1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập giải quyết xung đột pháp luật trong tpqt

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 38,14 KB
File đính kèm bài tập giải quyết xung đột pháp luật trong tpqt.rar (34 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Câu 1 Công ty A (Thái Lan), công ty B (Việt Nam), B ký hợp đồng mua vải lụa tơ tằm từ công ty A Trong hợp đồng các bên thoả thuận lựa chọn toà án Singapore để giải quyết tranh chấp phát sinh Đồng Đồng thời các bên thoả thuận lựa chọn pháp luật Singapore để giải quyết tất cả các vấn đề phát sinh từ tranh chấp của hợp đồng. Công ty A giao hàng kém chất lượng, công ty B khởi kiện tại toà án Việt Nam.Chị M (Việt Nam) kết hôn anh J (Hàn Quốc). Nếu là chuyên gia pháp lý về lĩnh vực hôn nhân gia đình anh chị hãy tư vấn các vấn đề

Trang 1

Câu 1 Công ty A (Thái Lan), công ty B (Việt Nam), B ký

hợp đồng mua vải lụa tơ tằm từ công ty A Trong

hợp đồng các bên thoả thuận lựa chọn toà án

Singapore để giải quyết tranh chấp phát sinh Đồng

thời các bên thoả thuận lựa chọn pháp luật Singapore

để giải quyết tất cả các vấn đề phát sinh từ tranh chấp

của hợp đồng Công ty A giao hàng kém chất lượng,

công ty B khởi kiện tại toà án Việt Nam

1 Giả sử toà án Việt Nam từ chối thụ lý và giải

quyết tranh chấp này vì lý do các bên đã lựa chọn

Toà án Singapore và pháp luật Singapore Quan điểm

của anh chị về quyết định này?

2 Giả sử toà án Việt Nam có thẩm quyền, pháp

luật Singapore có đương nhiên được áp dụng để giải

quyết tranh chấp giữa các bên hay không?

3 Giả sử toà án Việt Nam có thẩm quyền, anh

chị hãy giải quyết xung đột pháp luật về tư cách chủ

thể giao kết hợp đồng?

4 Giả sử toà án Việt Nam có thẩm quyền, anh

chị hãy giải quyết xung đột pháp luật về hình thức

của hợp đồng?

2,0 điểm

2,0 điểm 1,5 điểm 1,5 điểm

Câu 2 Chị M (Việt Nam) kết hôn anh J (Hàn Quốc) Nếu là

chuyên gia pháp lý về lĩnh vực hôn nhân gia đình

anh chị hãy tư vấn các vấn đề sau:

1 Liên quan đến vấn đề pháp luật áp dụng, nếu

họ kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền Việt Nam

thì họ cần phải tuân theo những điều kiện gì?

2 Giả sử họ kết hôn trước cơ quan có thẩm

quyền tại Hàn Quốc và sau đó có dự định về Việt

Nam sinh sống Anh chị cần tư vấn cho họ vấn đề gì?

1,5 điểm

1,5 điểm

Trang 2

PHẦN BÀI LÀM:

Câu 1:

1. Tòa án Việt Nam từ chối thụ lý và giải quyết tranh chấp này vì lý do các bên đã lựa chọn Tòa án Singapore và pháp luật Singapore là hợp lý (đúng) nếu như vụ việc dân sự trên thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 472 Bộ luật tố tụng

dân sự 2015: “Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ

giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc đó.”

Như vậy, khi vụ việc dân sự trên thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam theo quy định tại Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (nếu việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;1 hoặc nếu việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam2) và các bên được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng thì Tòa án Việt Nam không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này, phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu

2 Giả sử Tòa án Việt Nam có thẩm quyền, pháp luật Singapore không đương nhiên áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên Pháp luật Singapore phải thỏa mãn điều kiện chọn luật về hình thức, quyền chọn luật, nội dung và không lẩn tránh pháp luật thì mới được áp dụng

- Hình thức: có thỏa thuận về việc chọn luật, tự nguyện, bình đẳng…

- Quyền chọn luật: quy định tại khoản 2, Điều 664 Bộ luật dân sự 2015: “Trường

hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.”

