Lênin đã khẳng định: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản á
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
0O0
BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài số 3: Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ
với thực tiễn.
Họ, tên SV: Võ Thúy Quỳnh Mã SV: 11225586 Lớp: Triết học Mác-Lênin (122)_35 Khóa: 64 GĐ: D206
Hà Nội - 11/2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 3
1.1 Phạm trù vật chất 3
1.2 Phạm trù ý thức 5
1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 8
2 LIÊN HỆ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VỚI THỰC TIỄN 11
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2021 - 2026, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng: “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã luận giải và khẳng định: “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa
xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam” Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và quan trọng nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay vì chỉ có thực hiện được mục tiêu này, chúng ta mới có thể xây dựng được một nước Việt Nam mà theo cách nói của Hồ Chí Minh là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” Từ thực tế hiện nay cùng với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đại hội VII của Đảng ta lần đầu tiên đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng Tức là, chúng ta phải: dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta Có như thế chúng ta mới có thể dần dần tìm hiểu được quy luật phát triển của Cách mạng Việt Nam, định ra được đường lối, phương châm, bước đi phù hợp với tình hình nước ta
Làm đề tài tiểu luận này, tôi muốn tìm hiểu về Triết học Mác - Lênin phần chủ nghĩa duy vật biện chứng Cụ thể hơn, đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức Từ đó đi sâu vào sự nghiệp cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay- sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nền tảng
tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trên con đường đi tới chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều này sẽ được lý giải rõ hơn trong phần nội dung của đề tài
Trang 51 LÍ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Để tìm hiểu cụ thể mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trước tiên ta phải hiểu và làm rõ các vấn đề về phạm trù của vật chất và ý thức
1.1 Phạm trù vật chất
a) Quan niệm duy vật biện chứng về vật chất
Vật chất là phạm trù triết học với quan niệm khác nhau về nó Để đưa ra được một quan niệm thực sự đúng đắn về vật chất, V I Lênin đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm phương pháp định nghĩa cho phạm trù này
Kế thừa tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen cùng những thành tựu khoa học tự nhiên thế kỷ XIX - XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, V.I Lênin đã khẳng định: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Vật chất không phải chỉ bao gồm những gì được tạo nên
từ nguyên tử, mà là tất thảy những gì tồn tại khách quan, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức
Như vậy, định nghĩa vật chất của V I Lênin gồm những nội dung sau:
Thứ nhất, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không lệ
thuộc vào ý thức, kể cả sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được
Thứ hai, vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi tác động lên giác
quan của con người
Thứ ba, vật chất được phản ánh bởi cảm giác, tư duy và ý thức.
Với những nội dung cơ bản như trên, V I Lênin đã giải quyết hai mặt vấn
đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng, một mặt muốn nhấn mạnh vật chất luôn mang tính thứ nhất, là cái quyết định sự hình thành ý thức, quyết định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức
và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người, vật chất là điều kiện để hiện thực hoá ý thức
b) Các hình thức tồn tại của vật chất
Vật chất tồn tại dưới rất nhiều hình thái, từ các hình thức vật chất tự nhiên chưa có đặc tính của sự sống với những cấu trúc từ vĩ mô đến vi mô, đến vật chất tự nhiên có đặc tính của sự sống vô cùng đa dạng trong giới tự nhiên và
Trang 6sự xuất hiện của con người với những hình thức tổ chức xã hội trong lịch sử tiến hóa hàng vạn năm qua đến nay
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các dạng cụ thể của vật
chất biểu hiện sự tồn tại của mình bằng vận động, không gian và thời gian.
