1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những bài giảng văn học hàn quốc

660 86 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Bài Giảng Văn Học Hàn Quốc
Tác giả Cho Dong-Il, Seo Dae Seok, Lee Hai-Soon, Kim Dae Haeng, Park Hee-Byoung, Oh Sae-Young, Cho Nam Hyon
Người hướng dẫn Trần Thị Bích Phượng
Trường học Nhà xuất bản văn học
Thể loại tài liệu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Seoul
Định dạng
Số trang 660
Dung lượng 14,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đóng nhưng ngay cả thời gian này người Hàn vẫn bảo vệ được tiếng Hàn và phát triển văn học Hàn Quốc thành nền văn học dân tộc.Ngày nay mặc dù Nam, Bắc bị chia cắt nhưng cả hai miền đều k

Trang 1

CHO DONG-IL, SEO DAE SEOK, LEE HAI - SOON, KIM DAE HAENG, PARK HEE-BYOUNG,

OH SAE-YOUNG, CHO NAM HYON

NHỮNG BÀI GIẢNG

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

The "work" is published under the support

o f the Korea Literature Translation Institute Tác phẩm được xuất bản với sự tài trợ của Viện Dịch thuật Văn học Hàn Qụốc

Dịch từ nguyên bản tiếng Hàn

của Cho Dong-il, Lee Hai-soon, Seo Dae Seok,

Oh Sae-young, Cho Nam Hyon,

Park ĩĩec-byoung, Kim Dae Haeng

Nhà xuảt bàn Gil-beot, 1998Ị Seoul Xuất bản theo hợp đồng chuyển nhượng bản quyền giữa Kim Dae Haeng (đại diện cho các tác giả)

và Nhà xuất bản Văn học, 2010.

Bản quyển tiếng Việt © N h à xuất bản Văn học, 2010.

Trang 3

CHO DONG-IL, SEO DAE SEOK, LEE HAI-SOON, KIM DAE HAENG, PARK HEE-BYOUNG,

OH SAE-YOUNG, CHO NAM HYON

Trang 4

âm tiếng Hàn sang chữ Rôma của Bộ Văn hóa du lịch Hàn Quốc ban hành tháng 7 năm 2000 Đổi với những trường hợp có chữ Hán đi kèm chúng tôi sẽ để chữ Hán trong ngoặc đơn để độc giả có thể nhận diện được nét tươne đồng giữa tiếng Hàn và tiếng Việt Chúng tôi để chữ in đậnr đổi với tên sách, tên các tờ báo, tạp chí, các trường phái, các tổ chức, chữ in nghiêng đậm đối với tên tác phẩm, chừ in nghiêng đối với phần nội dung được trích dẫn nguyên văn Trong sách cũng có phần trích dẫn những bài dân ca, bài thơ thuộc phần văn học dân gian và văn học cổ điển, để giúp độc giả nhận biết về hình thức của những thể loại này, ngoài việc dịch nghĩa, chúng tôi có phiên âm lại nguyên vẹn theo âm đọc của tiếng Việt.

Trang 5

GIỚI THIỆU CHUNG

Cho Dong-ỉl

1 Phạm vi và lĩnh vực của văn học Hàn Quốc

Văn học Hàn Quốc là văn học được tác giả người Hàn sáng tác bàng tiếng Hàn cho đối tượng độc giả là người Hàn Trong suốt quá trình lịch sử người Hàn không chung sống với một dân tộc nào khác và có bản sắc dân tộc rất rõ ràng Do đó, không có khó khăn gì khi phân biệt tác giả hay độc giả của nền văn học Hàn Quốc có phải là người Hàn hay không Ở Hàn Quốc chỉ sử dụng một ngôn ngừ duy nhất là ngôn ngữ của dân tộc Hàn (tức tiếng Hàn) do đó văn học viết bằng tiếng Hàn, quốc ngữ của Hàn Quốc, chính là văn học Hàn Quốc

Có thể nói Hàn Quốc là một quốc gia lớn nhất không tồn tại vấn đề dân tộc thiểu sổ cũng như vấn đề ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Ở điểm này Hàn Quốc khác với Trung Quốc và Nhật Bản Văn học Hàn Quổc trở thành hình mẫu của nền văn học quốc gia dân tộc Có thể tìm thấy hình mẫu điển hình về việc hình thành và phát triển của nền văn học quốc gia dân tộc trong lịch sử văn học Hàn Quốc Hàn Quốc đã từng có thời kỳ bị Nhật Bản chiếm

Trang 6

đóng nhưng ngay cả thời gian này người Hàn vẫn bảo vệ được tiếng Hàn và phát triển văn học Hàn Quốc thành nền văn học dân tộc.

Ngày nay mặc dù Nam, Bắc bị chia cắt nhưng cả hai miền đều kế thừa được di sản văn hóa lâu đời và về cơ bản diện mạo văn học của hai miền không khác nhau Sự khác nhau về ngôn ngữ cũng như văn học của hai miền Nam, Bắc biểu hiện trực tiếp ở sự khác nhau về thể tài cũng như

lý tưởng chính trị Những người Hàn đang định cư ở nước ngoài, dù tại vùng đông bắc Trung Quốc hay vùng Trung

Á, vẫn đang sáng tác văn học bằng tiếng Hàn Do đó, hiểu theo nghĩa rộng, phạm vi của văn học Hàn Quốc mở rộng đến cả những khu vục này