1 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 469, khoản 1, điểm đ.

2 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 469, khoản 1, điểm e.

Trang 3

Trong trường hợp này, chưa có điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nên căn

cứ theo luật Việt Nam tại khoản 1 Điều 683 Bộ luật dân sự 2015: “Các bên trong

quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng”,

như vậy các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán trên có quyền chọn pháp luật áp dụng, cụ thể là các bên chọn pháp luật Singapore

- Về nội dung: luật do các bên lựa chọn có tính khả thi: quy phạm thực chất (khoản 4 Điều 668 Bộ luật dân sự 2015) và không trái nguyên tắc cơ bản (Điều 670 Bộ luật dân sự)

- Không nhằm mục đích lẩn tránh pháp luật

Pháp luật Singapore không đương nhiên áp dụng khi Tòa án Việt Nam có thẩm quyền

mà chỉ được áp dụng khi thỏa mãn điều kiện chọn luật (Trường hợp này việc thỏa thuận lựa chọn pháp luật Singapore đã thỏa mãn về hình thức và quyền chọn luật, cần thỏa mãn cả về nội dung, có tính khả thi, không trái nguyên tắc cơ bản, không lẩn tránh pháp luật thì mới được áp dụng.)

3 Giả sử Tòa án Việt Nam có thẩm quyền, sử dụng phương pháp thực chất và phương pháp xung đột để giải quyết xung đột pháp luật về tư cách chủ thể (năng lực pháp luật dân sự pháp nhân và người đại diện pháp nhân) giao kết hợp đồng như sau: Chủ thể giao kết hợp đồng trên là công ty A và công ty B (pháp nhân)

Trường hợp này chưa có Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, căn cứ theo pháp luật Việt Nam:

- Với năng lực pháp luật dân sự pháp nhân, Điều 676 Bộ luật dân sự 2015: “1.

Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập.”, “2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch,” và “3 Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.”

Vậy, năng lực pháp luật dân sự của công ty A (Thái Lan) và công ty B (Việt Nam) được xác định như sau:

Công ty A (Thái Lan): theo nguyên tắc thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Công ty A sẽ được xác định theo pháp luật Thái Lan - nước mà pháp nhân có quốc

Trang 4

tịch Tuy nhiên, nếu hợp đồng mua bán trên xác lập, thực hiện tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó (Công ty A) được xác định theo pháp luật Việt Nam

Công ty B (Việt Nam): năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Công ty B sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam-nước mà pháp nhân có quốc tịch

- Với người đại diện pháp nhân: năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân

sự và thẩm quyền ký kết

Về năng lực pháp luật dân sự, tại Điều 673 Bộ luật dân sự 2015: “1 Năng lực pháp

luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.” và “2 Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.”

Về năng lực hành vi dân sự, tại Điều 674 Bộ luật dân sự 2015: “1 Năng lực hành vi

dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch.” và “2 Trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.”

Thẩm quyền ký kết: được quy định trong văn bản xác định về vấn đề ủy quyền của cá nhân và pháp nhân, xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch Vậy, người đại diện pháp nhân công ty A và công ty B: năng lực pháp luật dân sự được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, năng lực hành vi dân

sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, thẩm quyền ký kết được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch Nếu người đại diện pháp nhân công ty A và công ty B là người nước ngoài tại Việt Nam thì có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ một số trường hợp Nếu người đại diện pháp nhân công ty A và công ty B là người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người đó được xác định theo pháp luật Việt Nam

*Trường hợp người đại diện pháp nhân là người nhiều quốc tịch, người không quốc tịch thì căn cứ Điều 672 Bộ luật dân sự 2015:

Người nhiều quốc tịch: người nhiều quốc tịch trong đó có quốc tịch Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật Việt Nam, người nhiều quốc tịch không có quốc tịch Việt Nam thì năng lực pháp luật dân

Trang 5

sự và năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật nước mà người đó có quốc tịch

và nước có mối liên hệ gắn bó mật thiết nhất.3

Người không quốc tịch: năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất.4

Thẩm quyền ký kết của người không quốc tịch và người nhiều quốc tịch được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch

4 Giả sử toà án Việt Nam có thẩm quyền, giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hợp đồng như sau:

Căn cứ khoản 7, Điều 683 Bộ luật dân sự 2015: “Hình thức của hợp đồng được xác

định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.”