Vận động
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động không chỉ là
sự thay đổi vị trí trong không gian mà vận động là mọi sự biến đổi.Khi định
nghĩa vận động là sự biến đổi nói chung, thì vận động "là thuộc tính cố hữu
của vật chất", "là phương thức tồn tại của vật chất", có nghĩa là vật chất tồn tại bằng vận động
Vật chất là vô hạn, vô tận, không sinh ra hay mất đi và vận động là một thuộc tính không thể tách rời vật chất nên bản thân sự vận động cũng không thể bị mất đi hoặc sáng tạo ra Kết luận này của triết học Mác - Lênin đã được chứng minh bởi định luật bảo toàn chuyển hóa năng lượng trong vật lý, vận động của vật chất được bảo toàn cả về mặt lượng và chất Nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì sẽ nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó Các hình thức vận động chuyển hóa lẫn nhau, còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng, nhưng nó còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối, từ đó có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật, hiện tượng phong phú và đa dạng Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng
Dựa trên những thành tựu khoa học, Ph.Ăngghen đã phân chia vận động thành 5 hình thức:
- Vận động cơ giới (Sự chuyển dịch vị trí của các vật thể trong không gian)
- Vận động vật lí (Các quá trình biến đổi của nhiệt, điện, trường, các hạt
cơ bản)
- Vận động hóa (Sự biến đổi của các chất hữu cơ, vô cơ)
- Vận động sinh vật (Quá trình biến đổi của các cơ thể sống)
- Vận động xã hội (Sự biến đổi của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa)
Trang 7Discover more
from:
Document continues below
Triết 1
Đại học Kinh tế…
999+ documents
Go to course
Sơ đồ tư duy Triết chính thức
Triết 1 99% (114)
7
PHÂN TÍCH QUAN NIỆM DUY VẬT BIỆN… Triết 1 100% (44)
12
Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của t… Triết 1 99% (91)
25
tóm tắt triết học Mac Lenin
Triết 1 100% (39)
58
TIỂU LUẬN TRIẾT 1 Triết 1 100% (34)
19
NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI
11
Trang 8 Không gian, thời gian
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, có
hình thức kết cấu, có độ dài, ngắn, cao, thấp Không gian thể hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định Thời gian biểu hiện trình
độ tốc độ của quá trình vật chất, tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của quá trình đó, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng
Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian và thời gian tồn tại ngoài vật chất vận động
Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian, thời gian cũng có những tính chất chung như những tính chất của
vật chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cữu, tính vô tận và vô hạn.
1.2 Phạm trù ý thức
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của
ý thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trên cơ sở những thành tựu của triết học duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác - Lênin góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên
a) Ý thức là gì?
Về khái niệm, ý thức là toàn bộ đời sống tinh thần của con người, bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hi vọng, ý chí niềm tin, của con người trong cuộc sống Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người
b) Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng với mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ tạo ra quá trình phản ánh sáng tạo, năng động
Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao
là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh
Triết 1 100% (35)
Trang 9của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng
có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách
quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan, đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là
thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức, trình độ: phản ánh vật lý, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất tự nhiên
Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho
vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ,
lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự
nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ
Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương
được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện
Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các
hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất có tổ chức cao nhất,
có tổ chức cao nhất là bộ óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh sáng tạo năng động này được gọi là ý thức
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những điều kiện tự nhiên để giải thích nguồn gốc của ý thức thì chỉ là điều kiện cần, vì nếu chỉ với những tác động tự nhiên giới hạn trong một con người, thì ý thức chỉ có thể tồn tại trong một thế hệ
Trang 10Theo quan điểm của chủ nghĩa M Lênin, ngoài nguồn gốc tự nhiên, sự ra đời của ý thức còn chịu nhiều tác động của nhân tố xã hội
Nguồn gốc xã hội
Hai yếu tố vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề quyết định sự ra đời ý thức là
lao động và ngôn ngữ.
Lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên nhằm thay đổi giới
tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình Trong quá trình ấy, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động còn ẩn giấu, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Qua uá trình lao động cùng với các giác quan ngày càng phát triển, từ những “tia ý thức đầu tiên” con người đã có được kho tàng tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung
ý thức Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động, nảy sinh từ nhu cầu biểu đạt trong tập thể Nhờ ngôn ngữ con người không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát và truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, “ sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu đã làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển thành bộ óc con người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức con người”
c) Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh: về bản
chất, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tính phụ thuộc vào thực tế khách quan
Tính sáng tạo
Thể hiện ở khả năng của con người trong việc định hướng, tiếp nhận, chọn lọc, xử lý và lưu giữ thông tin Trên cơ sở những thông tin đã có, nó có thể tạo
ra những thông tin mới và phát hiện ra ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận Tính chất năng động sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện qua quá trình con người tạo ra những giả tưởng trong đời sống tinh thần của mình
Trang 11 Tính chủ quan
Ý thức là hình ảnh của thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như giới khách quan mà nó đã cải tiến thông qua lăng kính chủ quan của con người
Tính xã hội
Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ là các quy luật sinh học mà còn của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn
xã hội
1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Triết học Mác –Lênin khẳng định: “Ý thức do vật chất sinh ra và quyết
định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt dông thực tiễn của con người”.
a) Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽ tất nhiên, ý thức – một thuộc tính của bộ óc con người – cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh rằng giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất
là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Sự vận động của thế giới vật chất là yếu
tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc người
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Ý thức đều là phản ánh hiện thực khách quan Có thế giới hiện thực vận động, phát triển theo những quy luật khách quan của nó, được phản ánh của ý thức mới có nội dung của ý thức
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức.
Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người – là cơ sở để hình thành,