc tự nhiên

Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc Khoa học chứng minh rằng, thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não, bộ não là khí quản của ý thức Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn

Trang 7

Discover more

from:

Document continues below

Triết 1

Đại học Kinh tế…

999+ documents

Go to course

Sơ đồ tư duy Triết chính thức

Triết 1 99% (114)

7

PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN…

Triết 1 100% (44)

12

Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t…

Triết 1 99% (91)

25

tóm tắt triết học Mac Lenin

Triết 1 100% (39)

58

TIỂU LUẬN TRIẾT 1

Triết 1 100% (34)

19

NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI

11

Trang 8

Nguồn gốc xã hội

Sự ra đời của ý thức gắn liền với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp xã hội Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu

và phục vụ mục đích bản thân con người, từ đó mà xã hội loài người mới hình thành và phát triển Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người, kết nối con người với nhau trong mối quan hệ khách quan, tất yếu; dần dần mối quan hệ này sản sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và

tổ chức lao động Và kết quả là ngôn ngữ ra đời

Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy, với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp, trở thành tín hiệu vật chất tác động dưới giác quan của con người và gây ra cảm giác Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp, trao đổi, truyền đạt kinh nghiệm cho nhau, thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức

xã hội, và ngược lại Chính nhờ trừu tượng hóa và khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng, đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử

1.2.3 Bản chất của ý thức

Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản

ánh, sáng tạo và bản tính xã hội

Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài, là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh Bản tính của nó quy định mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy khách quan làm tiền để bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trở thành một mặt tất yếu của quá trình hoạt động sáng tạo, cải tạo xã hội

Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi hiện thực khách quan mà có cải biến, quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin Tính sáng tạo còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động, tác động vào thể giới đó Phản ánh và sáng tạo có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, không có phản ánh thì không có sáng tạo, bởi vì phản ánh là điểm xuất phát và nền tảng của sáng tạo Nghĩa là, mối quan hệ biện chứng giữa thu nhận và xử lý thông tin là sự thống nhất giữa mặt khách quan

và mặt chủ quan của ý thức

Triết 1 100% (35)

Trang 9

Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, hoạt động cải tạo thế giới của con người Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động

xã hội Ý thức trước hết là nhận thức của con người về xã hội và hoàn cảnh

và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người Vì thế mà ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó Ý thức của mỗi cá nhân mang trong nó ý thức xã hội Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của

ý thức, ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người

1.3 Quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Mối quan hệ vật chất và ý thức được coi là “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại” Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất Hay nói cách khác, theo quan điểm duy vật biện chứng (chứ không phải quan điểm duy tâm hay duy vật siêu hình): vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau thông qua hoạt động thực tiễn của con người; trong đó, suy đến cùng, vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức

Quan điểm trên, một mặt đối lập với quan điểm duy tâm, mặt khác cũng khác biệt cơ bản với quan điểm siêu hình trong việc giải quyết vấn đề

về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Theo quan điểm duy tâm, không phải vật chất quyết định ý thức mà ngược lại, ý thức là cái quyết định vật chất; còn quan điểm duy vật siêu hình chỉ nhấn mạnh một chiều đến vai trò quyết định của ý thức, xem thường vai trò năng động sáng tạo của ý thức đối với vật chất, đặc biệt là nó không thấy được vai trò của thực tiễn trong việc phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

1.3.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vai trò của vật chất

đối với ý thức được thể hiện trên những phương diện sau:

Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức

Vật chất là cái tồn tại khách quan, vĩnh viễn trong thời gian và không gian Ý thức chỉ là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của thế giới

Trang 10

vật chất, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Không thể có ý thức trước khi có con người hay ý thức nằm ngoài con người, độc lập với con người Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con người mới tạo ra được ý thức, hay nói cách khác ý thức là

sự tương tác giữa bộ não con người và thế giới khách quan

Ví dụ: Câu chuyện một cậu bé bị bỏ rơi ở trong rừng và được nuôi lớn bởi

bầy sói thay vì bởi con người, vì vậy mà cậu không được tiếp xúc với xã hội của loài người thì hành động của cậu ta cũng chỉ giống như những con sói Tức là hoàn toàn không có ý thức

Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức

Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực, vì vậy mà nội dung của nó chẳng qua là kết quả của sự phản ánh hiện thực ấy Hay nói cách khác, có thế giới vật chất vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức Sự phát triển của hoạt động vật chất

cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới văn minh, hiện đại

Ví dụ: Càng học lên cao, con người càng tích lũy thêm được nhiều tri thức,

từ đó mà trở nên hiểu biết hơn Mình của lớp 12 chắc chắn sẽ thông minh và

có nhiều tri thức hơn bản thân mình ở lớp 1 Hay người đọc 50 quyển sách chắc chắn sẽ có suy nghĩ sâu sắc hơn người mới đọc được 2 quyển sách (xét trên cùng một thể loại sách)

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức

Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Nhưng sự phản ánh của con người không phải sự sao chụp lại y nguyên mà lả phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh

Ví dụ: Người Việt Nam ta có câu “Đi một ngày đàng, học một sáng khôn”.

Khi chúng ta được đi đây đi đó, được khám phá, được trải nghiệm nhiều với

Ngày đăng: 12/12/2023, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm