Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch của Mỹ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.. "Chiến tranh lạnh” là chính sách thù địch về mọi mặt của Mĩ và
Trang 1BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Lịch sử thế giới hiện đại
Mã học phần: LS3
Học viên thực hiện: Cầm Thị Dương
Mã học viên: LSDL 405
Cơ quan công tác: Trường Tiểu Học và THCS Huy Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Sơn La, tháng 7/ 2023
Trang 2ĐỀ BÀI
Tác động của trật tự thế giới và cuộc chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1991.
BÀI LÀM
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trước các cường quốc Đồng minh: Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít
Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận
⇒ Một hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta ( Liên Xô) từ ngày 4 đến ngày 11 - 2 – 1945, với sự tham dự của nguyên thủ ba cường quốc là I Xtalin (Liên Xô) , Ph Rudove (Mĩ) và U Sơcxin (Anh)
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã được xác lập Đó là trật tự thế giới hai cực Ianta với đặc trưng nổi bật là thế giới chia thành hai phe- tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa- do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi phe Hội nghị đi đến quyết định về việc kết thúc chiến tranh; Việc tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật; Việc thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc; Việc phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á sau chiến tranh
Hội nghị đã thông qua các quyết định quan trọng về việc phân chia khu vực ảnh hưởng giữa hai cường quốc Liên Xô và Mĩ:
Trang 3- Ở châu Âu: Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát vùng Đông nước Đức và phía đông châu Âu: vùng Tây nước Đức và Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ và Anh
- Ở châu Á:
+ Duy trì nguyên trạng Mông cổ;
+ Trả lại cho Liên Xô phía nam đảo Xa-kha-lin;
+ Trao trả cho Trung Quốc những đất đai đã bị Nhật chiếm đóng trước đây (như Đài Loan, Mãn Châu ), thành lập Chính phủ liên hiệp dân tộc gồm Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc
+ Triều Tiên được công nhận là một quốc gia độc lập, nhưng tạm thời quân đội Liên Xô và Mĩ chia nhau kiểm soát và đóng quân ở Bắc và Nam vĩ tuyến 38
+ Các vùng còn lại ở châu Á (như Đông Nam Á, Nam Á ) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây
=> Toàn bộ những thoả thuận quy định trên đã trở thành khuôn khổ của một trật tự thế giới mới, mà lịch sử gọi là Trật tự hai cực Ianta
do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ và Liên Xô ngày càng mâu thuẫn và đối đầu gay gắt căng thẳng giữa hai siêu cường Mỹ và Liên
Xô và hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, mà đỉnh điểm là chiến tranh lạnh
Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch của Mỹ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Những biểu hiện của chiến tranh lạnh là: Mỹ và các nước đế quốc ráo riết chạy đua vũ trang, thành lập các khối căn cứ quân sự, tiến hành chiến tranh cục bộ Chiến tranh lạnh đã gây ra những hậu quả nặng nề như :
Trang 4sự căng thẳng của tình hình thế giới, những chi phí khổng lồ, cực kì tốn kém cho chạy đua vũ trang và chiến tranh xâm lược
- Tháng 3-1947, Tổng thống Mĩ Tơ-ru-man chính thức phát động
“Chiến tranh lạnh”, chống Liên Xô và các nước XHCN, thực hiện chiến lược toàn cầu "Chiến tranh lạnh” là chính sách thù địch về mọi
mặt của Mĩ và các nước đế quốc trong quan hệ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
* Những biểu hiện của tình trạng "Chiến tranh lạnh”:
- Mĩ và các nước đế quốc chạy đua vũ trang, chuẩn bị cuộc
“Chiến tranh tổng lực” nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nước XHCN.