Văn học Hàn Quốc được bắt đầu bàng văn học dân gian Văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển cho đến ngày nay và đóng vai trò nền tảng cho văn học viết Lĩnh vực của văn học được mở rộng khi Hàn Quốc tiếp nhận chữ Hán từ Trung Quốc và tạo nên bộ phận văn học chữ Hán Đầu tiên người Hàn mượn chữ Hán để ghi âm tiếng Hàn rồi

tự :± :a chế ra văn tự riêng và phát triển nền văn học quốc ngữ của mình đạt tới mức hoàn hảo Văn học Hàn Quốc được cấu thành nên từ ba bộ phận: văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ Lịch sử văn học Hàn Quốc là lịch sử hình thành, phát triển và tác động lẫn nhau giữa ba bộ phận văn học này

Điều kiện cơ bản của văn học không phải là chữ viết

mà là lời nói cho nên văn học dân gian là văn học và văn

8 — Cho D o n g -il

Trang 7

học dân gian Hàn Quốc là văn học Hàn Quốc Trải qua một thời gian dài tranh luận, những kiến giải về điểm này đã được thống nhất Văn học dân gian được đưa vào giảng dạy tại khoa Ngữ văn và những điều tra nghiên cứu về văn học dân gian vẫn đang được chú trọng Những di sản lâu đời

của văn học dân gian như truyện kể dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ), mu-ga, dân ca vẫn được lưu truyền rộng rãi, giá trị của pan-so-ri và múa mặt nạ vẫn

liên tục được đánh giá lại Trong sáng tác thơ ca ngày nay

người ta có xu hướng kế thừa dân ca.

Văn học chữ Hán là bộ phận văn học được sáng tác

không phải bằng tiếng Hàn mà bằng tiếng Hán, văn ngữ

(ngôn ngữ văn bản) của tiếng Trung Do đó dường như

có thể coi văn học chữ Hán không phải là văn học Hàn

Quốc Nhưng Hán văn là văn ngữ cổ có khoảng cách khá

xa so với khẩu ngữ của tiếng Trung và là một văn tự chung không chỉ người Trung Quốc mà nhiều dân tộc ở Đông Á đều sử dụng Ở điểm này chữ Hán cũng giong như chữ Latin, chữ Ả Rập cổ đại hay chữ Sancrit Nhưng khác với ba loại văn tự kể trên, chữ Hán được sử dụng ở từng nước không chỉ khác nhau về cách phát âm mà còn khác cả về cách đọc Ở Hàn Quốc, chữ Hán là dạng văn ngữ của tiếng Hàn được đọc theo âm Hàn, có thêm phần trợ từ giúp phân biệt các thành phân câu không có ở các nước khác Hơn nữa, tiếp nhận vốn từ vựng và cách kết hợp từ đặc thù của tiếng Hàn, Hán văn cũng được Hàn hóa rất nhiều

GIỚI THIỆU CHUNG -— 9

Trang 8

Văn học chữ Hán của Hàn Quốc do các tác giả người Hàn sáng tác cho đối tượng độc giả là người Hàn, lấy cuộc sổng sinh hoạt của người Hàn làm nội dung phản ánh và đóng vai trò quan trọng là một bộ phận cấu thành nên nền văn học Hàn Quốc Người Hàn đã tích cực kế thừa văn học dân gian, cố gắng phản ánh cuộc sống sinh hoạt của dân chúng, đồng thời nỗ lực không ngừng để phát triển văn học chữ Hán thành văn học dân tộc Ngay cả trong những tác phẩm vay mượn nguyên hình thức và phương thức biểu hiện có sẵn ở Trung Quốc người ta vẫn tìm thấy hương vị đặc thù chỉ có ở văn học chữ Hán của Hàn Quốc.(1)

Văn học viết bàng tiếng Hàn được bắt đầu bằng việc mượn chữ Hán để ghi lại tiếng Hàn Khi chữ Hán được tiếp nhận và được sự dụng rộng rãi ở Hàn Quốc người ta đã sáng tạo ra loại văn tự gọi là hyang-chal (hương sát), mượn chữ Hán để ghi âm tiếng Hàn Hyang-chal có ảnh hưởng đến việc hình thành chữ Ka-na của Nhật Bản và cũng không

'1 ‘ VỒ ủlỗia này, nội dung khao bát trong Danied Bouchez (ed), Twenty Papers on Korean Studies offered to Professor W.E.Skillend của Francois Martin trong "Expression chinoise et sprciité coréenne" (Paris : Centre d'étude coréenne, Collège de France, 1989) đặc biệt thú

vị Học giả người Pháp chuyên về văn học Trung Quốc này đã phát biểu rằng thông qua kết quả so sánh thơ chữ Hán của Hàn Quốc in trong tập Đông văn tuyển với thơ Đường, ông đã phát hiện ra đặc

trưng của thơ chữ Hán Hàn Quốc là nó thể hiện lòng tự tôn dân tộc, ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước, sử dụng nhiều đại từ nhân xưng,

có nhiều tác phẩm có tính hài hước.

10 — Cho D o n g -iỉ

Trang 9

khác nhiều so với chữ Nôm của Việt Nam Nhưng số phận của ba loại văn tự này về sau có khác nhau Ở Nhật Bản, do Ka-na giản lược bớt các nét của chữ Hán và đổi thành văn

tự biểu âm nên nó được sử dụng cho đến tận ngày nay Ở Việt Nam, do chữ Nôm rất khó sử dụng nên người ta không dùng nữa mà chuyển sang dùng chữ Rôma Ở Hàn Quốc, đến thế kỷ 15 đã sáng chế ra một loại văn tự riêng có tên gọi

là Hun-min-jeong-eum (Huấn dân chính âm)

