Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, và Việt Nam đã và đang bắt kịp xu thế đó. Trước xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt nam phải cần phải xây dựng một môi trường pháp lý an toàn, minh bạch khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ dân sự quốc tế. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dân sự quốc tế nói chung nhằm tạo một khuôn khổ pháp lý cho các quan hệ dân sự quốc tế phát triển. Đây là yêu cầu thực tiễn, không chỉ đối với các đối tác nước ngoài mà đối với bên Việt Nam cũng cần có một môi trường pháp lý thuận lợi an toàn, tránh rủi ro cho các bên. Và trong phạm vi bài viết, em sẽ đi sâu nghiên cứu về Đề số 23 “Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” để hiểu rõ hơn về pháp luật Việt Nam trong việc quy định các cơ sở pháp lý cho các hợp đồng dân sự quốc tế.
Trang 1MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang
là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, và Việt Nam đã và đang bắt kịp
xu thế đó Trước xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt nam phải cần phải xây dựng một môi trường pháp lý an toàn, minh bạch khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ dân sự quốc tế
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dân sự quốc tế nói chung nhằm tạo một khuôn khổ pháp lý cho các quan hệ dân
sự quốc tế phát triển Đây là yêu cầu thực tiễn, không chỉ đối với các đối tác nước ngoài mà đối với bên Việt Nam cũng cần có một môi trường pháp lý thuận lợi an toàn, tránh rủi ro cho các bên
Và trong phạm vi bài viết, em sẽ đi sâu nghiên cứu về Đề số 23 “Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” để hiểu rõ hơn về pháp luật Việt Nam trong việc quy định các cơ sở pháp
lý cho các hợp đồng dân sự quốc tế
NỘI DUNG
I Khái quát về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
1 Khái niệm hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
1.1 Khái ni m h p đ ng dân s có y u t n ệm hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ồng dân sự có yếu tố nước ngoài ự có yếu tố nước ngoài ếu tố nước ngoài ố nước ngoài ước ngoài c ngoài
Hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Để nhận diện hợp đồng trong tư pháp quốc tế, cần lưu ý tới
Trang 2hai khái niệm đó là “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng” và “có yếu tố nước
Thứ nhất, Hợp đồng dân sự quốc tế là “hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng” Theo Điều 385 BLDS 2015: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý” Ngoài các hợp đồng được quy định trong bộ luật dân sự thì các loại hợp đồng
về thương mại, lao động đều là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng
Thứ hai, hợp đồng dân sự trong tư pháp quốc tế “có yếu tố nước ngoài”
Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định về các dấu hiệu riêng của quan hệ hợp đồng dân sự mà quy định chung về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài khi thuộc các trường hợp: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự(1) có ít nhất một bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài hoặc là (2) các bên tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó lại xảy ra ở nước ngoài hoặc (3) các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhận Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài
1.2 Khái ni m hình th c h p đ ng dân s có y u t n ệm hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ồng dân sự có yếu tố nước ngoài ự có yếu tố nước ngoài ếu tố nước ngoài ố nước ngoài ước ngoài c ngoài
Hình thức của hợp đồng không được giải thích trong luật nhưng được hiểu
là cách ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung hợp đồng, hay hình thức hợp đồng chính là cách thể hiện, chứa đựng các điều khoản do các bên chủ thể thỏa thuận Trên thực tế, sự thỏa thuận của các bên có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản, ghi âm, ghi hình, lời nói, hành vi, dữ liệu điện tử, Để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng thì hình thức của hợp đồng trong một số trường hợp cũng là một yêu cầu bắt buộc