- Tăng cường ngân sách quân sự, thành lập các khối quân sự cùng các căn cứ quân sự bao quanh Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa (NATO, SEATO, CENTO, AUZUS, Khối quân sự Tây bán cầu, Liên minh Mĩ-Nhật )
- Bao vây kinh tế, cô lập về chính trị đối với Liên Xô và các nước XHCN, tạo ra sự căng thẳng, phức tạp trong các mối quan hệ quốc tế
- Liên tiếp gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược
* Hậu quả:
- Thế giới luôn ở trong tình trạng căng thẳng
- Các cường quốc đã chi một khối lượng khổng lồ tiền của và sức người để sản xuất các loại vũ khí hủy diệt, xây dựng hàng nghìn căn cứ quân sự
- Từ nửa sau những năm 80 của thế kỉ XX, mối quan hệ quốc tế chuyển từ “đối đầu" sang "đối thoại”
Trang 5- Tháng 12-1989, Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt “Chiến tranh lạnh”
- Tình hình thế giới có nhiều biến chuyển và diễn ra theo các xu hướng:
+ Xu thế hòa hoãn và hoà dịu trong quan hệ quốc tế
+ Sự tan rã cùa trật tự hai cực l-an-ta và thế giới đang tiến tới xác lập một trật tự thế giới mới đa cực, nhiều trung tâm
+ Từ sau "Chiến tranh lạnh" và dưới tác động to lớn của cách
mạng khoa học - kĩ thuật, hầu hết các mrớc đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm
+ Tuy hoà bình được củng cố nhưng từ đầu những năm 90 của thế ki XX, nhiều khu vực lại xảy ra những vụ xung đột quân sự hoặc
nội chiến giữa các phe phái (Liên bang Nam Tư cũ, Châu Phi và một
số nước Trung Á).
Tuy nhiên, xu thế chung của thế giới ngày nay là hoà bình, ổn định, hợp tác phát triển kinh tế Đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc khi bước vào thế kỉ XXI.
Trước diễn biến của lịch sử thế giới thì tác động của trật tự thế giới và cuộc chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1991 đó là:
Bối cảnh quốc tế: Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Ở châu Âu, Đức đầu hàng đồng minh không điều kiện (5 1945) Ở châu Á, Nhật đầu hàng động minh không điều kiện (8 -1945)
Bối cảnh trong nước: Ngay khi nghe tin Nhật đầu hàng, Hội nghị toàn quốc của Đảng được họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 14
Trang 6đến 15-8-1945 đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước Uỷ ban khởi nghĩa được thành lập và ra quân lệnh số 1 kêu gọi nổi dậy
- Tiếp theo, Đại hội quốc dân Tân Trào được tổ chức (16-8) nhất trí tán thành Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Sau đó Người đã gửi thư đến đồng bào kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
- Từ ngày 14 đến ngày 18 - 8 - 1945, nhiều xã huyện một số tỉnh
đã giành chính quyền sớm nhất trong cả nước, đó là Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam
- Chiều 16-8 giải phóng thị xã Thái Nguyên mở đường về Hà Nội
- Hà Nội giành chính quyền ngày 19 - 8 - 1945; Huế 23 - 8; Sài Gòn 25 - 8
- Ngày 30 - 8 - 1945, vua Bảo Đại thoái vị
- Trong vòng 15 ngày (từ 14 đến 28), cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi trong cả nước
- Ngày 2 - 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
=> Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã diễn ra nhanh chóng, ít
đổ máu và giành thắng lợi trong vòng 15 ngày có ý nghĩa vô cùng to lớn:
Đối với trong nước: Cách mạng Tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phá tan 2 tầng xiềng xích nô lệ thực dân Pháp và phát xít Nhật Đồng thời lật nhào chế độ chuyên chế tồn
Trang 7tại gầm 1.000 năm Cách mạng tháng Tám đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dưới chế độ Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân từ nô lệ thành người độc lập, tự do Cách mạng tháng Tám đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do
Đối với Quốc tế: Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên
của một dân tộc nhược tiểu, tự giải phóng khỏi ách áp bức của đế quốc thực dân Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới
a/ Giai đoạn 1945 - 1954
- Sau Cách mạng tháng Tám, ta gặp nhiều khó khăn Đảng đã
lãnh đạo chống “thù trong” “giặc ngoài”.
- Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi
- Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 Kết thúc 9 năm chống Pháp và chứng minh chân lí thời đại ngày nay: Một dân tộc đất không rộng, người không đông, nếu biết đoàn kết chiến dấu theo đường lối cách mạng đúng đắn thì có thể chiến thắng bất kì tên đế quốc to lớn nào
b/ Giai đoạn 1954 - 1975
- Đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau
- Đảng đề ra đường lối: Giương cao hai ngọn cờ độc lập, dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, đưa sự nghiệp xây dựng CNXH và chống Mĩ cứu nước của dân tộc đạt được nhiều thành tựu về nhiều lĩnh vực, đặc biệt
về kinh tế
Trang 8- Khó khăn thách thức còn nhiều, song Đảng đã chọn con đường
đi đúng và có những biện pháp thích hợp
- Ở miền Nam: Việc tiếp quản các vùng mới giải phóng được tiến hành khẩn trương và đạt kết quả tốt Chính quyền cách mạng và
đoàn thể quần chúng các cấp nhanh chóng được thành lập ở các thành
phố lớn Giải quyết vấn đề việc làm cho hàng triệu đồng bào Tịch thu
tài sản, ruộng đất bọn phản động trốn ra nước ngoài, xóa bỏ bóc lột phong kiến, điều chỉnh ruộng đất trong nội bộ nông dân, quốc hữu hóa ngân hàng, thay đồng tiền của chính quyền Sài Gòn bằng đồng tiền
cách mạng Khôi phục sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp Các hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục, được tiến hành khẩn trương Đến giữa năm 1976, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ khắc phục
hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế
- Miền Bắc làm tròn nghĩa vụ của căn cứ địa cách mạng cả nước
và nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia trong giai đoạn mới
c/ Giai đoạn 1975 đến nay
Sau đại thắng Xuân 1975, Việt Nam chuyển sang giai đoạn cả nước tiến lên CNXH Các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, V,
VI, VII, VIII, IX của Đảng, đặc biệt là từ Đại hội lần thứ VI (12-1986)
đã ra đường lối đổi mới đi lên CNXH thắng lợi
Sau hơn 20 năm đấu tranh kiên cường, quân và dân ta đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 Sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đã thắng lợi, mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử nước ta, kỉ nguyên của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 9Giai đoạn 1976 - 1985 chúng ta thực hiện hai kế hoạch 5 năm, đạt được một số thành tựu, nhưng nước ta nghèo, lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã hội
- Thế giới: CNXH ở Liên Xô và Đông Âu bị khủng hoảng rồi sụp đổ, ảnh hưởng lớn tới các nước XHCN khác Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới đã tiến hành cải cách, mở cửa đạt được những thành tựu to lớn Chúng ta cần phải tiến hành đổi mới để khắc phục khủng hoảng và kiên trì con đường đi lên CNXH
Đứng trước khó khăn thách thức to lớn Đảng và nhà nước thực
hiện Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ
VI (tháng 12-1986), được điều chỉnh bổ sung và phát triển ở Đại hội VII (6 – 1991), Đại hội VIII (6 - 1996), Đại hội IX (4 - 2001):
- Nội dung của đường lối đổi mới: Đổi mới đất nước không phải là thay đổi mục tiêu của CNXH, mà làm cho mục tiêu đó thực hiện có hiệu quả với những hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp Đổi mới phải toàn diện đồng bộ, từ kinh tế, chính trị đến tổ chức, tư tưởng, văn hóa Đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới chính trị, nhưng đổi mới kinh tế là trọng tâm
- Về đổi mới kinh tế: Xóa bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo qui chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, theo định hướng XHCN Mở rộng kinh tế đối ngoại
- Về chính trị: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của dân, do dân và vì dân Xây dựng nền dân chủ XHCN bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
Trang 10Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị
d/ Quá trình thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2000)
* Đại hội VI (12-1986) mở đầu công cuộc đổi mới
- Thời gian: từ 15 đến 18/12/1986 tại Hà Nội
- Nội dung Đại hội:
+ Đánh giá tình hình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước trong 10 năm đầu cả nước đi lên CNXH
