Do vậy, ở giai đoạn này, trên thực tế, Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam về đối ngoại và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ xứ “An Nam”; trong đó, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và
Trang 1KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA DU LỊCH
BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Lịch sử Việt Nam hiện đại.
Mã học phần: LS6
Học viên thực hiện: Cầm Thị Dương
Mã học viên: LSDL 405
Cơ quan công tác: Trường Tiểu Học và THCS Huy Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Sơn La, tháng 7/ 2023
Trang 2Đề bài: “Khái quát quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ 1945 đến nay Phân định biên giới Việt Nam với các nước trên biển Đông”
Bài làm
1 Quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa từ 1945 đến nay.
a Giai đoạn 1945 - 1954
Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
ra đời đã đánh dấu sự chấm dứt của Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884) Song, lấy
cớ Việt Nam vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, thực dân Pháp tiếp tục can thiệp và đưa quân xâm lược nước ta một lần nữa Do vậy, ở giai đoạn này, trên thực tế, Pháp vẫn thực thi quyền đại diện cho Việt Nam về đối ngoại và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ xứ “An Nam”; trong đó, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
Theo đó, đầu năm 1947, Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Cộng hòa Trung Hoaở đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) và đề nghị giải quyết thông qua trọng tài quốc tế nhưng không nhận được sự hợp tác của chính quyền Tưởng Giới Thạch Ngày 17-10-1947, Pháp đã phái thông báo hạm Tonkinois đến Hoàng Sa để yêu cầu Cộng hòa Trung Hoa rút khỏi Phú Lâm; đồng thời, cử các phân đội vũ trang đóng đồn ở Hoàng Sa, Trường Sa và quyết định lập các đài khí tượng trên hai quần đảo này
Năm 1949, Tổ chức Khí tượng thế giới đã chính thức công nhận và đưa các đài trên vào danh sách Trạm khí tượng quốc tế; trong đó, trạm Phú Lâm, trạm Hoàng Sa (thuộc quần đảo Hoàng Sa) lần lượt mang các số hiệu 48859 và
48860, trạm Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa) mang số 48419 Đây cũng đồng nghĩa với việc cộng đồng quốc tế công khai thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Điều đáng lưu ý là ngày 01-10-1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, buộc các đơn vị của Cộng
Trang 3hòa Trung Hoa rút khỏi đảo Phú Lâm, trong khi đó liên quân Pháp - Việt vẫn duy trì sự đồn trú ở Hoàng Sa và Trường Sa
Mặt khác, với Hiệp ước Hạ Long (tháng 3-1949), Chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao quyền quản lý Nam Kỳ (trong đó có hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà Pháp tuyên bố chiếm hữu từ năm 1933) cho quốc gia Việt Nam (chính phủ Bảo Đại) Điều đó càng thêm khẳng định, Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam (Pháp chỉ là người đại diện trong một khoảng thời gian nhất định)
Đặc biệt, sau khi thực dân Pháp thua trận tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết; trong đó có quy định về ranh giới tạm thời giữa hai miền Nam -Bắc là vĩ tuyến 17 Theo đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (đều nằm về phía Nam vĩ tuyến 17) sẽ đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam cộng hòa Thực hiện các điều khoản của Hiệp định,
Tháng 4-1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Việt Nam cộng hòa đã bắt đầu tiếp quản quyền quản lý hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa Riêng đối với quần đảo Trường Sa, chính quyền Sài Gòn đã cử tàu hộ tống Trung Đông HQ04 do thuyền trưởng Trần Văn Phấn chỉ huy, ngày 22-8-1956 đã đổ bộ lên các đảo, thực hiện cắm cờ, dựng bia chủ quyền và bảo
vệ quần đảo này Như vậy, việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn 1945 - 1954 là liên tục, hòa bình và phù hợp với pháp luật quốc tế
b Giai đoạn 1954 - 1975
Trang 4Bia chủ quyền Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (năm 1961) (Ảnh tư liệu)
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), đất nước ta tạm thời chia làm hai miền: Nam - Bắc với hai chế độ chính trị khác nhau Theo đó, các vùng lãnh thổ
từ vĩ tuyến 17 về phía Nam (bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) do chính thể Việt Nam cộng hòa kiểm soát Thực hiện các điều khoản trong Hiệp định, năm 1956, sau khi Pháp buộc phải rút hết quân khỏi Việt Nam, Chính quyền Sài Gòn đã phái lực lượng hải quân tiếp quản và thực thi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cùng với đó, các hoạt động khảo sát, thăm dò, khai thác sản vật, khoáng sản và nghiên cứu khí tượng, thủy văn cũng được Chính phủ Việt Nam cộng hòa triển khai Trong đó, Sở Hầm mỏ, Kỹ nghệ
và Tiểu thủ công nghiệp miền Nam đã tổ chức nhiều hoạt động, như: khảo sát trên 4 đảo (Hoàng Sa, Quang Ảnh, Hữu Nhật và Duy Mộng) và thăm dò, khai thác phốt-phát ở Hoàng Sa
Mặt khác, để tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường
Sa, từ năm 1961 đến 1963, Chính phủ Việt Nam cộng hòa đã lần lượt xây bia chủ quyền trên các đảo chính, như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây và tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu quốc tế, nhằm phục vụ đời sống dân sinh trên một số đảo Về mặt quản lý nhà nước, Chính quyền Sài Gòn đã ra nhiều nghị định về đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy (năm 1956); quần
Trang 5đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (năm 1961) và thành lập ở đây xã đảo Định Hải
Tuy nhiên, do Pháp rút hết quân đồn trú ở Hoàng Sa và Trường Sa đã để lại khoảng trống bố phòng không nhỏ ở Biển Đông, nhân cơ hội đó, lực lượng nước ngoài đã xâm phạm, chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc hai quần đảo này, Năm 1956 Trung Quốc chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa Trước tình hình đó, Chính quyền Sài Gòn vừa cực lực lên án, phản đối các hành động xâm phạm chủ quyền, vừa tích cực đấu tranh trên trường quốc tế
Tháng 1/1974, trong lúc quân và dân ta đang tập trung sức tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung Quốc đã đem quân ra đánh chiếm toàn
bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Ngày 02-7-1974, tại kỳ họp của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS III) ở Ca-ra-cát (Vê-nê-xu-ê-la), đại diện Việt Nam cộng hòa đã cật lực lên án Trung Quốc xâm chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và tuyên bố chủ quyền không tranh cãi của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ (ngày 26-01-1974); đồng thời, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa là bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam
Đặc biệt, tháng 2-1975, Chính quyền Sài Gòn đã cho công bố Sách trắng
về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và nhận được phản hồi tích cực của cộng đồng quốc tế
Như vậy, với vị thế là nhà nước kế thừa chủ quyền của Việt Nam cộng hòa đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là quốc gia duy nhất sở hữu, quản lý hai quần đảo trên một cách liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế
c Giai đoạn từ 1975 đến nay
Trang 6- Sau chiến thắng 30-4-1975, nước Việt Nam thống nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quản lý toàn bộ lãnh thổ đất nước; trong
đó, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa Theo đó, cùng với tổ chức lực lượng quản lý, bảo
vệ chủ quyền các vùng biển, đảo, Nhà nước Việt Nam ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đối với Hoàng Sa và Trường Sa, điển hình là:
+ Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam;
+ Tuyên bố Việt Nam có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (năm 1994) của Bộ Ngoại giao cùng các quyết định
về thành lập đơn vị hành chính ở hai quần đảo này
- Trên cơ sở đó, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, như:
tổ chức triển lãm các hiện vật lịch sử; nghiên cứu, khảo sát điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng; xây bia chủ quyền, thiết lập các ngọn đèn biển và đưa dân ra sinh sống trên các đảo Đến nay, tại quần đảo Trường Sa, Việt Nam đã sở hữu 09 ngọn đèn biển (được Cơ quan Quỹ đạo quốc tế và Hiệp hội báo hiệu hàng hải thế giới ghi nhận trên hải đồ quốc tế); đồng thời, hình thành cụm dân cư trên các đảo với nhiều công trình thiết yếu, như: nhà ở, trường học, trạm y tế, cảng biển
và các công trình văn hóa (thư viện, chùa chiền), v.v Đây là biểu hiện sinh động nhất về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, được thế giới ghi nhận
- Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện đảo Hoàng Sa (trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng) và huyện đảo Trường Sa (trực thuộc tỉnh Đồng Nai) Hiện nay (sau khi điều chỉnh địa giới hành chính),
Đại tướng Lê Đức Anh,
nguyên Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng thăm, kiểm
tra quần đảo Trường Sa,
Việt Nam (năm 1988)
(Ảnh tư liệu)
Trang 7huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng, huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa Để đáp ứng sự phát triển của thực tiễn
- Tháng 9-1975, tại Hội nghị Khí tượng thế giới ở Cô-lôm-bô, cùng với việc tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam đăng ký Đài khí tượng tại Hoàng Sa vào hệ thống SYNOP của Tổ chức khí tượng quốc
tế (với số hiệu 48.860) và được tổ chức này chấp thuận Liên tiếp trong các hội nghị quốc tế về:
+ Khí tượng châu Á lần thứ 2 (tháng 6-1980)
+ Địa chất quốc tế lần thứ 26 (tháng 7-1980)
+ Thông tin vô tuyến điện thế giới (tháng 01-1983)
=> Việt Nam đã vạch trần và tố cáo Trung Quốc lợi dụng các diễn đàn này để tuyên truyền về cái gọi là chủ quyền của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời khẳng định rõ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế
Năm 1983, tại Hội nghị Hàng không khu vực châu Á - Thái Bình Dương (năm 1983) ở Sin-ga-po, khi Trung Quốc muốn lợi dụng việc chiếm đóng trái phép ở Hoàng Sa để mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu xuống phía Nam đã bị Hội nghị phản đối và giữ nguyên trạng FIR ban đầu Ngoài ra, liên tục trong các năm 1979, 1981 và 1988, Việt Nam đều công bố Sách trắng về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được đông đảo