Cấu tạo âm tiết của tiếng Hàn phức tạp nên dùng chữ Hán để ghi lại rất khó Do đó, hyang-chal không được sử dụng rộng rãi Chỉ khi Hun-min-jeong-eum, văn tự ưu tú cho phép biểu đạt tiếng Hàn một cách chính xác, ra đời người Hàn Quốc mới có thể tạo dựng được nền văn học quốc ngữ chân chính Nhưng văn học quốc ngữ có mối quan hệ mật thiết với văn học dân gian và văn học chữ Hán nên nó phải trải qua một giai đoạn cần thiết để phát triển

Có thể coi văn học quốc ngữ là đứa con của người mẹ là văn học dân gian và người bố là văn học chữ Hán Bởi vì

nó tiếp nhận phương thức biểu hiện từ văn học dân gian, tư tưởng từ văn học chữ Hán, kết hợp hai mặt này lại để phát triển thành cái của riêng mình

Không chỉ riêng văn học Hàn Quốc mà nền văn học của các nước khác nằm trong vùng ảnh hưởng của Hán văn đều được tạo thành bởi ba bộ phận: văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ Ở các nước không thuộc vùng ảnh hưởng của Hán văn mà thuộc vùng ảnh hưởng của tiếng Latin, tiếng Ả Rập cổ đại, tiêng Sancrit

GIỚI THIỆU CHƯNG 11

Trang 10

cũng tồn tại ba bộ phận văn học dân gian, văn học sử dụng văn tự chung, và văn học quốc ngữ trong nền văn học của mình Thế nhưng, ở Hàn Quốc có lý do chính đáng để coi trọng đặc biệt mối quan hệ giữa văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ Ở Hàn Quốc ba bộ phận văn học này có vai trò vị trí ngang nhau và đều đóng góp tích cực vào nền văn học dân tộc Việc đặc biệt coi trọng điểm này khi viết lịch sử văn học là điều thoả đáng.

Nếu so sánh với các nước khác cùng nằm trong vùng ảnh hưởng của Hán văn thì ở Trung Quốc văn học chữ Hán, ở Nhật Bản văn học quốc ngữ chiếm vị thế áp đảo, còn ở Việt Nam văn học dân gian đóng vai trò đặc biệt nổi trội, nhưng ở Hàn Quốc tình hình lại khác Trung Quốc là chiếc nôi của văn học chữ Hán nên văn học chữ Hán phát triển mạnh Ngược lại do không có loại văn tự mà ai cũng

có thể sử dụng dễ dàng được nên văn học bạch thoại tương đương với văn học quốc ngữ của Trung Quốc phát triển chậm Ở Nhật Bản do không thực thi chế độ khoa cử tuyên chọn quan iạị thôn2 qua việc đánh giá năng lực Hán văn nên những văn nhân sử dụng Hán văn không nhiều, văn học chữ Hán không phát triển rực rỡ nhưng bù lại văn học quốc ngữ phát triển từ rất sớm và thể hiện một cách rõ nét phong vị độc đáo của nền văn học Nhật Bản Ở Việt Nam, cách viết chữ Nôm dựa trực tiếp vào chữ Hán do đó khó sử dụng rộng rãi nên việc sáng tác văn học quốc ngữ không được thuận lợi, bù lại văn học dân gian được coi trọng và được sử dụng tích cực Những tác phẩm được sáng

12 — Cho D o n g -il

Trang 11

tác bằng chữ Nôm không được lưu truyền rộng rãi bàng con đường truyền bản (in ấn) mà bằng con đường truyền khẩu và được đánh giá là di sản ưu tú của toàn thể dân tộc.

Ở Hàn Quốc văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ có vị thế ngang nhau, không bộ phận nào chiếm ưu thế hơn bộ phận nào Ba bộ phận văn học này vừa cạnh tranh lại vừa giúp nhau phát triển, vừa xâm chiếm sang địa hạt của nhau nhưng đồng thời cũng tìm cách xích lại gần nhau Văn học chữ Hán tích cực kế thừa văn học dân gian, ca ngợi cuộc đấu tranh của các anh hùng dân tộc,

ca ngợi lịch sử và phong tục tập quán của Hàn Quốc, phát triển những câu chuyện thú vị thành những tác phẩm và phát triển thành một bộ phận văn học mang đậm bản sắc Hàn Quốc Phương thức biểu hiện và hình thức thơ ca của văn học dân gian được văn học quốc neữ tích cực sáng tạo lại Khi có nhu cầu cách tân thơ ca, thông thường neười ta lấy những điều cần thiết từ troné thơ ca dân gian ra đem sử dụng theo cách mới Chính vì thế mà si-jo (thời điệu) và ga-sa (ca từ) đã ra đời và sau đó si-jo lại được biến thể thành sa-seol-si-jo (tự thuyết thời điệu) Tho’ ca quôc ngữ cũng không ngừng cố gắng để có được tư tưởng và phẩm cách khône kém eì thơ chữ Hán

Quan hệ mật thiết giữa văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ là kết quả nảy sinh từ sự hợp tác

và giao tiếp tương hồ giữa những người hoạt động trong lĩnh vực văn học thuộc tầng lớp trên và tầng lớp dưới Tầng lớp thống trị coi việc thấu hiểu tình cảnh của dân chúng bị

