1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận và đánh giá quy định tại điều 129 blds năm 2015 về gdds vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

4 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận và đánh giá quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015 về GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 27,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, trong một số trường hợp pháp luật quy định thì hình thức giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của GDDS.. Thực tiễn quy định về GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về

Trang 1

BÀI LÀM

1 Bình luận và đánh giá quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015 về GDDS

vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Có thể khẳng định rằng, GDDS là loại quan hệ có tính chất phổ biến, được áp dụng rộng rãi ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào Tuy nhiên, một giao dịch

để được coi là có hiệu lực cần đảm bảo được các yếu tố: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Bên cạnh đó, trong một số trường hợp pháp luật quy định thì hình thức giao dịch cũng là điều kiện có hiệu lực của GDDS

Thực tiễn quy định về GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tại Điều 129 BLDS năm 2015 còn tồn tại một số bất cập nhất định, cụ thể:

Thứ nhất, không quy định cụ thể những loại hợp đồng nào phải tuân thủ

điều kiện hình thức Điều 129 BLDS năm 2015 không quy định cụ thể những loại hợp đồng nào phải tuân thủ điều kiện hình thức và khi nào thì hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà chỉ quy định về hình thức bắt buộc của một số loại hợp đồng như: Hợp đồng mua bán, tặng cho nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, và có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật… Bên cạnh

đó, một số văn bản pháp luật chuyên ngành đặt ra yêu cầu hợp đồng phải có một

số nội dung bắt buộc như: Luật Xây dựng quy định hợp đồng xây dựng phải có

ít nhất 14 nội dung như khối lượng công việc, yêu cầu kỹ thuật của công việc, thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng… hay Luật Kinh doanh bất động sản yêu cầu hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua nhà hay công trình xây dựng phải có 12 nội dung gồm giá, phương thức và thời hạn thanh toán, thời hạn giao, nhận bất động sản… Trường hợp hợp đồng không có đầy đủ các nội dung bắt

Trang 2

buộc trên thì có thể xem đã vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng hay không?

Thứ hai, Điều 129 BLDS 2015 có hai khoản nhưng ranh giới giữa hai

điều khoản này rất khó xác định trên thực tiễn Cụ thể khoản 1 Điều 129 BLDS

2015 đề cập các hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật Đồng thời, khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 đề cập đến các hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực Hai khoản này khác nhau ở điểm nào thì khó có câu trả lời, bởi khoản 2 Điều 119 BLDS quy định về hình thức của hợp đồng chỉ ghi nhận hai hình thức phải tuân thủ là văn bản có công chứng, chứng thực với nội dung: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực thì phải tuân theo quy định đó”

Thứ ba, theo quy định của Điều 129, hợp đồng vi phạm điều kiện về hình

thức nhưng “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó” Thực tiễn thực hiện hợp đồng cho thấy, có rất nhiều dạng nghĩa vụ như: nghĩa vụ tài sản, nghĩa vụ phi tài sản … Vì vậy, cần phải làm rõ việc xác định nghĩa vụ chỉ là nghĩa vụ tài sản hay phải bao gồm tất cả các nghĩa vụ mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng? Khi trong hợp đồng vừa có nghĩa vụ tài sản vừa có nghĩa vụ phi tài sản; một bên phải thực hiện nghĩa vụ tài sản vừa phải thực hiện nghĩa vụ phi tài sản (như thực hiện thủ tục sang tên…), hoặc các bên đều chỉ có nghĩa vụ phi tài sản thì dựa vào tiêu chí gì

để được coi là đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ?1

Có thể thấy, để một GDDS được thực hiện đúng luật, bảo vệ quyền lợi của các bên là điều hết sức quan trọng nhằm tránh nhiều rủi ro, thiệt hại về tài sản, tình cảm, thời gian của người dân nói riêng và thiệt hại cho Nhà nước nói

1 Tưởng Duy Lượng (2018), “Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự

vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 9 (361), tr 42 – 46.

1

Trang 3

chung Chính vì vậy, Nhà nước mới can thiệp bằng cách quy định tính bắt buộc

về hình thức giao dịch đó nhằm bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế hơn và cũng là

vì một trật tự xã hội chung, tránh hậu quả lớn xảy ra

2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Từ những phân tích, nhận định trên em xin đưa ra một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm quy định bắt buộc về hình thức như sau:

Thứ nhất, kiện toàn hệ thống pháp luật, đề cao công tác xây dựng pháp luật,

kĩ thuật xây dựng pháp luật để hệ thống các văn bản pháp luật rõ ràng, rành mạch, tránh sự chồng chéo, chậm áp dụng Theo đó, cần phải hướng dẫn cụ thể như thế nào là việc “một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa

vụ trong giao dịch”; quy định cụ thể những GDDS nào bắt buộc phải tuân thủ

về hình thức Đặc biệt là những giao dịch bắt buộc về đăng kí, công chứng, chứng thực,…

Thứ hai, theo ông Tưởng Duy Lượng, Nguyên Phó Chán án Toà án nhân dân

tối cao: nên quy định theo hướng bảo vệ người thứ ba ngay tình hơn nữa, nhưng theo hướng khái quát chung để tuỳ thuộc vào tình huống mà Thẩm phán có cách giải quyết hợp lí, không nên quy định quá cụ thể gây khó khăn trong công tác xét xử2

Thứ ba, tuyên truyền cho người dân hiểu rõ, dễ tiếp cận, dễ biết và nhận thức

đúng đắn về giao dịch mà họ đang xác lập Việc tuyên truyền này phải thể hiện bằng nhiều hình thức, nhiều phương tiện sinh động, trực quan, dễ hiểu để cho người dân dù ở trình độ văn hoá nào cũng có thể tiếp cẩn, hiểu và áp dụng được

Hi vọng rằng những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015 về GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức được đề cập trên đây sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, phần nào đó góp phần vào công cuộc hoàn thiện pháp luật Việt Nam

2 Tưởng Duy Lượng (2015), Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu trên trang Toaan.gov.vn.

2

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu

1 Bộ luật Dân sự năm 2015

2 Nguyễn Thị Tố Tâm, Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

3 Trịnh Thị Hòa, Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của GDDS

vô hiệu

4 Phạm Thị Thảo, Luận văn Giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức theo pháp luật Việt Nam

5 Tưởng Duy Lượng (2018), “Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng Điều

129 Bộ luật Dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 9 (361), tr 42 – 46 Trang web

1 https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2018/07/07/nhung-van-de-can-luu- khi-p-dung-dieu-129-bo-luat-dn-su-nam-2015-ve-giao-dich-dn-su-v-hieu-do-khng-tun-thu-quy-dinh-hnh-thuc/

2 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/hop-dong-vo-hieu-do-khong-tuan-thu-quy-dinh-ve-hinh-thuc-thuc-trang-va-huong-hoan-thien

3 https://www.toaan.gov.vn/webcenter/portal/tatc/home

3

Ngày đăng: 16/11/2023, 07:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w