1 Trường Đại học Luật Hà Nôi, giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr.408.
Trang 3Hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hình thức của hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng và có “yếu tố nước ngoài”
1.3 nh h Ảnh hưởng của hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có ưởng của hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có ng c a hình th c t i hi u l c c a h p đ ng dân s có ủa hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có ức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ớc ngoài ệm hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ự có yếu tố nước ngoài ủa hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có ợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ồng dân sự có yếu tố nước ngoài ự có yếu tố nước ngoài
y u t n ếu tố nước ngoài ố nước ngoài ước ngoài c ngoài
Thực chất, việc yêu cầu hình thức bắt buộc đối với hợp đồng phục vụ nhiều mục đích khác nhau như: để đảm bảo vấn đề chứng cứ; để đối kháng với người thứ ba hoặc là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Đối với những hợp đồng yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng – tức là phải đảm bảo hình thức bắt buộc đó thì hợp đồng mới có hiệu lực thì nếu vi phạm về hình thức hợp đồng có thể dẫn tới hợp đồng bị vô hiệu Do
đó, khi các bên giao kết hợp đồng dân sự quốc tế với nhau, cần chú ý quan tâm tới hình thức của hợp đồng để đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu do vi phạm
về hình thức
2 Khái niệm xung đột phát luật về hình thức hợp đồng, giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng
có thể áp dụng để điều chỉnh hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Và để giải quyết, vấn đề đặt ra là áp dụng pháp luật nước nào để xác định tính hợp pháp của hình thức hợp đồng đó nói riêng và tính hợp pháp của hợp đồng nói chung
Trang 43 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Xung đột về hình thức của hợp đồng nói riêng hay xung đột về hợp trong
tư pháp nói chung được giải quyết bằng 02 phương pháp điều chỉnh cơ bản,đó là: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
- Phương pháp thực chất: là phương pháp trực tiếp giải quyết ngay quan
hệ pháp lý phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước
- Phương pháp xung đột: là phương pháp điều chỉnh quan hệ một cách gián tiếp Phương pháp này không đưa ra phương án giải quyết trực tiếp ngay quan hệ pháp lý phát sinh mà điều chỉnh các quan hệ này bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan, rồi dùng hệ thống pháp luật được chọn ra ấy để giải quyết quan hệ pháp lý phát sinh Để giải quyết xung đột về hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, phương pháp được sử dụng chủ yếu cũng là phương pháp xung đột
II Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng
1 Quy định trong BLDS năm 2015 về hình thức hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Khoản 7 Điều 683 BLDS 2015 của Việt Nam quy định: “Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp
2 Giáo trình Tư pháp quốc tế, Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr.13
Trang 5dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận ở Việt Nam.”
- Trong quy định này, có thể hiểu thuật ngữ “pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó” là pháp luật điều chỉnh những vấn đề pháp lý của hợp đồng bao gồm nội dung, hình thức, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và những vấn đề pháp lý khác của hợp đồng được quy định tại Khoản 1 Điều 683
Theo quy định trên thì xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng được giải quyết theo Luật áp dụng với hợp đồng, Luật nơi ký kết hợp đồng, Luật Việt Nam Các hình thức hợp đồng được công nhận hợp pháp tại Việt Nam là: (i) Hình thức hợp đồng hợp pháp theo pháp luật áp dụng với toàn bộ hợp đồng (bao gồm nội dung, hình thức và các vấn đề khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng); (ii) Hình thức hợp đồng phù hợp với pháp luật nơi ký kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam
2 Đánh giá
2.1 Nh ng đi m ti n b so v i BLDS năm 2005 ững điểm tiến bộ so với BLDS năm 2005 ểm tiến bộ so với BLDS năm 2005 ếu tố nước ngoài ộ so với BLDS năm 2005 ớc ngoài
- (i) Trước đây, trong BLDS năm 2005, quy định về hình thức hợp đồng nằm trong một điều luật riêng là Điều 770, nay đã được gộp chung vào thành một điều luật Sự thay đổi số lượng điều luật điều chỉnh vê quan hệ hợp đồng cũng là để thu gọn số điều luật, tạo sự thống nhất trong cả phần năm, mỗi loại quan hệ được quy định trong duy nhất một điều luật, vừa dễ nhớ và cũng tạo sự
- (ii) Mở rộng điều kiện hình thức của hợp đồng dân sự quốc tế được thừa nhận tại Việt Nam Nếu như BLDS 2005 quy định hình thức của hợp đồng giao