GIỚI THIỆU CHUNG — - 13

Trang 12

trị, đồng thời làm hình thành nên mối đồng cảm về ý thức dân tộc, làm dịu bớt những mâu thuẫn xã hội, là việc làm đúng đắn nên đã làm cho văn học chữ Hán xích lại gần với văn học dân gian Do cần phải dạy dỗ và cai trị dân chúng,

họ đã sáng chế ra Hun-min-jeong-eum và đã tạo ra một phương pháp giáo hóa đạo đức cho dân chúng một cách hiệu quả trong văn học quốc ngữ Đây chính là lý do chủ đề khuyến thiện trừng ác được thể hiện rõ nét trong văn học quốc ngữ Nhưng dân chúng không coi sự phân biệt đối xử theo thân phận là lẽ đương nhiên Họ đã tạo nên bộ phận văn học trào phúng nhằm phản bác lại đặc quyền của tầng lớp thống trị Họ mượn phương thức biểu hiện do tầng lớp trên tạo ra biến nó thành những biểu hiện hài hước và tạo ra một thể giới tác phẩm khác với ý đồ của tầng lớp thống trị

Do đó họ đã tạo ra được cấu trúc tác phẩm mà ở đó giáo huấn và trào phúng cạnh tranh nhau theo nhiều phương thức hết sức đa dạng

2 Sụ’ triển ĩđtr.! của Iịdi sử văn học Hàn Quốc

Văiì học dan gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ không phải lúc nào cũng duy trì mối quan hệ giống nhau.(l) Quan hệ giữa ba bộ phận văn học này biên đổi theo thời đại Có thể tiến hành phân kỳ lịch sử văn học căn cứ

(l) Sự triển khai của văn học Hàn Quốc được giải thích ở đây dựa theo Cho Dong-il trong Hàn Quốc văn học thông sử toàn tập 5 quyển, Nhà xuất bản Ji-sik san-eop, tái bản lần 3, 1994

14 — Cho D o n g -il

Trang 13

vào điểm này Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc phân kỳ lịch sử văn học Hàn Quốc và có nhiều tnanh luận phức tạp về vấn đề này nhung nếu lấy quan hệ giữa văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ làm tiêu chí

cơ bản thì có thể có được một kết quả rõ ràng hiển minh.Đầu tiên trong văn học Hàn Quốc mới chỉ có bộ phận văn học dân gian Có thể gọi thời kỳ này là thời cổ đại Đen khoảng thời kỳ Công nguyên, Hán văn được du nhập vào Hàn Quốc và đến trước thế kỷ 5 bộ phận văn học chữ Hán chính thức được hình thành Văn học Hàn Quốc chuyển từ thời kỳ cổ đại sang thời kỳ trung đại Thời kỳ trung đại là thời đại của văn học chừ Hán Có thể nói văn học trung đại bắt đầu bằng sự xuất hiện của văn học chữ Hán và kết thúc bằng sự mất đi của nó Thế nhưng, văn học chữ Hán lại song song tồn tại cùng văn học quốc ngữ Đầu tiên thông qua hyang-chal (văn tự mượn âm và nghĩa của chữ Hán để ghi tiếng Hàn), sau đó nhờ sáng chế ra hun-min-jeong-eum, văn tự trực tiếp ghi âm tiếng Hàn, người Hàn Quốc đã kiến tạo nên nền văn học quốc ngữ Từ sau thế kỷ 17 văn học quốc ngữ được sáng tác nhiều và đã tạo được thế đối sánh với văn học chữ Hán Đây là thời kỳ quá độ chuyển từ văn học trung đại sang văn học cận đại

Văn học của thời kỳ mà vị thế của văn học chữ Hán bị văn học quốc ngữ thay thế được gọi là văn học cận đại Việc chế độ khoa cử bị phế bỏ trong cuộc cải cách Giáp Ngọ canh trường (Gap-o-gyeong-jang) năm 1894 và việc coi chữ quốc ngữ là văn tự chính thống là động cơ có tính

GIỚI THIỆU CHUNG — - 15

Trang 14

quyết định cho việc thành lập nền văn học cận đại Dân tộc Hàn là dân tộc thuần nhất, sự khác biệt giữa các phương ngữ trong tiếng Hàn rất nhỏ nên việc thống nhất và chuẩn hóa ngôn ngữ dân tộc tạo ra một nền văn học dân tộc cận đại có thể thực hiện dễ dàng Hán văn là văn ngữ còn quốc ngữ chỉ là khẩu ngữ, ở quốc ngữ không có bức tường ngăn cách giữa văn ngữ và khẩu ngữ nên ngay sau khi bãi bỏ Hán văn và chỉ sử dụng quốc ngữ thì văn ngữ và khẩu ngữ

đã đạt ngay được sự thống nhất

Tiêu chuẩn thứ hai có thể lấy làm căn cứ khi phân kỳ lịch sử văn học Hàn Quốc là thể loại văn học Văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ có những thể loại văn học mang đặc trưng riêng, mang lại sự thay đổi thực chất của lịch sử văn học Do đó, lịch sử các thể loại văn học cạnh tranh lẫn nhau được triển khai Neu quan sát việc các thể loại văn học đóng vai trò chủ đạo được thay thế và diện mạo của các thể loại văn học có quan hệ hệ thống được thay đổi theo thời đại ra sao thì việc hiểu biết quá trình triển khai của 'Ịch sử ’.'ăn hục s~ ùuục sâu săc hơn

Người ta cho răng vào thời cô đại, là thời đại của văn học dân aian, sử thi dựng nước mà nhận vật chính là những anh hùng dựng nước đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bản thân sử thi dựng nước không còn tồn tại nữa nhưng dấu tích của nó vẫn còn lưu lại đến ngày nay Nội dung khái lược của những thần thoại dựng nước kể vê lai lịch dựng nước thần bí được ghi chép và truyền lại băng Hán văn Phương thức vừa làm lễ tế quốc thần vừa ca ngợi cuộc

16 — Cho D o n g -il

Trang 15

đấu tranh của người anh hùng được mu-ga (vu ca) tự sự kế

thừa Nếu kết hợp hai loại hình này lại có thể đoán biết được diện mạo của sử thi dựng nước

Cùng với sự xuất hiện của văn học chữ Hán, thơ trữ tình thay thế thơ tự sự đóng vai trò chủ đạo Không chỉ thơ chữ Hán, sự tinh tuý của văn học chữ Hán, mới là thơ trữ tình tự hào có được biểu hiện cô đọng, tinh té mà ở văn học quốc ngữ thơ trữ tình cũng được coi là lĩnh vực quan trọng nhất Cách luật của hyang-ga lấy dân ca làm cơ sở nên có phương thức cách luật khác với thơ chữ Hán Hyang-ga đã phát triển thành thơ trữ tình hàm súc, tư tưởng sâu sắc Việc văn học quốc ngữ thực sự được hình thành bắt đầu từ Hyang-ga chứng tỏ rẳne ở thời kỳ này thơ trữ tình đóng vai trò quan trọng hơn bất cứ thể loại nào khác.Thế nhưng si-ịo đã ra đời thay thế cho hyang-ga Đồng thời với sự ra đời của si-jo, hệ thống thể loại của văn học được tổ chức lại Khác với thời đại của hyang-ga, thơ trữ tình chiếm vị trí độc tôn, si-jo song song tồn tại cùng ak- jang Si-jo là thơ trữ tình nhưng có thể gọi ak-jang là thơ giáo thuật Đặc trưne của trữ tình là cô đọng nhưng đặc trưng của giáo thuật là dàn trải Neu coi trữ tình là tự ngã hóa thế giới thì có thể coi giáo thuật là thế giới hóa tự ngã.(l) Không chỉ có ga-sa mà gyeong-gi-che-ga (cảnh ki

(l) Cách phân chia thể loại văn học Hàn Quốc như thế này được trình bày chi tiết ở Cho Dong-il, Lý luận về thể loại của văn học Hàn Quốc, Seoul, Jip-mun-dang, 1992.

GIỚI THIỆU CHUNG — - 17

Trang 16

thể ca), ak-jang cũng là thơ giáo thuật Cùng với sự ra

đời của Hun-min-jeong-eum văn học quốc ngữ được mở

rộng, thơ giáo thuật dài được đưa vào lĩnh vực của văn

học viết

Giáo thuật có từ rất lâu trong văn học thế giới Văn của văn học chữ Hán hầu như đều là giáo thuật Thế nhưng tại thời kỳ mà nhiều thể loại thơ giáo thuật của văn học quốc ngữ xuất hiện, trong văn học chữ Hán cũng xuất hiện

thể loại giả truyền và mộng du lục, hai thể loại văn học

giáo thuật không có tính thực dụng mà chỉ mượn thủ pháp

tự sự để gây hứng thú Trong văn học chữ Hán và văn học quốc ngữ đều có sự thay đổi, đó là giáo thuật được sử dụng rộng rãi làm cho lĩnh vực của văn học thay đổi khác trước

Sự biến đổi này đã kết thúc thời tiền kỳ trung đại và mở ra thời đại của văn học hậu kỳ trung đại

Ở thời kỳ trung đại, văn học quốc ngữ đã lớn mạnh và

có vị thế ngang bằng với văn học chữ Hán Bước vào thời

kỳ quá độ từ trung đại chuyển sang cận đại, tiểu thuyết phát

íạo ra íhỏ úói sánh iiiừa trữ tình, giáo thuật và tự

sự Ü lĩnh vực tiêu thuyết có cả tiểu thuyết chừ Hán và tiểu thuyết quốc ngừ Hai loại này cạnh tranh và ảnh hưởng lẫn nhau Với sự phát triển của tiểu thuyết quốc ngữ, lĩnh vực của văn học quốc ngữ được mở rộng, số lượng tác phẩm tăng nhanh, dung lượng tác phẩm cũng được mở rộng hơn nhiều Việc ở si-jo thuộc lĩnh vực trữ tình xuất hiện sa-seol- si-jo, và ak-jang là thơ giáo thuật được mở rộng thành trường thiên khắc hoạ chi tiết thực trạng của cuộc sông

18 - C ho D o n g -il

Trang 17

cũng là điều đáng chú ý Có thể nói đây là kết quả của sự biến đổi xảy ra ở các lĩnh vực khác nhằm tạo ra sự phát triển tương ứng với sự phát triển của văn học tự sự.

Văn học dân gian cũng bắt nhịp với không khí sôi động này và cho ra đời nhiều thể loại văn học mới Truyện

kể dân gian và dân ca được sáng tác lại một cách rầm rộ Trên nền tảng của mu-ga (vu ca) tự sự, pan-so-si đã ra đời góp phần tích cực vào việc cách tân văn học tự sự Pan-so-

ri chuyển thơ tự sự về người anh hùng thành thơ tự sự về thường dân, tạo ra cấu trúc phức hợp mà ở đó giáo huấn và trào phúng mâu thuẫn lẫn nhau để phản ánh những tranh luận của đương đại Hơn nữa âm nhạc và phương thức biểu diễn của nó cũng rất xuất sắc nên đã thu được thành công lớn trên sân khấu Múa mặt nạ nông thôn có lịch sử lâu đời được phát triển thành múa mặt nạ thành thị có quy mô lớn hơn nhiều và rất tích cực phê phán xã hội Thế nên, nếu gộp

cả bộ phận văn học dân gian vào trong khi xem xét thì có thể nói ở thời kỳ này văn học Hàn Quốc bước vào thời đại

mà bốn thể loại văn học cơ bản là trữ tình, giáo thuật, tự sự

và hý khúc cạnh tranh lẫn nhau

Đồng thời với sự bắt đầu của văn học cận đại, một biến đổi lớn nhất đã xuất hiện trong hệ thống thể loại của văn học Hàn Quốc Đó là sự mất đi của giáo thuật Cùng với sự rút lui của văn học chữ Hán lĩnh vực rộng lớn của giáo thuật bị mất đi Trong văn học quốc ngữ cận đại chỉ những tác phẩm được coi là tùy bút trong văn xuôi giáo thuật mới được công nhận là tác phẩm văn học Si-jo và ak-

GIỚI THIỆU CHUNG — - 19

Trang 18

jang có vận mệnh khác nhau Trong khi cố gắng phục hưng si-jo thì đối với ak-jang người ta làm cho nó không thể tồn tại được, ngáy cả dưới hình thái tàn dư của văn học thời đại

cũ, góp phần làm cho lĩnh vực giáo thuật chính thức mất đi

Thay vào đó, hý khúc bước vào lĩnh vực của văn học viết

Phương pháp tam phân về thể loại là trữ tình, tự sự và hý khúc được xác lập

Việc truyền thống của Hàn Quốc và ảnh hưởng của phương Tây có tác động như thế nào đối với sự hình thành của văn học cận đại Hàn Quốc đã là một chủ đề tranh luận trong suốt một thời gian dài Thế nhưng tác động này thể hiện ở ba lĩnh vực trữ tình, tự sự và hý khúc khác nhau Ở tiểu thuyết thuộc lĩnh vực tự sự, tiểu thuyết cận đại kế thừa gần như nguyên vẹn sự trưởng thành của tiểu thuyết cổ điển Có thể nói không hề có sự đoạn tuyệt với tiểu thuyết

cổ điển ở phương diện sử dụng ngôn ngữ, triển khai sự kiện hay thiêt định quan hệ với độc giả Ở thơ trữ tình biểu hiện

rõ ràng nhất là sự cô găng kế thừa truyền thong của thơ ca

co cien ũ' cil ici! sau và lạo ra tho- tự do cận đại theo tiền lệ cua phương Tây ở bê nối Còn với hý khúc, thì lại khác Nó

là một thể loại của văn học viết, rất khác so với múa mặt

nạ, thê loại của văn học dân gian chỉ được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu Hý khúc được phát triển thành hý khúc mang tính cá nhân

Những biến đổi về hệ thống thể loại văn học được trình bày trên đây là do sự thay thế lẫn nhau giữa những tầng lớp đảm đương văn học Tầng lớp đảm đương văn học

20 — Cho D o n g -iỉ

Trang 19

là tập đoàn sáng tác và thưởng thức văn học Có nhiều tầng lớp đảm đương văn học cùng song song tôn tại và cạnh tranh lẫn nhau Tầng lớp thống trị xã hội, thế lực phê phán

nó, và dân chúng bị trị đều là những tầng lớp đảm đương văn học Họ vừa làm tròn nhiệm vụ của mình đóng góp vào

sự phát triển chung của văn học vừa cạnh tranh lẫn nhau Phải bổ sung việc hiểu lịch sử văn học là lịch sử cạnh tranh lẫn nhau để giành quyền chủ đạo giữa các tầng lớp đảm đương văn học vào việc khảo sát cho đến nay thì mới có thể vượt qua được bình diện thứ hai và đạt đến bình diện thứ ba trong việc hiểu biết về lịch sử văn học Hàn Quốc

Sử thi dựng nước thời cổ đại được cho là do quý tộc quân sự, nhân vật chính của những cuộc chiến tranh chinh phục, tự sáng tác ra và truyền tụng Vào thời đó có lẽ những nhà lãnh đạo chính trị là những chủ tế và đồng thời cũng trực tiếp cai quản văn học và nghệ thuật Họ đã tạo ra trong sử thi dựng nước phương thức thích hợp nhất để thể hiện chủ nghĩa coi bản thân là trung tâm, thời cổ đại cho răng những vị thuỷ tổ dụng nước là con trai của trời và nhà thống trị tương thông với trời nên tập đoàn của họ cần phải

có cảm giác ưu việt đặc biệt không thể có ở các tập đoàn khác

Thế nhưng bước vào thời trung đại phải tiếp nhận chữ Hán và sáng tác thơ trữ tình có tính cách điệu cao đòi hỏi phải có tập đoàn chuyên môn cai quản văn học Ở Tân La (Sil-la lục) đầu phẩm chính là những người đảm nhận nhiệm vụ này Lục đầu phẩm là giai cấp quý tộc cấp dưới

GIỚI THIỆU CHƯNG — 21

Trang 20

không thể leo lên được vị trí chân cốt, vị trí thống trị tối cao Họ là những người có năng lực đóng góp thiết thực vào việc cai trị quôc gia bằng tài năng sáng tác và cảm thụ vãn chương Đông thời, họ cũng là những người gặp phải những mâu thuẫn trong khi đi tìm lý tưởng của chủ nghĩa, phổ biến trung đại trong văn học chữ Hán và Phật giáo Nỗi

ưu phiền của Choe Chi-won (Thôi Trí Viễn) người đã phải sang Đường vì không thực hiện được chí của mình tại Tân

