1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chương 1 quản trị kinh doanh quốc tế

15 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 314,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế

Trang 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ (3 tiết) Tiết 1 (Từ mục 1.1.1 đến mục 1.1.3)

1.1 Tổng quan về kinh tế quốc tế

1.1.1 Khái niệm kinh tế quốc tế

Như chúng ta đã biết, thế giới gồm nhiều quốc gia riêng lẻ Mỗi quốc gia đều có những mặt mạnh và hạn chế riêng trong quá trình phát triển Vì vậy, xu hướng chung của thế giới là các quốc gia mở cửa để hội nhập với nhau, tức là tăng cường mối quan hệ kinh

tế gắn bó, ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia thông qua hoạt động thương mại và đầu

tư quốc tế nhằm phát huy những mặt mạnh và khắc phục những điểm yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Sự kết nối và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành khái niệm kinh tế quốc tế

Kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế với nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế

Như vậy, kinh tế quốc tế thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia trong quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ và di chuyển các nguồn lực sản xuất, sự chuyển đổi tiền tệ và thanh khoản giữa các quốc gia để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người

Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh

mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt tới vị trí thuận lợi trong nền kinh tế của thế giới Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ lĩnh vực, bao gồm thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và di chuyển quốc tế về lao động, hợp tác về kinh tế và khoa học - công nghệ, các dịch vụ thu ngoại tệ

Kinh tế quốc tế có lịch sử phát triển khá lâu dài từ đầu thế kỷ 18, những cuộc tranh luận về chính sách thương mại và tiền tệ quốc tế đã nổ ra nhưng chưa bao giờ việc nghiên cứu kinh tế quốc tế lại quan trọng như ngày nay Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão thì đời sống kinh tế thế giới càng có sự biến đổi mạnh mẽ cả về mặt chất và mặt lượng Thông qua mua bán hàng hoá dịch vụ và trao đổi tiền tệ, nền kinh tế của các nước trở nên gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau hơn bao giờ hết Với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay thì bất kỳ một chính sách kinh tế nào, một sự biến động chính trị xã hội nào xảy ra ở bất kỳ một nước nào

Trang 2

cũng đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với mức độ lớn nhỏ khác nhau đến nền kinh

tế của các nước khác Chính vì vậy, việc nắm bắt kịp thời sự thay đổi của môi trường quốc tế đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược kinh doanh và chính sách kinh tế của tất cả các nước

Kinh tế quốc tế ngày nay nghiên cứu dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ và các yếu

tố sản xuất như lao động, công nghệ, đặc biệt là vốn trên quy mô quốc tế Những dòng chảy này đều gắn với các giao dịch tiền tệ Ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến tiền

tệ có tác động đến dòng chảy quốc tế của hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố sản xuất

Nền kinh tế thế giới là tổng thể nền kinh tế của các quốc gia trên trái đất có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng

Nền kinh tế thế giới ngày nay là tổng thể nền kinh tế của hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ với sự biến đổi sâu sắc, nhanh chóng và toàn diện trên các mặt cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu sản phẩm cũng như việc hình thành những liên minh kinh

tế mới, những tổ chức kinh tế quốc tế thậm chí cả về phạm vi quản lý hành chính của các quốc gia

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế Nền kinh

tế thế giới do nhiều bộ phận cấu thành có liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau với các mức độ và những chiều hướng khác nhau về cả mặt lượng và mặt chất Nền kinh tế thế giới gồm 2 bộ phận cơ bản đó là các chủ thể kinh tế quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế

BÀI TẬP VẬN DỤNG

1 Quan hệ kinh tế nào dưới đây được gọi là kinh tế quốc tế

A Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan

B Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước còn lại trong khối ASEAN

C Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước còn lại trong khối EU

D Tất cả các phương án trên

2 Nền kinh tế thế giới được hiểu là:

A Nền kinh tế của các quốc gia riêng biệt trong khối ASEAN

B Nền kinh tế của các quốc gia trong khối EU

C Nền kinh tế của các nước Châu Mỹ la tinh

D Nền kinh tế của tất cả các quốc gia và mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia

Trang 3

1.1.2 Vai trò của kinh tế quốc tế

Trước hết, nhời có hoạt động kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh

tế có thể thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến

Kinh tế quốc tế giúp cho các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu Thị trường thế giới

có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển các quốc gia Hoạt động kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu

ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế

Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, đạt quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư

từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân

Hoạt động kinh tế quốc tế được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua các lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc

tế tăng thu ngoại tệ để tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trong nước; bằng hình thức hợp tác đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; thông qua các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối để tăng thêm nguồn thu bằng ngoại tệ thông qua lượng khách du lịch vào thăm quan; thông qua các nguồn vốn vay từ các nước, các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên thế giới để bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước trong khi nguồn vốn tích lũy từ nội

bộ của chúng ta còn thấp; tăng thêm nguồn vốn bằng ngoại tệ bằng cách xuất khẩu lao động và chuyên gia cho các nước thiếu lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế

Mở rộng các hoạt động kinh tế quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học và chuyển giao công nghệ, giúp cho các nước có nền kinh tế kém phát triển có cơ hội cải tiến lại cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tạo cơ hội cho việc phân phối các nguồn lực trong nước và thu hút các nguồn lực bên ngoài vào việc phát triển các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển đất nước như vốn, nhân lực có trình

độ cao, công nghệ hiện đại, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước

Trang 4

vươn ra thị trường thế giới Thông qua hoạt động kinh tế quốc tế, phân công lao động quốc tế giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được đẩy mạnh, đảm bảo đầu vào đầu ra cho các doanh nghiệp trong nước một cách ổn định và phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho việc hình thành những tập đoàn kinh tế mạnh, đủ sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới và khu vực

BÀI TẬP VẬN DỤNG

Bên cạnh những mặt tích cực của hoạt động kinh tế quốc tế, hãy cho biết những bất lợi có thể xảy ra và cần phải lưu ý khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế

1.1.3 Các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế

Đây là những người đại diện cho nền kinh tế thế giới và giữa họ có sự tách biệt về

sở hữu cũng như địa vị pháp lý trong quan hệ kinh tế quốc tế Các chủ thể này bao gồm:

- Các nền kinh tế quốc gia độc lập Hiện nay, có hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia vào nền kinh tế thế giới Theo số liệu của Liên Hiệp quốc, trên thế giới có

194 quốc gia độc lập Điều 1, Công ước Montevideo năm 1933 chỉ ra rằng một quốc gia độc lập có chủ quyền phải có những đặc điểm sau: (a) dân số ổn định, (b) lãnh thổ xác định, (c) chính phủ và (d) khả năng quan hệ với các quốc gia khác Có một vài nước trên thực tế là độc lập nhưng không được quốc tế công nhận (không đáp ứng điểm d) Ngược lại có vài nước đã được công nhận rộng rãi (chính danh) nhưng chính phủ không có đủ quyền hạn (điểm c bị hạn chế) Danh sách này gồm: 192 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, 1 quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc: Thành Bang Vatican, 1 quốc gia được Tòa Thánh và 24 quốc gia công nhận, có quan hệ quốc tế thực tế với nhiều quốc gia khác: Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), 6 quốc gia thực tế độc lập nhưng không được cộng đồng quốc tế thừa nhận: Abkhazia, Bắc Kibris (riêng nước này được duy nhất Thổ Nhĩ

Kỳ công nhận), Nagorno - Karabakh, Nam Osetia, Somaliland và Transnistria, 2 quốc gia được cộng đồng quốc tế thừa nhận nhưng thực tế không độc lập: Palestine và Tây Sahara

Quan hệ giữa các chủ thể được bảo đảm thông qua các hiệp định quốc tế được ký kết theo các điều khoản của công pháp quốc tế