3 Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015, tr.1084
Trang 6kết được công nhận tại Việt Nam khi phù hợp với pháp luật nơi giao kết hợp đồng hoặc phù hợp với pháp luật Việt Nam về hình thức hợp đồng (Khoản 1 Điều 770) thì tới BLDS 2015, hình thức của hợp đồng được bổ sung thêm một trường hợp có được thừa nhận tại Việt Nam là phù hợp với “pháp luật áp dụng đối với hợp đồng” Sự bổ sung này thể hiện sự tôn trọng đối với sự thỏa thuận chọn luật áp dụng của các chủ thể, sự thống nhất về pháp luật được lựa chọn điều chỉnh cả về nội dung, hình thức, các vấn đề pháp lý khác sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc ký kết hợp đồng dân sự Quy định về hình thức của hợp đồng dân sự quốc tế tại BLDS 2015 đã tiếp thu BLDS 2005 cũng như bổ sung, hoàn thiện hơn để phù hợp với thực tiễn xã hội, tạo thuận lợi hơn cho các chủ thể trong quan hệ hợp đồng dân sự quốc tế cũng như tạo một cơ sở pháp lý để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng cho các chủ thể
2.2 So sánh v i quy đình v hình th c h p đ ng trong Công ớc ngoài ề hình thức hợp đồng trong Công ước ức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài ồng dân sự có yếu tố nước ngoài ước ngoài c Vienna 1980 v Mua bán hàng hóa qu c t (CISG) ề hình thức hợp đồng trong Công ước ố nước ngoài ếu tố nước ngoài
- Theo BLDS 2015, hợp đồng dân sự có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ một số loại hợp đồng có yêu cầu riêng Trong khi đó, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luật Thương mại 2005 chỉ công nhận theo hình thức bằng văn bẳn hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp
lý tương đương CISG đã công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng, nghĩa là một hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản mà
có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng hành vi và có thể chứng minh được bằng mọi cách, kể cả lời khai của nhân chứng (Điều 11 Công ước Viên 1980) Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức hợp đồng Tuy nhiên CISG cho phép các thành viên có quyền tuyên bố bảo lưu đối với nội dung và hình thức của hợp đồng nên Việt Nam hoàn toàn có thể tuyên bố bảo lưu nội dung này để đảm bảo sự tương thích với pháp luật trong nước
Trang 72.3 Nh ng h n ch , v ững điểm tiến bộ so với BLDS năm 2005 ạn chế, vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào thực ếu tố nước ngoài ước ngoài ng m c khi áp d ng pháp lu t vào th c ắc khi áp dụng pháp luật vào thực ụng pháp luật vào thực ật vào thực ự có yếu tố nước ngoài
ti n ễn
- Hình thức được xác định theo “nơi ký kết hợp đồng” khó có thể xác định trong trường hợp các bên ký kết hợp đồng bằng các phương tiện thương mại điện
tử Từ đó, pháp luật nên có hướng dẫn cụ thể về quy định hình thức hợp đồng xác định theo nơi ký kết hợp đồng đối với trường hợp trên
- Ngoài ra về hợp đồng dân sự quốc tế có đối tượng là bất động sản cũng đặt ra một số xung đột về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Việc hình thức của hợp đồng chỉ được thừa nhận hợp pháp khi phù hợp với một trong ba điều kiện tại Khoản 7 Điều 683 dường như vẫn chưa đủ để hình thức của hợp đồng hợp pháp Xét ví dụ sau: Hợp đồng dân sự quốc tế có đối tượng của hợp đồng là bất động sản tại Việt Nam, hai bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật Anh, hình thức hợp đồng không phải bằng văn bản hay hình thức có giá trị tương đương và được ký kết tại Việt Nam Theo quy định tại Khoản 4, pháp luật áp dụng đối với đối tượng bất động sản phải là pháp luật Việt Nam Như vậy, vô hình chung, hình thức của hợp đồng là không được thừa nhận tại Việt Nam Vì hình thức của hợp đồng không phù hợp với pháp luật áp dụng với hợp đồng (Luật Việt Nam), không phù hợp với pháp luật nơi ký kết hợp đồng (Luật Việt Nam) và đương nhiên, không phù hợp với pháp luật Việt Nam Như vậy, phải chăng, pháp luật Việt Nam nên mở rộng phạm vi để hình thức của hợp đồng được hợp pháp, bởi trên thực tế, ý chí tham gia của các chủ thể là hoàn toàn tự nguyện và có thiện chí để thực hiện hợp đồng
2.4 Nh n xét chung ật vào thực
Thực trạng hệ thống quy phạm của pháp luật Việt Nam về giải quyết XĐPL
về hình thức hợp đồng tuy còn tồn tại một số hạn chế nhưng về cơ bản đã có nhiều điểm tiếp thu, tiến bộ hơn so với các quy phạm cũ; có sự phù hợp với
Trang 8thông lệ quốc tế và tương thích với hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể đối với việc giải quyết XĐPL về hình thức hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế được bảo đảm về mặt hình thức của hợp đồng
III Một số kiến nghị khắc phục những vướng mắc về hình thức hợp đồng
1 Đề xuất biện pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