La và trở nên trầm trọng hơn cũng bởi tình hình này

Vào thế kỷ thứ 10 khi Cao Ly (Go-ryeo) thay thế Tân

La, tầng lớp đảm đương văn học thoát khỏi địa vị này và tự vươn lên vị trí thống trị, lập ra chế độ tuyển dụng quan lại qua khoa cử Ket quả là chất lượng của sáng tác văn học chữ Hán được nâng cao Thế nhưng, nguyên tắc bất kỳ ai

có tài năng cũng có thể thi đỗ và được tuyển dụng không được thực hiện mà chỉ có một vài gia tộc được hưởng đặc quyền này, cho nên có thể gọi tầng lớp thống trị thời tiền

kỳ Cao Ly là quý tộc môn phiệt Có thể xác nhận rõ ràng ý

’ q r' phiội Uong trước thuật lịch sử vàsang LUC van học cua Kim tìu-sik (Kim Phú Thức), người

có những hoạt động nổi trội nhất trong hai lĩnh vực này tại thời kỳ đó

Đến thế kỷ thứ 12 trong thời kỳ xảy ra loạn võ thần và tiếp đó là nạn ngoại xâm của tộc người Mông cổ, giai câp quý tộc môn phiệt, tầng lớp có lịch sử hình thành lâu đời, bị

hạ bệ, tầng lớp tập quyền mới, gọi chung là quyền môn thế tộc ra đời thay thế cho nó Tầng lớp này không có năng lực

22 — Cho D o n g -iỉ

Trang 21

tạo lập ra hệ tư tưởng mà chỉ coi việc bạo hành làm chính Những nhân tài tích luỹ được thực lực nhờ trau dồi Hán văn trong đám hương lại địa phương đã từng bị giai cấp quý tộc môn phiệt đè nén, xuất hiện trong giới chính trị trung ương và trở thành tầng lớp sỹ đại phu mói (sin-sa- dae-bu) Họ đối đầu với giai cấp quyền môn thế tộc đứng

ra yêu cầu cải cách xã hội Yi Gyu-bo (Lý Khuê Báo), người tiên phong của tầng lớp sỹ đại phu mới, đã mở ra con đường sáng tác văn học suy nghĩ về dân tộc và bảo vệ dân tộc Đến thời đại của An Chuk (An Trục) và Yi Saek (Lý Sắc) sự chuyển biến phương hướng được thể hiện rõ ràng, gyeong-gi-che-ga và si-jo ra đời làm cho thơ ca quốc ngữ được cách tân

Từ thế kỷ 15 trở đi sỹ đại phu tự nắm lấy chính quyền thành lập nên vương triều Triều Tiên và dự định thực hiện

lý tưởng của Nho học mới, do đó nhiều khó khăn phức tạp

đã nảy sinh do sự đối lập về đường lổi Quan niệm "văn" và

"đạo" phải có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời được coi là cương lĩnh chung Bên cạnh đây, phái Hun-gu (Huân cựu), tầng lớp quý tộc được hưởng đặc quyền, mà dẫn đầu là Seo Geo-jeong (Từ Cư Chính) coi trọng "văn", phái Sa-Iỉm (Sỹ lâm), thế lực phê phán mà Yi Hwang (Lý Hoảng) đóng vai trò là nhà chỉ đạo lý luận, coi việc dồn lực cho "đạo" là quan trọng Mặc khác, những bang-oe-ỉn (ngoại phương nhân) mà người tiên phong là Kim Si-seup (Kim Thời Tập) đã sáng tác văn học rũ bỏ cảm giác ưu việt cũng như đặc quyền của sỹ đại phu và cảm nhận được sự

GIỚI THIỆU CHUNG —- 2 3

Trang 22

hoà đồng với dân chúng, đồng thời phản bác lại trật tự thống trị của vương triều Triều Tiên (Jo-seon).

Từ sau thế kỷ 17, thời kỳ quá độ từ trung đại sang cận đại, tầng lớp sỹ đại phu tập quyền càng cố gắng tăng cường bảo vệ tuyệt đối hệ tư tưởng Nho học mới và quy phạm của văn học chữ Hán nhưng họ đã không thể ngăn nổi sự thay đổi của thời đại Sự phân liệt trong nội bộ của văn học sỹ đại phu được mở rộng hơn và quyền chủ đạo của sỹ đại phu

bị lung lay Trong những trí thức thuộc tầng lớp sỹ đại phu cảm nhận được sâu sắc mâu thuẫn của thể chế thống trị, đã xuất hiện những văn nhân thuộc phái Sil-hak (Thực học) như Bak Ji-won (Phác Chỉ Nguyên), Jeong Yak-yong (Đinh Nhược Dong), làm hình thành nên bộ phận văn học chữ Hán mới phê phán và trào phúng xã hội Văn học sỹ đại phu đã từng được nhất quán là văn học của nam giới được phân thành văn học của nam giới và văn học của nữ giới, những phụ nữ thuộc tầng lớp sỹ đại phu đã đóng góp một vai trò quan trọng với tư cách là tác giả và độc giả của

Nhùng người có thân phận trung nhân sáng tác thơ chữ Hán, đóng vai trò là ca khách chuyên hát si-jo và cũng trở thành những người hâm mộ pan-so-si, đồng thời cũng

có những hoạt động hết sức đa dạng Kim Cheon-taek (Kim Thiên Thạch) và Kim Su-jang (Kim Thọ Trường) có những hoạt động nổi trội với tư cách là ca khách, đồng thời cũng sáng tác và biên soạn si-jo Sin Jae-hyo (Thân Tại Hiêu) bảo trợ cho pan-so-si và cải biên lại phần lời (sa-seol, xã

24 — Cho Đ o n g -il

Trang 23

thuyết) của pan-so-ri Tầng lớp jung-in cũng như tầng lớp thị dân có thân phận thấp kém hơn, tích luỹ được tiền nhờ buôn bán, được hình thành Họ có nhu cầu về văn học giải trí và đã tạo ra phương thức thương phẩm hóa văn học, đóng góp đặc biệt tích cực vào sự phát triển của tiểu thuyết