- Các chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia Các chủ thể kinh tế ở cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia bao gồm những cá nhân, tổ chức tham gia vào nền kinh

tế thế giới như công ty, xí nghiệp, tập đoàn và đơn vị kinh doanh Các chủ thể chủ thể này tham gia vào nền kinh tế thế giới thường ở mức độ thấp, phạm vi hẹp cả về khối lượng hàng hoá trao đổi và thường dựa trên những hợp đồng buôn bán thương mại hoặc đầu tư được thoả thuận giữa các bên trong khuôn khổ những hiệp định ký kết giữa các quốc gia độc lập

Trang 5

- Các chủ thể kinh tế ở cấp độ cao hơn quốc gia Các chủ thể kinh tế ở cấp độ cao hơn quốc gia hoạt động với tư cách là những thực thể độc lập, địa vị pháp lý rộng hơn chủ thể quốc gia Hoạt động của các chủ thể này thường đòi hỏi có sự điều tiết của liên quốc gia thậm chí có tính toàn cầu Các tổ chức quốc tế xuất hiện do quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phát triển của các liên kết kinh tế, bao gồm: Liên hiệp quốc và các tổ chức chuyên môn của nó (Ngân hàng Thế giới - WB, Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF…), Các liên kết kinh tế quốc tế khu vực (Liên minh Châu Âu - EU, Hiệp hội các nước Đông Nam Á - ASEAN…) và Hiệp hội các ngành hàng (Hiệp hội chè, hiệp hội tơ tằm…)

Ngoài 3 chủ thể nêu trên, trong nền kinh tế thế giới còn tồn tại một loại chủ thể đặc biệt đó là các Công ty đa quốc gia Có thể hiểu đây là một công ty có vốn thuộc sở hữu của các doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc nhiều quốc tịch khác nhau Ngoài ra, có thể hiểu về công ty đa quốc gia là một công ty có trụ sở chính ở quốc gia nào đó và cơ sở kinh doanh (chi nhánh, công ty con ) của nó có mặt ở trên 6 quốc gia Đồng thời, phải thoả mãn điều kiện trên 60% doanh số thu được từ hoạt động quốc tế Có thể nói, đây là một loại chủ thể kinh tế quốc tế quan trọng vì nó chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế & chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, khi tiến hành phân nhóm chúng ta không thể coi các công ty này là chủ thể có cấp độ thấp hơn phạm vi quốc gia và đồng thời cũng không thể khẳng định nó là chủ thể có cấp độ cao hơn phạm

vi quốc gia

BÀI TẬP VẬN DỤNG

Hãy cho biết Công ty đa quốc gia và Công ty xuyên quốc gia có phải là một khái niệm, một chủ thể?

Tiết 2 (Mục 1.1.4)

1.1.4 Các hình thức liên kết kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế là xóa bỏ các sự khác biệt kinh tế giữa các nền kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau theo quan niệm đơn giản và phổ biến trên thế giới là việc nền kinh tế gắn kết lại với nhau

Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua 5 hình thức từ thấp đến cao có thể chia thành:

1.1.4.1 Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area)

Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hoặc nhiều nước nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó thông qua các biện pháp:

- Bãi bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng đối với các loại sản phẩm và dịch vụ khi trao đổi, mua bán giữa các nước thành viên

Trang 6

- Tiến tới tạo lập một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ

- Mỗi nước thành viên vẫn có quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các quốc gia ngoài khối, tức là vẫn có thể thi hành chính sách ngoại thương độc lập đối với các nước ngoài liên minh

Ví dụ như AFTA là những liên kết tiêu biểu thuộc hình thức này Khu vực Mậu

dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là

một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa thủ tục hải quan giữa các nước.Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan Sau đó hiệp định về AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6) Các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung là CLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này Liên kết khu vực mậu dịch tự do (AFTA) trong ASEAN nhằm mục tiêu loại bỏ hoàn toàn các hàng rào cản trở thương mại đối với hàng hoá nhập khẩu trong nội bộ các nước cùng khối Sự liên kết đó được thực hiện trong Hiệp định về thuế quan

ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết năm 1992 Theo CEPT các nước thành viên của AFTA phải giảm mức thuế quan xuống 0-5% và loại bỏ các giới hạn về định lượng và các rào cản phi thuế quan khác trong vòng 10 năm kể từ năm 1993

1.1.4.2 Liên minh thuế quan hay đồng minh thuế quan (Customs Union)

Đây là một liên minh quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp tác giữa các nước thành viên Theo thỏa thuận hợp tác giữa các quốc gia, bên cạnh việc bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch giữa các nước thành viên còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các quốc gia ngoài liên minh Điểm khác biệt so với hình thức Khu vực mậu dịch tự do là hình thức này thiết lập một biểu thuế quan chung, thực hiện chính sách cân đối mậu dịch của các nước thành viên đối với phần còn lại của thế giới

Ví dụ như Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) là một ví dụ đặc trưng cho hình thức liên hiệp thuế quan được thành lập vào năm 1957 bao gồm 6 nước thành viên đó là Tây Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Lucxembua, và Hà lan Giai đoạn này hoàn tất vào tháng 7/1968

1.1.4.3 Thị trường chung (Common Market)

Đây là một liên minh quốc tế ở mức độ cao hơn liên minh thuế quan Hình thức liên kết này áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một bước là hình thành thị trường thống nhất cho phép

tự do di chuyển tư bản và lao động giữa các nước thành viên với nhau

Trang 7

Ví dụ Cộng đồng kinh tế Châu Âu trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 1980, tiến trình xây dựng thị trường chung bị chậm lại do khủng hoảng kinh tế và sự sụp đổ của

hệ thống Bretton Woods Từ năm 1980 đến năm 1982 đây là giai đoạn hoàn thành việc thành lập thị trường chung xóa bỏ đường biên giới nội bộ, đưa ra nguyên tắc công nhận lẫn nhau và tạo điều kiện cho sự lưu thông tự do của hàng hóa, dịch vụ, sức lao động, và vốn đầu tư

1.1.4.4 Liên minh tiền tệ (Monetary Union)

Đây là một liên minh quốc tế chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ trong đó các nước thành viên thực hiện thống nhất các giao dịch tiền tệ, thống nhất về đồng tiền dự trữ và phát hành đồng tiền tập thể cho các nước trong liên minh Đây là một hình thức liên kết kinh

tế tiến tới phải thành lập một quốc gia kinh tế chung với những đặc trưng sau:

- Xây dựng chính sách kinh tế chung trong đó có chính sách ngoại thương chung

- Hình thành đồng tiền chung thống nhất thay cho đồng tiền riêng của các nước thành viên

- Thống nhất chính sách lưu thông tiền tệ

- Xây dựng hệ thông ngân hàng chung thay cho các ngân hàng trung ương của các nước thành viên

- Xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng chung đối với các nước ngoài liên minh và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Một ví dụ rõ nét để minh họa cho hình thức liên kết này chính là liên minh Châu

Âu (EU) sau khi hiệp ước Maastricht , các nước tiến hành thành lập Liên minh tiền tệ Châu Âu (EMU) Ngày 1/1/1999 chính thức cho ra đời đồng EURO Ngày 1/1/2002, đồng EURO tiền mặt được đưa vào lưu hành và việc đổi tiền EURO diễn ra trong 6 tháng Từ ngày 1/7/2002, các đồng tiền của các nước thành viên thay thế bằng đồng EURO

1.1.4.5 Liên minh kinh tế (Economic Union)

Đây là hình thức liên kết kinh tế quốc tế với mức độ cao hơn về sự tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ, sức lao động và tư bản giữa các nước thành viên, đồng thời có biểu thuế quan chung áp dụng với các nước không phải là thành viên Liên minh kinh tế thực hiện thống nhất, hài hòa các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ giữa các nước thành viên

Liên minh Châu Âu là một mô hình liên kết khu vực ở mức độ cao với đồng tiền chung, chính sách kinh tế chung, chính sách ngoại giao và an ninh chung EU có các thể chế siêu quốc gia như uỷ ban Châu Âu, nghị viện Châu Âu, Toà án Châu Âu, Ngân hàng Châu Âu

Trang 8

BÀI TẬP VẬN DỤNG

1 Liên kết kinh tế quốc tế bao gồm

A Liên kết kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau

B Liên kết kinh tế quốc tế giữa nhà nước thuộc các quốc gia khác nhau

C Tất cả các phương án trên

2 Những phát biểu nào sau đây là đúng:

- Khu vực mậu dịch tự do (FTA - Free Trade Area) là hình thức liên kết kinh tế giữa các nước áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong quan hệ thương mại

và còn cho phép di chuyển tự do tư bản, lao động giữa các thành viên

- Thị trường chung (Common Market) là hình thức liên kết kinh tế giữa hai hay nhiều nước, trong đó áp dụng các biện pháp tiến tới xóa bỏ thuế quan và rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa và dịch vụ trong quan hệ buôn bán giữa các nước thành viên nhằm hình thành thị trường thống nhất về hàng hóa dịch vụ

Tiết 3 (Mục 1.1.5)

1.1.5 Xu thế phát triển của kinh tế quốc tế hiện nay

Nền kinh tế thế giới ngày nay chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau như kinh tế, kĩ thuật, xã hội, chính trị cũng như các nhân tố tự nhiên Vì vậy, sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng diễn ra theo nhiều xu thế nhưng trong đó có 3 xu thế giữ vai trò chủ đạo trong định hướng sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của từng quốc gia nói riêng là:

1.1.5.1 Xu thế chuyển dịch từ kinh tế vật chất sang kinh tế tri thức

Từ trước đến nay nền kinh tế thế giới vẫn đang hoạt động chủ yếu dựa vào những

cơ sở vật chất - kỹ thuật truyền thống Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới thì cơ

sở này ngày càng không đáp ứng được Tại các nước công nghiệp phát triển, kỹ thuật cơ khí hoá đã đạt trình độ cao và các nguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng nguyên liệu rắn - lỏng, các vật liệu kim khí đều đã được tận dụng cao độ và nguồn cung cấp chúng ngày càng hạn chế

Bước sang thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước thời cơ mới và nhân loại đang từng bước đi vào sử dụng tri thức cho phát triển và đang hình thành nền kinh tế dựa vào tri thức, sử dụng nhanh và gần như trực tiếp các thành tựu của khoa học công nghệ vào phục vụ đời sống sản xuất Theo đánh giá của các nhà tương lai học, thế giới đang

Trang 9

chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, trong đó khả năng hiểu biết của con người đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông đã được ứng dụng ngày càng nhiều trong các mặt của đời sống xã hội Đó là người máy công nghiệp sẽ thay thế những người lao động, thậm chí là quá trình lao động trí óc cũng được người máy thay thế Các nguồn năng lượng mặt trời và nhiệt hạch sẽ phổ biến và thay thế cho những nguồn năng lượng hiện

có Các chất siêu dẫn, siêu cứng, siêu sạch, siêu bền sẽ thay thế các vật liệu truyền thống Công nghệ vi sinh, công nghệ gen sẽ phát triển Không gian của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại Dương và vũ trụ Khi đó, nền sản xuất sẽ đảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản xuất vật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé

so với các khu vực sản xuất dựa trên tri thức

Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Nền kinh tế này là đặc trưng của cách mạng khoa học và công nghệ mới trên thế giới Từ cuối thế kỷ XX được đặc trưng bởi những phát minh khoa học trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ mới làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần về mặt công cụ sản xuất, làm nổi bật tầm quan trọng của trí lực, tri thức và thông tin Trong nền kinh tế này, ngành nông - công nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nên chủ yếu phát triển ngành công nghiệp có hàm lượng KHCN cao Do vậy, có thể nói nền kinh tế tri thức đã khắc phục được những hạn chế của nền kinh tế vật chất như tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Đồng thời, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Để có thể thực hiện bước quá độ sang nền kinh tế tri thức, các nước trên thế giới

dù thuộc chế độ chính trị nào cũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến trúc thượng tầng, nhưng theo cách riêng của mình Bất cứ quốc gia nào, muốn đạt được sự phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá đều phải giải quyết hai vấn