+ Khẳng định rõ thời kì quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam phải trải qua quá trình lâu dài, khó khăn trải qua nhiều chặng đường
+ Trước mắt là trong kế hoạch 5 năm đầu tiên thực hiện đổi mới 1986-1990 Chúng ta thực hiện bằng được ba chương trình kinh
tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
* Thành tựu:
- Kinh tế
+ Về lương thực thực phẩm: Đạt 21,4 triệu tấn, từ thiếu ăn, phải nhập lương thực, năm 1989 chúng ta đã đáp ứng nhu cầu trong nước,
có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân.sản lượng lương thực từ 2 triệu tấn (1988) lên 21,4 triệu tấn/1989
+ Hàng hóa trên thị trường nhất là hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng, lưu thông tương đối thuận lợi, trong đó hàng trong nước tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng Các cơ sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường, phần bao cấp của Nhà nước giảm đáng kể
+ Kinh tế đối ngoại mở rộng về quy mô và hình thức Từ 1986 –
1990, hàng
Trang 11xuất khẩu tăng gấp 3 lần, nhiều mặt hàng có giá trị lớn như gạo (1,5 triệu tấn – 1989), dầu thô…, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất và nhập khẩu
+ Kiềm chế được một bước lạm phát, từ 20% (1986) còn 4,4% (1990) Như vậy đã: Hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản li của Nhà nước Đây là chủ trương chiến lược lâu dài của Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ kinh tế của nhân dân Khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của quần chúng để phát triển sản xuất và dịch vụ Tạo thêm việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội
- Chính trị
+ Bộ máy Nhà nước ở trung ương và địa phương được sắp xếp lại, theo hướng phát huy dân chủ nội bộ và quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường quyền lực của các cơ quan dân cử
+ Chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp
* Ý nghĩa: Những thành tựu bước đầu đạt được đã khẳng định
đường lối đổi mới của Đảng là hoàn toàn đúng đắn phù hợp được toàn dân ủng hộ
* Hạn chế: Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát ở mức
cao, lao động thiếu việc làm, hiệu quả kinh tế thấp Chưa có tích lũy
từ nội bộ đến kinh tế, tiền lương bất hợp lí, sự nghiệp văn hóa có những mặt tiếp tục xuống cấp, tệ nạn tham nhũng, hối lộ chưa được khắc phục…
Như vậy, Lịch sử Việt Nam từ 1945 - 1991 đã phát triển liên tục với các
sự kiện lớn Đó là: với sự ra đời của Đảng Cộng Sản VIệt Nam năm 1930 đã
Trang 12lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi với chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, cuộc kháng chiến chống Mĩ thắng lợi với đại thắng mùa xuân 1975 và công cuộc đổi mới đất nước
từ 1986 đến nay đã dành những thành tựu to lớn Mỗi sự kiện là mốc đánh dấu
một thời kì lịch sử đổi mới nhằm khắc phục khó khăn, sai lầm khuyết điểm
mắc phải trước đó, vượt qua cuộc khủng hoảng để tiến hành đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến lên Đó là chủ trương lớn của Đảng, là vấn đề sống còn của chủ nghĩa xã hội ở nước ta đồng thời là vấn đề
phù hợp với xu thế chung của thời đại với nhiều vấn đề có tính toàn cầu nổi
lên, tác động mạnh tới nhận thức và quan hệ của các nước nói chung, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam nói riêng Việt Nam vận dụng hiệu quả
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia -dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi Bên cạnh đó, những tác động tiêu cực do chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ mang lại đối với Việt Nam là không hề nhỏ, đòi hỏi cần có những đối sách phù hợp nhằm hạn chế những tác động này để không ngừng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin là những vấn đề mang tính toàn cầu nổi lên và đây là những nhân tố tích cực thúc đẩy tiến bộ của thời đại Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ, mở ra một thời đại mới về phát triển lực lượng sản xuất, dẫn tới sự thay đổi nền tảng trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Việt Nam có vị trí địa lý đặc thù, chịu tác động nặng nề từ các thách thức an ninh phi truyền thống, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực, xây dựng lực lượng, thế