- Bổ sung quy định cho phép các bên được lựa chọn pháp luật áp dụng cho từng phần của hợp đồng
Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định về việc các bên được lựa chọn pháp luật áp dụng cho một phần hợp đồng hay không Đối với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường là những vấn đề phức tạp và các bên khó lường trước được cho nên BLDS Hơn nữa, đây là hợp đồng “dân sự” nên cần tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên về pháp luật áp dụng đối với hợp đồng Vậy nên pháp luật cần quy định theo hướng cho phép các bên được lựa chọn pháp luật áp dụng cho từng phần của hợp đồng và được lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật
- Hình thức thể hiện sự lựa chọn luật áp dụng của các bên
Pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể về hình thức thể hiện sự lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài Bởi vậy, pháp luật Việt Nam cần bổ sung quy định về hình thức thể hiện sự thỏa thuận chọn luật áp dụng trong hợp đồng theo hướng việc chọn luật áp dụng phải được thể hiện rõ bằng các điều khoản trong hợp đồng và không chấp nhận hình thức thỏa thuận ngầm trong việc lựa chọn luật áp dụng Đồng thời, pháp luật Việt Nam cũng cần quy định rõ nếu các bên không đáp ứng được yêu cầu này thì thỏa thuận lựa chọn
Trang 9luật áp dụng sẽ không có hiệu lực Bởi một số lí do như sau:(i) Do điều kiện các chủ thể Việt Nam gần đây mới tham gia giao lưu thương mại quốc tế với các chủ thể nước ngoài nên chưa có sự hiểu biết pháp luật nói chung và nhất là trong việc
ký kết hợp đồng với các chủ thể có yếu tố nước ngoài nói riêng Vì vậy, việc quy định rõ ràng trong hợp đồng về luật áp dụng sẽ tránh cho các bên sự tranh chấp không cần thiết (ii) Việc giải thích áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam còn chưa có sự thống nhất cao Do đó, việc quy định rõ ràng trong hợp đồng sẽ giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được ý chí của các bên khi giải thích hợp đồng trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên
2 Các đề xuất khác
- Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp các vụ việc có yếu tố nước ngoài của thẩm phán Việt Nam
Trong thực tiễn, việc giải quyết tranh chấp của Tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp có liên quan đến xung đột pháp luật về hợp đồng quốc tế, các thẩm phán đôi khi không áp dụng quy phạm xung đột để giải quyết tranh chấp mà xác định luật áp dụng là pháp luật Việt Nam Đây là cách làm trái ngược với những nguyên tắc chung được đề ra trong tư pháp quốc tế Để giải quyết tranh chấp phát sinh, các thẩm phán phải có hiểu biết sâu sắc về tư pháp quốc tế nước mình
và các quy phạm xung đột Thực tế đòi hỏi nhà nước, tòa án nhân dân tối cao thường xuyên có lớp tập huấn, chương trình đào tạo nâng cao cho các thẩm phán
để bổ sung kiến thức, cập nhập thường xuyên về thực tiễn tư pháp quốc tế, đặc biệt là những quy phạm xung đột
Ngoài ra, một thực tế là khi sử dụng các quy phạm xung đột có những trường hợp thẩm phán Việt Nam phải sử dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết
Trang 10tranh chấp liên quan đến hợp đồng dân sự quốc tế Việc thiếu hiểu biết về pháp luật nước ngoài cũng là một khó khăn, hạn chế trong quá trình xét xử của thẩm phán Việt Nam Để giải quyết các khó khăn này, nhà nước và tòa án nhân dân tối cao cần có một trung tâm hỗ trợ pháp lý để thường xuyên cập nhập về thực tiễn
tư pháp quốc tế Qua đó, giúp các thẩm phán Việt Nam hoàn thiện công tác xét
xử liên quan đến tranh chấp về hợp đồng dân sự quốc tế
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tư pháp quốc tế
Các thương nhân Việt Nam khi tham gia ký kết các hợp đồng dân sự quốc
tế còn thiếu những hiểu biết chung nhất và tư pháp quốc tế Vì vậy, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến các vấn đề tư pháp quốc tế, đặc biệt là những vấn
đề liên quan đến xung đột pháp luật trong quá trình tham gia ký kết các hợp đồng này
KẾT LUẬN
Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì có nhiều chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau đến Vệt Nam để tiến hành hoạt động kinh doanh Khi tiến hành giao kết hợp đồng các chủ thể từ các quốc gia với hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật về hợp đồng nói chung và về hình thức hợp đồng nói riêng
Hoàn thiện pháp luật giải quyết xung đội pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài là yêu cầu khách quan, xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn khi Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như WTO, ASEAN, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Việc hoàn thiện các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng tạo cơ chế pháp luật phù hợp với tiến trình hội nhập với kinh tế thế giới của Việt Nam