Khái niệm Theo khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại 1
1 Khái niệm của thỏa thuận trọng tài 1
II Bình luận quy định của pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại 2
III Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và các giải pháp nâng cao hiệu quả 6
1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại 6
2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả về áp dụng pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài trong thực tiễn ở Việt Nam 8
KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 2MỞ ĐẦU
Trọng tài Thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt là tại những nước có nền kinh tế phát triển Ở Việt Nam, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại thông qua trọng tài được xác lập từ lâu, dù theo quy định của pháp luật mỗi thời kỳ, cách thức tổ chức và hoạt động của tổ chức trọng tài là khác
nhau Qua bài phân tích sau đây em xin giải quyết về vấn đề: “Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại.”
NỘI DUNG
I Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại
1 Khái niệm của thỏa thuận trọng tài
1.1 Khái niệm
Theo khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì: “Thỏa thuận trọng tài là
thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” Như vậy có thể hiểu khái quát thỏa thuận trọng tài là một thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên ký kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết bằng con đường trọng tài
Trong phương thức trọng tài thì thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất Thỏa thuận trọng tài là yếu tố tiên quyết để hình thành việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Bản chất của thỏa thuận ở đây thể hiện sự thống nhất ý chí, sự tự nguyện và đồng thuận của các bên tham gia tranh chấp Điều cơ bản làm nên một thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên khi cùng nhau đưa tranh chấp ra giải quyết tại một tổ chức trọng tài nhất định Thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu chỉ là ý chí chủ quan của một bên hay là sự áp đặt của bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào
1.2 Đặc điểm
Trang 3Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ý chí của các bên có liên quan trong việc giải quyết tranh chấp Theo đó các bên cam kết và đồng thuận với nhau về việc sử dụng phương thức trọng tài để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra, đồng thời thỏa thuận cụ thể về cách thức, trình tự giải quyết và các vấn đề khác có liên quan
Thứ hai, thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới hình thức văn bản Trong các trường hợp, thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một chứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp trọng tài
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra
Thứ tư, nội dung của thỏa thuận trọng tài Nội dung của thỏa thuận trọng tài chính
là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp, bât đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật về mặt nội dung Hầu hết các pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có thể dễ dàng xác định thẩm quyền của hội đồng trọng tài và quy tắc tố tụng nhất định Thứ năm, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực độc lập với hợp đồng trong cả trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng
Trang 4II Bình luận quy định của pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài
thương mại
Luật Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 17/06/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động trọng tài ở Việt Nam Luật trọng tài thương mại đã tiếp thu được những nguyên tắc cơ bản nhất về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trên thế giới và trong Luật Mẫu
UNCITRAL đặc biệt nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận (principle of respecting
arbitration agreement)
Thứ nhất, Luật trọng tài thương mại tại Điều 6 đã quy định "Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà
án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được" Luật Trọng tài thương mại đã giải quyết được vấn
đề thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được cũng như Luật Mẫu và pháp luật trọng tài các nước đều quy định rõ về vấn đề này Việc pháp luật trọng tài ghi nhận đối với trường hợp này một mặt tạo điều kiện cho trọng tài được phát triển vì Tòa án sẽ không can thiệp vào vụ việc nếu như các bên đã có thỏa thuận trọng tài, mặt khác còn tạo điều kiện cho việc hỗ trợ nếu như thỏa thuận trọng tài đó có sai sót khiến cho thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Thứ hai, nếu như trước đây, quy định về hình thức thể hiện của thỏa thuận trọng tài thương mại chỉ được coi là giống văn bản như thư, điện báo, telex, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên1 và cũng thiếu chi tiết, rõ ràng Luật trọng tài thương mại hiện hành đã mở rộng và quy định cụ thể, chi tiết hình thức thỏa thuận trọng tài, khắc phục được sự khác biệt về các dạng tồn tại của thỏa thuận trọng tài trong pháp luật trọng tài của Việt nam2 và Luật mẫu về trọng tài thương mại của Liên hợp quốc cũng như các nước trên thế giới
1 Điều 9.1 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
2 “Điều 16 Hình thức thoả thuận trọng tài
Trang 5Một điểm nổi bật khác về thỏa thuận trọng tài được quy định trong Luật trọng tài thương mại là đã công nhận quyền của người tiêu dùng trong điều khoản trọng tài
đã được quy định trong điều kiện chung về cung cấp hàng hóa dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn, thì người tiêu dùng được quyền lựa chọn hoặc Tòa án hoặc trọng tài để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Lần đầu tiêu, pháp luật về trọng tài có quy định tranh chấp liên quan đế một bên là người tiêu dùng Quy định này dựa trên một thực tế là thông thường người tiêu dùng luôn bị đặt ở một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều khoản in sẵn (trong hợp đồng mẫu) của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ Bởi cứ có lợi nhuận thì các nhà tư bản sẵn sàng khuyến mại cho khách hàng những cạm bẫy pháp lý, do đó, không thể không có những quy định bảo vệ người tiêu dùng trong các tình huống cần thiết Đặc biệt, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện nếu được người tiêu dùng chấp thuận.3 Bên cạnh đó, tại Điều 7 Nghị quyết 01/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao4 còn cụ thể hóa, bổ sung thêm về quy định tại Điều 16 Luật trọng tài thương mại, qua đó làm căn cứ để áp dụng luật một cách chính xác hơn
Ngoài ra, nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật về trọng tài thương mại trước đây về quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu do không xác định rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, Luật trọng tài thương mại đã loại bỏ quy định trên bởi vì nguyên tắc giải quyết bằng trọng tài là phải dựa trên ý chí của các bên Cũng từ việc loại bỏ quy định này mà Luật trọng tài thương mại đã loại bỏ rất nhiều trường hợp xác định thỏa thuận trọng tài là vô hiệu về hình thức và hòa nhập với xu thế chung của thế giới Luật đã gói gọn thỏa thuận trọng tài vô hiệu trong 06 trường hợp: “1 Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này
3 Điều 17 Luật trọng tài thương mại 2010
4 “Điều 7 Về thỏa thuận trọng tài quy định tại Điều 16 Luật TTTM
a) Các bên thỏa thuận đồng ý gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện; b) Quy tắc tố tụng trọng tài cho phép gộp nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp vào giải quyết trong cùng một vụ kiện.”