dư luận quốc tế thừa nhận
- Năm 2007, Chính phủ quyết định thành lập thị trấn Trường Sa cùng hai
xã đảo: Song Tử Tây và Sinh Tồn trực thuộc huyện đảo Trường Sa Cùng với
đó, Việt Nam liên tục đấu tranh khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước sự chiếm đóng trái phép của nước ngoài
- Cao điểm của sự gia tăng gây hấn trong vùng biển Việt Nam của phía Trung Quốc là sự kiện xảy ra vào ngày 26-5-2011, ba tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt đứt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02 trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam chỉ 116 hải lý Ngày 27-5-2011,
Trang 8ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam đồng thời bồi thường thiệt hại cho Việt Nam
Tối 28-5-2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du ngang nhiên cho rằng vùng biển chủ quyền Việt Nam mà tàu Bình Minh 02 đang thả cáp thăm dò dầu khí là vùng biển thuộc "chủ quyền Trung Quốc”
Ngày 31-5-2011, tàu Viking 2 đang thăm dò dầu khí trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam lại bị tàu Trung Quốc phá rối Chiều cùng ngày, một ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và tịch thu tài sản trên vùng biển Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Ngày 9-6-2011, tàu cá Trung Quốc có sự hỗ trợ của tàu ngư chính đã phá cáp của tàu Viking 2 Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhận định các hành động có tính hệ thống này của phía Trung Quốc là nhằm biến khu vực không có tranh chấp thành khu vực có tranh chấp, hiện thực hóa yêu sách 9 đoạn
"đường lưỡi bò”, điều này đối với Việt Nam là không thể chấp nhận được Ngay chiều 9-6-2011, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để phản đối hành động này của phía Trung Quốc và nêu rõ lập trường của phía Việt Nam Đáng nói là dồn dập các sự việc gây hấn, phá rối của Trung Quốc diễn ra chỉ trong một thời gian ngắn Bình luận về việc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và Viking 2 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại ngang ngược nói rằng đó là việc làm “bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyền và quyền tài phán của Trung Quốc” Thậm chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam “tránh tạo ra những sự cố mới”
Tiếp đó, trong bài phát biểu quan trọng tối 8-6-2011 tại Nha Trang (Khánh Hoà), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” Đồng “thời, ông khẳng định: “Nhân dân Việt Nam có
đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”
Trang 9Ngày 1 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương
-981 (HD 981) ngay trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam
ở Biển Đông Sự kiện này gây ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân nước ta, thậm chí có nơi còn xảy ra bạo lực, công nhân đập phá nhà xưởng, xí nghiệp liên doanh với Trung Quốc
Tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy, Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp
lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền biển đảo của mình đặc biệt đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
2 Phân định biên giới Việt Nam với các nước trên biển Đông.
a Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển đảo
Chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo nói chung, Biển đảo Việt Nam nói riêng là hai khái niệm pháp lý được quy định trong pháp luật về biển của các quốc gia ven biển trên cơ sở Công ước Liên hợp quốc (LHQ) về Luật Biển năm
1982 (gọi tắt là Công ước 1982, tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982), được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157)
Luật Biển của nước ta được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XIII, ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 (gọi là Luật Biển năm 2013) đã quy định về chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo nước ta
Các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam:
Căn cứ quy định của UNCLOS 1982, tại Điều 3, Luật Biển năm 2013 xác định “Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982”
Trang 10định và chế độ pháp lý của từng vùng biển.
Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố Ở những khu vực chưa có đường cơ sở sẽ được Chính phủ xác định và công bố sau khi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn
Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và
là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam
Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam
(Hải lý - ký hiệu M, NM hoặc dặm biển, là một đơn vị chiều dài hàng hải,
là khoảng một phút cung của vĩ độ cùng kinh tuyến bất kỳ, nhưng khoảng một phút của vòng cung kinh độ tại đường xích đạo Theo quy ước quốc tế, 1 hải lý bằng 1852 m (khoảng 6.076 feet).)
Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở