Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản: Nền kinh tế tư bản cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, có sự phát triển vượt bậc, nó làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của tất cả các nước
Trang 1BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Lịch sử thế giới cận đại
Mã học phần: LS2
Học viên thực hiện: Cầm Thị Dương
Mã học viên: LSDL 405
Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Sơn La, tháng 7/ 2023
Trang 2CHỦ ĐỂ: ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC
I NỘI DUNG
1 Những nét khái quát về chủ nghĩa đế quốc:
1.1 Sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản:
Nền kinh tế tư bản cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, có sự phát triển vượt bậc, nó làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của tất cả các nước tư bản Nhưng nền kinh tế tư bản lại có sự phát triển không đồng đều
Trong một nước, sự phát triển không đồng đều được thể hiện ở sự chênh lệnh giữa các ngành kinh tế: Nông nghiệp lạc hậu hơn so với công nghiệp; trong ngành công nghiệp thì công nghiệp nặng phát triển hơn công nghiệp nhẹ
Giữa các nước tư bản, sự phát triển không đồng đều cũng được bộc lộ rõ nét ở trình độ phát triển của mỗi nước, ở sự chênh lệch giữa hai nhóm nước tư bản phát triển sớm (Anh, Pháp) và tư bản phát triển muộn (Đức, Mĩ), thể hiện ở sản lượng của các ngành sản xuất
Nguyên nhân của sự chênh lệnh là do, những nước tư bản ra đời muộn (Đức, Mĩ), do phát triển sau nên đã rút được kinh nghiệm của các nước phát triển trước, được ứng dụng ngay những thành tựu khoa học - kĩ thuật, nên phát triển nhanh chóng Đối với Mĩ, cón có thêm điều kiện thuận lợi là rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên Trong khi đó, các nước tư bản phát triển sớm (Anh, Pháp), tuy sản lượng sản xuất vẫn tăng, nhưng đã bắt đầu chậm lại (ít quan tâm đến phát triển khoa học - kĩ thuật, có xu hướng đem số tư bản của mình đầu tư ra nước ngoài, ít quan tâm đến sản xuất trong nước, )
Sự chênh lệch về tốc độ phát triển đã dẫn đến sự khác biệt về địa vị và quyền lợi của mỗi nước trong nền sản xuất thế giới Anh mất dần địa vị đứng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp Vị trí đó lúc này thuộc về những đế quốc "trẻ" là Mĩ và Đức
Do sự phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản, đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các nước này về thị trường và thuộc địa: Các nước tư bản phát triển sớm
Trang 3có rất nhiều thuộc địa, có thị trường nhưng nền sản xuất phát triển chậm; các nước
tư bản phát triển muộn, nền sản xuất phát triển nhưng lại thiếu thị trường
Tình trạng mất cân đối giữa các ngành sản xuất, giữa khả năng cung cấp và tiêu thụ hàng hoá, việc chạy theo lợi nhuận trong quá trình cạnh tranh đã dẫn đến tình trạng sản xuất vô chính phủ, và hậu quả của nó là sự bùng phát của các cuộc khủng hoảng kinh tế Cuối thế kỉ XIX, đã diễn ra ba cuộc khủng hoảng kinh tế lớn vào những năm 1873 - 1879, 1882 - 1886 và 1890 - 1893 Sau mỗi lần sảy ra khủng hoảng, có rất nhiều xí nghiệp nhỏ bị phá sản, trong khi mà thế lực của các xí nghiệp lớn lại không ngừng tăng lên
Bắt đầu từ thập niêm 60, 70 của thế kỉ XIX, do sự tăng trưởng nhanh chóng của công nghiệp, tự do cạnh tranh cao, đã dẫn tới sự tập trung sản xuất và tích tụ tư bản Nhiều tổ chức lũng đoạn đã ra đời dưới các hình thức Cacten, Xanhđica và Tơrơt
Trong những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, quá trình tập trung không chỉ diễn ra trong sản xuất công nghiệp mà còn cả với ngân hàng Các ngân hàng từ chỗ đóng vai trò trung gian, nay đã trở thành những nhóm độc quyền sử dụng vốn,
tư liệu sản xuất, nguyên nhiên liệu của tất cả các nhà tư bản Khuynh hướng cấu kết giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp ngày càng rõ nét, dẫn đến sự ra đời của tư bản tài chính Đó là bọn trùm tư bản nắm trong tay một số vốn kếch sù, có quyền lực vô hạn, thao túng mọi mặt sinh hoạt kinh tế và chính trị của nhà nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1900 - 1903 đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự xác lập quyền thống trị của các tổ chức độc quyền ở các nước tư bản chủ yếu, và những mâu thuẫn trở nên gay gắt hơn
1.2 Sự hình thành 5 đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc
Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất xã hội, từ khi ra
đời (XVI) đến đầu thế kỉ XX đã trải qua 4 giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1 là giai
đoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, giai đoạn 2 - giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, giai đoạn 3 - khủng hoảng thừa do sản xuất nhiều, giai đoạn 4, bắt đầu vào cuối thế kỉ XIX, là giai đoạn chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước, hình thành những công ty độc quyền
Trang 4Trong suốt quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản luôn ở trong tình trạng phát triển không đồng đều, thường xuyên phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng - mang tính chất chu kỳ Để khắc phục tình trạng đó, vào cuối thế kỉ XIX chủ nghĩa
tư bản đã có những thay đổi trong phương thức sản xuất kinh doanh, biến thành chủ nghĩa đế quốc, với những đặc trưng cơ bản sau:
Sự hình thành các tổ chức lũng đoạn (công ty độc quyền): Đến cuối thế kỉ XIX
- đầu thế kỉ XX, do tình trạng sản mất cân đối giữa các ngành sản xuất, giữa khả năng sản xuất và tiêu thụ, cộng với nạn sản xuất vô chính phủ đã khiến cho những mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thêm sâu sắc, dẫn tới những cuộc khủng hoảng liên tiếp và kéo dài Sau mỗi cuộc khủng hoảng, các xí nghiệp nhỏ bị phá sản, trong khi các xí nghiệp lớn lại tăng cường thêm sức mạnh và ảnh hưởng, dẫn tới hiện tượng một số xí nghiệp lớn đã thôn tính những xí nghiệp nhỏ Trong tất cả các ngành kinh tế, tự do cạnh tranh dần được thay thế bởi những tổ chức lũng đoạn dưới nhiều hình thức khác nhau: Cacten, Xanhđica và Tơrơt
Cacten là hình thức lũng đoạn nhà nước sơ khai nhất Những xí nghiệp tham gia Cacten chỉ quy định giá cả thống nhất và chia nhau về thị trường, còn việc sản xuất và quy mô sản xuất vẫn riêng lẻ Các xí nghiệp vẫn sản xuất độc lập, không có
sự giành buộc chặt chẽ, nên “dễ hợp dễ tan”
Xanhđica là hình thức lũng đoạn thứ hai Các xí nghiệp tham gia Xanhđica
cử ra ban quản trị chung, điều hành việc bán hàng hoá và mua nguyên liệu, còn việc sản xuất của từng xí nghiệp vẫn mang tính độc lập
Tơrơt là hình thức tổ chức lũng đoạn chặt chẽ nhất Các xí nghiệp tham gia Tơrơt thành lập ban quản trị chung để điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Tính chất độc lập về sản xuất hoàn toàn bị xoá bỏ Thực chất, sự ra đời của các Tơrơt chính là quá trình thôn tính của các xí nghiệp lớn với các xí nghiệp nhỏ
Sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền, một mặt, đánh dấu bước phát triển lớn trong tổ chức quản lý và sản xuất, tạo nên một khối lượng sản phẩm hàng hoá ngày càng nhiều và có chất lượng cao;
Trang 5Mặt khác, sự phổ biến của hiện tượng các xí nghiệp sử dụng những phương pháp cạnh tranh quyết liệt để đánh bại và thu phục đối thủ cạnh tranh yếu thế hơn,
và do đó, sự bóc lột công nhân cũng dã man và tinh vi hơn
Sự xuất hiện của các tập đoàn tư bản tài chính: Tư bản tài chính là sự kết
hợp giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng, nó phát triển trên cơ sở các tổ chức lũng đoạn Một số người vừa lãnh đạo hội đồng quản trị ngân hàng, vừa lãnh đạo hội đồng quản trị xí nghiệp Nhà tư bản ngân hàng có thể trở thành thành viên của hội đồng quản trị xí nghiệp, hoặc là chủ tịch của hội đồng này, tuỳ thuộc vào số
mà họ góp vào xí nghiệp công nghiệp Với các chủ xí nghiệp cũng tương tự, khi có vốn lớn họ cũng có thể mua cổ phần của các ngân hàng Nắm giữ một số vốn lớn trong tay, các ngân hàng đã tham gia và can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các
xí nghiệp, làm xuất hiện xu hướng dung hợp giữa ngân hàng và các xí nghiệp, tạo thành tư bản tài chính
Tư bản tài chính nắm các mạch máu của nền kinh tế quốc dân, thao túng toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị của đất nước và có ảnh hưởng to lớn đối với việc quyết định các chính sách, đường lối của quốc gia Những người đứng đầu các tập đoàn tư bản tài chính còn được gọi là những nhà tài phiệt - những ông vua không vương miện, như vua dầu lửa Rocpheolơ, vua ngân hàng Morgan,
Xuất khẩu tư bản: Đặc trưng cơ bản của thời kì lũng đoạn là hoạt động xuất
khẩu tư bản Nếu như ở thời kì tự do cạnh tranh, các nhà tư bản chủ yếu xuất khẩu hàng hoá, thì ở thời kì lũng đoạn, họ chủ yếu chuyển vốn ra nước ngoài, kinh doanh dưới hình thức cho vay hoặc trực tiếp đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xe lửa, nhà máy, hầm mỏ, Đứng đầu thế giới trong việc xuất khẩu tư bản trước chiến tranh thế giới thứ nhất là nước Anh, số tiền đầu tư khoảng 100 tỉ
Phơrăng, Pháp: 60 tỉ, Đức: 44 tỉ; Mĩ: 10 tỉ (vì lúc này thị trường trong nước của Mĩ rất rộng lớn) Ngay cả những nước tư bản phát triển chậm hơn, nhưng khuynh hướng đưa vốn ra nước ngoài kinh doanh cũng rất rõ Áo - Hung đầu tư vào
Bancăng; Nga tuy là con nợ của Pháp, song cũng tham gia đầu tư vào Trung Quốc
và Triều Tiên
Trang 6Sự hình thành các tập đoàn tư bản lũng đoạn quốc tế: Trong quá trình xuất
khẩu tư bản, các nước tư bản “già” (Anh, Pháp) thường thu được nhiều lợi nhuận hơn các nước tư bản “trẻ” (Đức, Mĩ, Nhật), vì có nhiều thuộc địa hơn Vì thế, thuộc địa đã trở thành vấn đề luôn tạo ra căng thẳng giữa các nước tư bản, làm sâu sắc thêm những bất đồng xuất hiện trong quá trình tranh giành và xâm chiếm thuộc địa
Để tạm thời hoà hoãn mâu thuẫn, các liên minh độc quyền phải thương lượng với nhau để lập nên các tổ chức lũng đoạn quốc tế, nhằm mục đích phân chia thị trường tiêu thụ hàng hoá và đầu tư tư bản Số lượng các tổ chức độ quyền được hình thành ngày càng nhiều, nắm trong tay hầu hết các mạch máu của đời sống kinh tế thế giới Năm 1897, mới chỉ có 40 tổ chức độc quyền quốc tế, thì đến năm 1914, con
số này đã tăng lên 114 tổ chức
Hoàn thành việc phân chia thị trường thế giới: Trong thời kì chủ nghĩa tư
bản tự do cạnh tranh, các nước tư bản đã tiến hành xâm chiếm thuộc địa Nhưng đến thời kì lũng đoạn, hoạt động này được đẩy mạnh hơn ở những vùng đất “vô chủ” Do nhu cầu xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá, cần có thị trường (thuộc địa), các nước tư bản phát triển sớm không chỉ muốn duy trì hệ thống thuộc địa cũ,
mà còn tìm cách mở rộng thêm, còn các nước tư bản phát triển muộn, khi có nhu cầu lớn về thị trường, thì không chỉ muốn chiếm nốt những vùng đất còn trống, mà còn muốn giành giật thuộc địa với các nước đế quốc "già" Mâu thuẫn giữa các nước tư bản có nhiều thuộc địa và các nước không có thuộc địa nảy sinh và dẫn đến những cuộc khủng hoảng cục bộ, đòi chia lại thuộc địa Cuộc chiến tranh đầu tiên,
mở đầu cho thời kì chiến tranh đế quốc, để chia lại thuộc địa là chiến tranh Mĩ - Tây Ban Nha (1898) Mĩ phát động cuộc chiến tranh này nhằm gạt ảnh hưởng của Tây Ban Nha khỏi Cuba, Philippin và Puecto - Rico, giành quyền kiểm soát ở những quốc gia đó Tiếp sau đó là cuộc chiến tranh Anh - Bôơ (1899 - 1902), giành giật Nam Phi; chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) tranh chấp ảnh hưởng tại vùng Đông Bắc Trung Quốc và Triều Tiên Và cuối cùng là đại chiến thế giới lần 1 (1914 - 1918)
Trang 7Theo các nhà sử học Trung Quốc, đến năm 1914, 6 cường quốc: Anh, Pháp, Đức, Nga, Mĩ, Nhật và một số nước thực dân nhỏ hơn là Hà Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha
đã chiếm được vùng đất thuộc địa có tổng diện tích là 74.900.000 km2, chiếm 55% tổng diện tích địa cầu Tính theo phần trăm diện tích bị thực dân chiếm trong các châu lục thì: châu Úc bị chiếm 100%, châu Á: 56%, châu Phi: 90.4%, châu Mĩ: 27,2%
Phân tích một cách khoa học giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, nêu lên bản chất và địa vị lịch sử của nó, V.I.Lênin đã vạch ra 5 đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa đế quốc là:
- Sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới mức độ phát triển rất cao, tạo thành những tổ chức lũng đoạn có một vai trò quyết định trong sinh hoạt kinh tế
- Sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp thành tư bản tài chính
- Việc xuất khẩu tư bản trở thành đặc biệt quan trọng
- Sự hình thành những khối liên minh tư bản độc quyền chia nhau thế giới
- Các cường quốc tư bản lớn nhất đã chia nhau xong đất đai trên thế giới Các nước đế quốc cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đều có 5 đặc trưng cơ bản trên Nhưng, do điều kiện lịch sử và kinh tế của mình, mỗi nước khi chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc đều có những đặc trưng riêng biệt
2 Các nước đế quốc chủ yếu: Anh, Pháp, Đức, Mĩ:
2.1 Đế quốc Anh (1870 - 1914):
- Sự phát triển kinh tế:
Anh là nước tiến hành cách mạng tư sản sớm, và là nước đầu tiên trên thế giới tiến hành cách mạng công nghiệp, do vậy, trong suốt một thời gian dài, từ khi cách mạng công nghiệp bắt đầu cho đến đầu những năm 70 của thế kỉ XIX, nước Anh được coi là “công xưởng của thế giới” Sản lượng khai thác than của Anh nhiều gấp 3 lần Đức và Mĩ; sản lượng gang gấp 4 lần Mĩ, 5 lần Đức; xuất khẩu kim loại nhiều hơn cả ba nước Pháp, Mĩ, Đức cộng lại
Trang 8- Chính trị: Anh là nước Quân chủ lập hiến, bộ máy nhà nước được tổ chức dựa
theo nguyên tắc Tam quyền phân lập Theo thể chế Quân chủ lập hiến, quyền lực của vua Anh ngày càng mờ nhạt, vua Anh chỉ là người ngự trị chứ không cai trị, còn quyền lực thực sự nằm trong chính phủ, đứng đầu là tay thủ tướng Cơ quan quyền lực cao nhất của Anh là Nghị viện
Đặc điểm nổi bật nhất của chế độ chính trị ở Anh là giai cấp tư sản thực hiện quyền lực của mình thông qua chế độ hai đảng: Tự do và Bảo thủ, thay phiên nhau nắm giữ nội các Cả hai đảng đều thống nhất bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp tư sản Anh, thực hiện chính sách tích cực mở rộng hệ thống thuộc địa và đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng
2.2 Đế quốc Pháp (1870 - 1914):
Tình hình kinh tế Pháp cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX:
Trong ngành công nghiệp: 30 năm cuối thế kỉ XIX, tốc độ phát triển công nghiệp của Pháp có xu hướng chậm lại Từ chỗ Pháp đứng thứ hai thế giới về sản xuất công nghiệp, chỉ sau nước Anh, thì đến cuối thế kỉ XIX Pháp tụt xuống vị trí thứ tư sau Mĩ, Đức, Anh Cá biệt, trong một số ngành sản xuất, Pháp còn đứng vị trí thấp hơn
Đặc điểm nổi bật nhất của nền kinh tế Pháp ở thời kì này là sự tập trung cao
độ của tư bản ngân hàng 2/3 số tư bản của Pháp tập trung trong tay 5 ngân hàng lớn Đến năm 1914, trong 11 Phơrăng tồn khoản của Pháp, 5 ngân hàng lớn nắm giữ 8 tỉ Nước Pháp giàu có, có nhiều tư bản dư thừa là do Pháp phát triển sớm, người Pháp có thói quen gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng Số tư bản dư thừa ít được các nhà tư bản sử dụng trong việc phát triển sản xuất trong nước, mà phần lớn được đầu tư ra nước ngoài Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là nước xuất khẩu
tư bản lớn thứ hai thế giới Hình thức xuất khẩu tư bản lớn chủ yếu của Pháp là là cho vay lãi Năm 1908, Phát xuất khẩu tư bản 38 triệu Phơrăng, trong khi chỉ có 9,5
tỉ đầu tư vào công nghiệp trong nước
Kinh tế nông nghiệp của Pháp cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX cũng phát triển chậm lại Nguyên nhân chính là do ruộng đất bị chia nhỏ đã cản trở quá trình
Trang 9hình thành nền sản xuất lớn Số dân Pháp làm nghề nông vẫn chiếm tỉ lệ cao Năm
1872, số dân Pháp sống ở nông thôn là 63,9%; năm 1896, là 60,9% Hơn 60,9% dân số Pháp sống ở nông thôn, nhưng số ruộng đất mà họ canh tác chỉ chiếm 1/4 diện tích đất đai trong toàn quốc Do vậy, nông dân Pháp bắt buộc phải làm việc cật lực và phải hạn chế chi tiêu để tránh rơi vào tình trạng phá sản Do tình trạng đất đai phân tán, manh mún nên trình độ kĩ thuật nông nghiệp Pháp lạc hậu so với nhiều nước châu Âu khác Khó khăn trong kinh tế nông nghiệp của Pháp kéo dài đến tận thế kỉ XX
Chính trị: Tình hình chính trị Pháp cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX diễn ra
khá phức tạp Cuộc đấu tranh để thiết lập nền cộng hoà là vấn đề hàng đầu của đời sống chính trị Pháp trong suốt 30 năm cuối của thế kỉ XIX
Ngày 4.9.1870, cuộc cách mạng thứ tư ở Pháp nổ ra Trong cuộc chiến tranh này, Công xã Pari đã ra đời, nhưng chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn: 72 ngày Sau khi Công xã Pari thất bại, cả nước Pháp bị bao trùm bởi bầu không khí khủng bố ngột ngạt Các chiến sĩ cách mạng, các uỷ viên của Quốc tế thứ nhất và những người tình nghi bị truy nã gắt gao Lực lượng bảo hoàng muốn khôi phục lại chế độ quân chủ Dòng họ Buôcbông, dòng họ Ooclêăng và dòng họ Bonapac đều muốn đưa người của mình lên nắm chính quyền Còn quần chúng nhân dân Pháp, thì đấu tranh đòi thiết lập nền cộng hoà
Bối cảnh đó đã buộc phái bảo hoàng phải hoà hoãn với tư sản, thiết lập nền cộng hoà thứ ba, do Chie đứng đầu Tháng 8 1871, Chie được suy tôn làm Tổng thống của nước cộng hoà Pháp Mặc dù tuyên bố thể chế chính trị của Pháp là nền cộng hoà, nhưng chính phủ của Chie hầu như nằm trong tay phái bảo hoàng Bản thân Chie là một phần tử của phái Bảo hoàng độc lập Quốc hội Pháp lúc này do phái tư sản bảo hoàng thống trị Nước Pháp đứng trước nguy cơ phục hồi chế độ quân chủ
2.3 Đế quốc Đức:
Trang 10Tình hình kinh tế Đức cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX: Quá trình thống nhất
Đức hoàn thành với sự kịên ra đời của Đế chế I vào ngày 18.1.1871 đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển nhanh, mạnh của Đức về kinh tế
Trong ngành công nghiệp Đức, đã hình thành một cao trào phát triển rầm rộ, diễn ra trong những năm 1871 - 1873, đưa Đức trở thành nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển nhanh nhất châu Âu Chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tế Đức đã có những bước tiến dài Nhiều lĩnh vực công nghiệp truyền thống Đức đã đuổi kịp Anh, Pháp, trong một số ngành công nghiệp mới, như điện, hoá chất, sản xuất ôtô, Đức đã vượt qua Anh, Pháp để giành ngôi vị số một ở châu Âu Trong
20 năm (1870 - 1890), sản lượng công nghiệp Đức tăng 163%, (trong khi Anh tăng 40%, Pháp tăng 65%), sản lượng khai thác than của Đức tăng gấp 4,4 lần, sản xuất gang tăng 6 lần (gấp 2 lần Anh), sản xuất máy móc tăng 2,4 lần, sản xuất hoá chất tăng 1,8 lần
Cùng với công nghiệp, kinh tế nông nghiệp Đức cuối thế kỉ XIX cũng phát triển với tốc độ rất nhanh Đường lối tư bản hoá nông nghiệp theo "con đường kiểu Phổ" đã căn bản hoàn thành, một nửa số đất đai của Đức được kinh doanh theo lối
tư bản chủ nghĩa: áp dụng kĩ thuật canh tác mới, sử dụng máy móc, phân bón hoá học, Nhưng bên cạnh đó, những tàn dư phong kiến vẫn được duy trì, nông dân vẫn bị bóc lột, ở vùng Tây Nam kinh tế tiểu nông vẫn chiếm ưu thế,
Chính trị: Theo quy định của Hiến pháp 1871, Đức là một quốc gia Liên
bang, gồm 26 bang và 3 thành phố tự do Nhà nước được tổ chức theo thể chế Quân chủ lập hiến, quyền lực tập trung vào tay liên minh tư sản và quý tộc tư sản hoá Iuncơ Phổ
Nhưng, so với Anh và Pháp, nền dân chủ tư sản ở Đức hạn chế hơn rất nhiều Mặc dù bộ máy nhà nước Đức cũng được tổ chức dựa theo nguyên tắc "Tam quyền phân lập", nhưng quyền lực của cơ quan lập pháp (Nghị viện) rất yếu
Thượng viện gồm 58 đại biểu, là các vương hầu được cử từ các bang, hoạt động theo chỉ thị của chính phủ Trong đó, quý tộc Phổ chiếm ưu thế nhất Chủ tịch Hội đồng Liên bang, đồng thời là thủ tướng Phổ và thủ tướng Đức Hạ viện gồm 382