Trang 62 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
3 Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự
4 Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này
5 Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
6 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.”5 Cũng như các quan
hệ hợp đồng, khi một bên không có thẩm quyền, không đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc không đảm bảo các tiêu chuẩn về mặt hình thức thì rõ ràng, thỏa thuận trọng tài
đó không thể mang đầy đủ hiệu lực Hơn nữa, xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận dựa trên quy định của pháp luật thì các bên không thể bị cưỡng ép, đe dọa hoặc bị lừa dối hoặc vi phạm các quy định của pháp luật, nếu điều đó xảy ra, thì tất nhiên thỏa thuận sẽ vô hiệu
Bên cạnh đó, giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, Luật còn cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại Trong trường hợp không thể thỏa thuận được thì bên khởi kiện có quyền yêu cầu tổ chức trọng tài mà mình cho là phù hợp để đưa vụ việc ra giải quyết Quy định này nằm ngăn chặn tình trạng mà thỏa thuận vô hiệu hoặc tình trạng không tìm được cơ quan giải quyết tranh chấp
Với tính độc lập của thỏa thuận trọng tài thương mại, dù các bên có tiến hành thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng hay hợp đồng vô hiểu hoặc không thể thực hiện được cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Thực tế cho thấy, các bên tham gia vào một hợp đồng thường lựa chọn luật áp dụng cho việc thực hiện hợp đồng và luật áp dụng để trọng tài giải quyết khi xảy ra tranh chấp là khác
5 Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010
Trang 7nhau đặc biệt với những hợp đồng thương mại quốc tế Điều này càng thể hiện tầm quan trọng của việc thỏa thuận trọng tài thương mại
III Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và các
giải pháp nâng cao hiệu quả
1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại
Những điêm hạn chế.
Trong giai đoạn LTTTM 2010 ra đời, có hiệu lực thi hành cho đến nay vẫn còn một
số điểm bất cập liên quan đến thỏa thuận trọng tài
Thứ nhất, nếu thỏa thuận trọng tài tạo thành một phần của thỏa thuận khác, không phải là một điều khoản của hợp đồng, liệu thỏa thuận trọng tài có thể được coi như một thỏa thuận độc lập và có thể tồn tại hay không, nếu thỏa thuận chính vô hiệu
Thứ hai, Điều 6 LTTTM chỉ nêu thuật ngữ: “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được ” mà không làm rõ khái niệm trên, sự thiếu sót này đã gây cản trở các bên trong việc áp dụng pháp luật để xác định trường hợp nào là thỏa thuận trọng tài không thực hiện được để họ cân nhắc trước khi xây dựng thỏa thuận trọng tài Bên cạnh đó nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được các điểm mới của LTTTM nói chung cũng như các quy định về thỏa thuận trọng tài nói riêng so với pháp lệnh trước đây
Thứ ba, về thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài Nếu điều khoản trọng tài là một bộ phận của hợp đồng thì điều khoản này cũng có hiệu lực pháp luật Câu hỏi đặt
ra là liệu có thể áp dụng những quy định về giao dịch dân sự và hợp đồng dân sự để xác định thời điểm hình thành của thỏa thuận trọng tài hay không hay chỉ cần ghi nhận điều này trong một văn bản pháp luật riêng biệt về trọng tài? Luật trọng tài thương mại cần phải có quy định cụ thể về vấn đề
Thứ tư, Luật quy định việc thay đổi,gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài Vậy nếu hợp đồng
Trang 8không thể thực hiện được, không rơi vào những trường hợp trên, giá trị pháp lý của điều khoản trọng tài như thế nào?