Như vậy, hình thức của hợp đồng mua bán trên được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó (theo thỏa thuận nếu đáp ứng điều kiện chọn luật, không có thỏa thuận thì theo pháp luật nước có mới quan hệ gắn bó nhất), ví dụ nếu pháp luật Singapore được áp dụng thì hình thức của hợp đồng cũng được xác định theo pháp luật Singapore

Tuy nhiên, nếu hợp đồng trên không phù hợp hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng (có thể là Việt Nam, Thái Lan hay một nước thứ ba khác) hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó vẫn được công nhận tại Việt Nam

3 Bộ luật dân sự 2015, Điều 672, khoản 2.

4 Bộ luật dân sự 2015, Điều 672, khoản 1.

Trang 6

Câu 2:

1 Liên quan đến vấn đề pháp luật áp dụng, nếu họ kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thì họ cần phải tuân theo những điều kiện về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

Trường hợp này chưa có Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên nên căn cứ theo pháp luật Việt Nam,

- Về điều kiện kết hôn, Căn cứ khoản 1, Điều 126 Luật hôn nhân và gia đình

2014: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên

phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.”

Chị M (Việt Nam) phải tuân theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và Anh J (Hàn Quốc) phải tuân theo pháp luật Hàn Quốc về điều kiện kết hôn

Tuy nhiên, do chị M và anh J kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền Việt Nam nên anh

J (Hàn Quốc) còn phải tuân theo các quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn, nghĩa là anh J phải đồng thời tuân theo cả pháp luật Hàn Quốc và pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn

- Về nghi thức kết hôn: theo pháp luật Việt Nam quy định tại các Điều 38 Luật

hộ tịch 2014; khoản 1 Điều 18, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về đăng ký kết hôn

2 Giả sử họ kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền tại Hàn Quốc và sau đó có dự định về Việt Nam sinh sống Tư vấn về các vấn đề sau:

- Vấn đề ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết ở nước ngoài quy định tại các Điều 34, 35, 36 Nghị định 123/2015/NĐ-CP Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều 48, 50 Luật hộ tịch 2014

- Theo khoản 2, Điều 673 Bộ luật dân sự 2015 anh J (Hàn Quốc) có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam khi sinh sống tại Việt Nam, trừ một số trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác5 và khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của anh J được xác định theo pháp luật Việt Nam

5 Bộ luật dân sự 2015, Điều 673, khoản 2.

Trang 7

- Về nghĩa vụ nhân thân, tài sản của vợ chồng khi sinh sống tại Việt Nam: theo quy định tại Điều 130 Luật hôn nhân và gia đình 2014, giải quyết việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng theo pháp luật Việt Nam.6

- Về nghĩa vụ và quyền giữa cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 128 Luật hôn

nhân và gia đình 2014: “Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết

việc xác định cha, mẹ, con mà không có tranh chấp giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà ít nhất một bên thường trú tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về

hộ tịch.” Và “Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài có tranh chấp” Như vậy, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm

quyền xác định cha, mẹ, con khi không có tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền khi có tranh chấp

- Về vấn đề ly hôn theo Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này7 và việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi

có bất động sản đó.8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh [2013], Giáo trình tư pháp quốc tế (phần

chung), NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam.

[2] Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh [2013], Giáo trình tư pháp quốc tế (phần

riêng), NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam.

[3] Luật hôn nhân và gia đình 2014

[4] Luật hộ tịch 2014

[5] Bộ luật dân sự 2015

[6] Bộ luật tố tụng dân sự 2015

[7] Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch

6 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Điều 130.

7 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Điều 127, khoản 1.

8 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Điều 127, khoản 3.

Ngày đăng: 21/02/2023, 05:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w