đề cơ bản: Một là, tạo ra phát minh mới trên các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao (vi điện

tử, năng lượng, vật liệu, công nghệ) hoặc du nhập chúng và áp dụng nhanh chóng vào sản xuất Hai là, chuyển nhượng sang nơi khác các kỹ thuật trung gian và truyền thống

Hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết và đòi hỏi có sự phối hợp toàn cầu nếu không chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian truyền thống sang các nước kém phát triển hơn thì các tiến bộ kỹ thuật dù có đạt được cũng không có nơi sử dụng hoặc việc áp dụng

có nhiều hạn chế Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao nên họ áp dụng nhiều biện pháp để dành được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện kế hoạch đầu tư cho nghiên cứu khoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi dưỡng và thu hút nhân tài, thành lập các trung tâm khoa học kỹ thuật cao Ngược lại, ở

Trang 10

các nước đang phát triển thì để xây dựng những ngành công nghiệp hiện đại cho nền kinh

tế của mình đa số các quốc gia đi theo hai hướng Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian

và truyền thống của các nước phát triển trên cơ sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế giới Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào sản xuất để tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại

1.1.5.2 Xu thế mở cửa kinh tế quốc gia

Mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh về kinh tế thì không thể tồn tại một cách “độc lập” về kinh tế, không thể thực hiện chính sách “đóng cửa” nền kinh tế mà phải tham gia hợp tác cùng các quốc gia khác Việc mở cửa được thực hiện bằng hoạt động giao lưu kinh tế thương mại, trao đổi khoa học công nghệ, phân công lao động quốc tế và tham gia vào các tổ chức quốc tế của các quốc gia Khi đó, nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu biệt lập sang đối thoại hợp tác Trước năm 1990, do có sự mâu thuẫn về mặt chính trị giữa các nước TBCN và XHCN nên nền kinh tế thế giới ở trạng thái đối đầu biệt lập tức chỉ có các nước TBCN phát triển mới mở cửa còn các nước đang và kém phát triển thực hiện đóng cửa nền kinh tế (tự sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng chứ không phụ thuộc vào bên ngoài) Sau năm 1990, xu hướng chung của thế giới là mở cửa nền kinh tế tức có quan hệ hợp tác với bên ngoài Và cơ sở khách quan cho việc hình thành chính sách mở cửa của nền kinh tế mỗi quốc gia đó là:

- Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ nên phải coi thị trường thế giới vừa là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho nền kinh tế mỗi quốc gia

- Do sự tác động mạnh của khoa học công nghệ, của sự phân công lao động quốc

tế, do vai trò và tầm hoạt động của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn bề sâu Thể chế kinh tế thế giới chuyển biến theo hướng thị trường hóa nền kinh tế của từng quốc gia, quốc tế hóa thể chế kinh tế giữa các nước theo hướng mở cửa với sự xuyên suốt của

cơ chế thị trường, theo hướng nhất thể hóa và tập đoàn hóa kinh tế khu vực

Thực tế chỉ ra rằng, mọi quốc gia đều có sự phụ thuộc vào các quốc gia khác ở mức độ khác nhau về sản phẩm, công nghệ, khoa học kỹ thuật, lao động, vốn đầu tư nên

mở cửa nền kinh tế của mình là một xu hướng tất yếu bởi sự khép kín trong một quốc gia không còn phù hợp nữa

Việc một quốc gia thực hiện mở cửa nền kinh tế của mình thực chất là quá trình

mở rộng giao lưu kinh tế thương mại, khoa học công nghệ với nước ngoài Đồng thời, tham gia sâu rộng vào sự trao đổi và phân công lao động quốc tế nhằm thúc đẩy nền kinh

tế quốc gia phát triển Nhận thức được điều này, các quốc gia tiến hành mở cửa nền kinh

Ngày đăng: 06/11/2023, 14:23