Thứ năm, doanh nghiệp chưa có một thói quen đặt ra câu hỏi là cần lực chọn trọng tài hay tòa án khi ký kết hợp đồng và tại sao lại như vậy Một số doanh nghiệp Việt Nam, do không chọn trước trọng tài (hay Tòa án) khi có tranh chấp phát sinh trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoài, họ không biết quyết định như thế nào
Thứ sáu, nếu có chọn trọng tài thì họ cũng chỉ quy định một cách chung chung, không chính xác Ví dụ : trong các điều khoản trọng tài, họ vừa chọn trọng tài lại vừa chọn Tòa án; chọn trọng tài A để phúc thẩm trọng tài B; chọn trọng tài A nhưng lại quy định dung quy tắc trọng tài B để áp dụng; ghi tên tổ chức trọng tài hoặc ghi quy tắc tố tụng không chính xác… Những điều khoản trọng tài như vậy rất dễ bị tranh chấp về tính hiệu lực của nó, khả năng vô hiệu của điều khoản trọng tài sẽ rất cao Một điều khoản trọng tài bị coi là vô hiệu sẽ dẫn đến hệ quả phức tạp, nhất là việc quyết định trọng tài có thể bị hủy, vụ tranh chấp sẽ bị kéo dài không cần thiết
Những điểm đạt được.
Hiện nay, với gần 20 trung tâm trọng tài thương mại được cấp phép hoạt động ở Việt Nam, trong đó, nếu tính riêng VIAC, các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài chiếm khoảng 30% trong tổng số các vụ tranh chấp được giải quyết Số vụ giải quyết tranh chấp do VIAC thu lý cũng tăng đều qua các năm, với khoảng 155 vụ được giải quyết trong năm 2016 Từ thực tế trên, có thể thấy rằng thiết chế trọng tài thương mại
sẽ phát triển nhanh ở Việt Nam, và sớm là một công cụ hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả về áp dụng pháp luật hiện hành về thỏa thuận trọng tài trong thực tiễn ở Việt Nam
Thứ nhất, Cần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về thỏa thuận trọng tài thương mại phù hợp và dự trên các điều khoản trọng tài mẫu
Trang 9Một điều khoản trọng tài rõ ràng, đầy đủ và chặt chẽ sẽ đảm bảo tranh chấp phát sinh được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện để tìm hiểu sâu về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Để tiết kiệm thời gian, giải pháp tốt nhất là nên sử dụng các điều khoản trọng tài mẫu
Thứ hai, Lựa chọn hình thức trọng tài phù hợp
Khi soạn thảo điều khoản về trọng tài, các bên cần cân nhắc các điều kiện về tài chính, sự thuận tiện hay bản chất của tranh chấp sễ phát sinh để lựa chọn một hình thức trọng tài phù hợp Trọng tài quy chế thích hợp với những tranh chấp phức tạp, hợp đồng có giá trị lớn còn trọng tài vụ việc thích hợp vói những tranh chấp đơn giản, cần giải quyết nhanh chóng và tiết kiệm chi phí
Thứ ba, Lựa chọn luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp
Luật áp dụng hoàn toàn do các bên tự do lựa chọn Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định luật phù hợp nhất với quan hệ hợp đồng Để lựa chọn luật phù hợp thì một yêu cầu quan trọng là luật áp dụng phải dễ tiếp cận, phải được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong thương mại quốc tế và phù hợp với quan hệ thương mại cụ thể giữa các bên Do vậy, khi quyết định chọn luật, các bên cần chủ động tìm hiểu để lường trước được các rủi ro và bất lợi
có thể xảy ra
Thứ tư, Thỏa thuận trọng tài đơn giản và chính xác
Để đạt được tính khả thi hiệu quả, một điều khoản thỏa thuận trọng tài không nhất thiết phải dài và chi tiết Hai nguyên tắc cơ bản mà bất kì người soạn thảo điều khoản trọng tài cũng nên biết là tính đơn giản và tính chính xác, cụ thể là đơn giản trong soạn thảo và chính xác khi tập hợp các nội dung để đưa vào điều khoản
Theo đó, điều khoản trọng tài nên quy định một cách khái quát tối đa các tranh chấp không chỉ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, mà còn cả những vấn đề về sự
Trang 10tồn tại ,hiệu lực của hợp đồng, vi phạm và chấm dứt hợp đồng và các hệ quả tài chính của hợp đồng
Thứ năm, tăng cường ý thức pháp luật cho các doanh nghiệp
Doanh nghiệp nên tìm hiểu kỹ hơn về các phương thức giải quyết tranh chấp như thương lượng,trung gian, hòa giải cũng như các phương thức tài phán như trọng tài, tòa án
Mở các lớp huấn luyện do các chuyên gia đầu ngành về trọng tài chủ trì để các doanh nghiệp có điều kiện giao lưu trao đổi, học hỏi kinh nghiệm về nghệ thuật đàm phán và xác lập thỏa thuận trọng tài