Họ cho thuê tiểu thuyết lấy tiền, cho khắc in tiểu thuyết rồi đem bán rộng rãi ở chợ Những con hát coi hoạt động diễn xướng là nghề nghiệp ngày càng nhiều, góp phần giúp cho pan-so-ri phát triển mạnh Nông dân cũng ra sức sáng tạo lại văn học dân gian tạo nền tảng vững chắc cho sự trưởng thành của ý thức dân chúng

Cùng với sự rút lui của tầng lớp sỹ đại phu và sự xuất hiện của thị dân với tư cách là thế lực chi phối văn học cận đại đã ra đời Yeom Sang-seop (Liêm Tưởng Thiệp), Hyeong Jin-geon (Huyền Trấn Kiên), Na Do-hyang (La Đạo Hương) đều là những thị dân hậu duệ của tầng lớp jung-in Seoul Họ là những người đi tiên phong trong việc tạo ra tiểu thuyết cận đại Tầng lớp thị dân xuất thân từ thường dân Pyeong-an-do như Yi Gwang-su (Lý Quang Thù), Kim Dong-in (Kim Đông Nhân), Kim So-wol (Kim

Tố Nguyệt) cũng đóng vai trò lớn trong việc hình thành nên nền văn học cận đại Tầng lớp thị dân, nhân vật chính của văn học cận đại, không bảo vệ lợi ích của giai cấp mình một cách tuyệt đối, không loại bỏ hết lợi ích của các giai cấp khác mà một mặt họ kế thừa di sản văn học của tầng lớp sỹ đại phu, mặt khác họ phải chịu trách nhiệm sát cánh cùng văn học quần chúng để phát triển nền văn học dân tộc

GIỚI THIỆU CHUNG - - 2 5

Trang 24

chủ nghĩa cận đại khác với chủ nghĩa phổ biến thời trung đại.

Thế nhưng những cố gắng tự thân vì sự nghiệp cận đại hóa nền văn học bị gián đoạn và nảy sinh những sai lạc trên con đường thực hiện sự nghiệp bởi sự bắt đầu của thời kỳ thuộc địa Đồng thời với việc những nhà tư sản mại bản thay thế những nhà tư sản dân tộc tạo nên nhánh chính của thị dân, những tích luỹ được trong thời kỳ quá độ từ trung đại sang cận đại bị lãng quên, và sự vận động nhằm du nhập văn học cận đại từ phương Tây thông qua Nhật Bản trở nên rõ ràng hơn Những tác giả chỉ say mê sáng tác không quan tâm đến quyền chủ đạo của văn đàn đã tận dụng được toi đa nền tảng được hình thành từ trước và gặt hái được những thành quả rõ rệt Mặt khác, những nhà phê bình tự cho mình thuộc phải Văn học hải ngoại (Hae-oe- mun-hak) yêu cầu tiếp nhận văn học phương Tây, tạo nên

sự phức tạp trên văn đàn Thế nên đã phát sinh ra những sai lạc trong việc kế thừa truyền thống và văn học thị dân trở xea xa each vơi van học quàn chúng

Cuộc vận động văn học giai cấp mà nội dung của nó là phải phế bỏ văn học thị dân và sáng tác văn học vô sản nô

ra Cuộc vận động này đã có được thành quả là khăc hoạ được một cách sâu sắc nỗi gian khổ của tầng lớp sống dưới đáy của xã hội nhưng vấn đề là nó từ bỏ con đường chung của văn học dân tộc Hơn nữa, do không muốn kê thừa văn học quần chúng của thời đại trước mà vội vã tiêp thu hình mẫu của phương Tây thông qua Nhật Bản nên đã tạo ra sự

26 — Cho D o n g -il

Trang 25

hỗn loạn trong văn học thời kỳ này Việc xác lập nền văn học cận đại kế thừa rộng rãi truyền thống của văn học sỹ đại phu, văn học thị dân và văn học quần chúng thời đại trước, đồng thời tiếp nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây một cách có chọn lọc là bài toán vẫn còn cho đến tận ngày nay.

3 Đặc trưng của văn học Hàn Quốc

Đặc trưng của văn học Hàn Quốc thể hiện rõ nhất ở cách luật của thơ ca.(l) Mặc dù thơ ca Hàn Quốc là thơ định hình nhưng số âm tiết tạo thành nhịp thơ có thể biến đổi, những yếu tố như độ trầm bổng, độ dài ngắn, độ mạnh yếu của nguyên âm không được quan tâm đến khi tạo nhịp thơ

và vần thơ, không phát triển So với thơ chữ Hán có độ trầm bổng, thơ bằng tiếng Hy Lạp hay tiếng Latin có độ dài ngắn, thơ Đức hay thơ Anh có độ mạnh yếu thì dường như

có thể cho thơ Hàn Quốc là đơn điệu Nhưng khác với thơ Nhật Bản hay thơ Pháp, những thể thơ sử dụng cách luật đơn thuân không có những điều kiện kể trên, thì thơ Hàn Quốc được phép biến đổi tự do, vì có thể thêm bớt số

GIỚI THIỆU CHUNG -— 27

Trang 26

bốn nhịp, nhịp đầu tiên của dòng cuối cùng phải ngắn hơn, còn nhịp thứ hai của nó phải dài hơn các nhịp còn lại số

âm tiết của nhịp thơ phụ thuộc vào từng tác phẩm cụ thể,

nó chấp nhận sự dao động mà ở đó từng tác phẩm có thể có cách luật riêng Ở những hình thức thơ khác, những quy tắc chung được hạn chế tối thiểu, cho phép biến đổi và mở rộng phạm vi, làm xuất hiện nhiều hình thức thơ đa dạng, tiến gần đến thơ tự do từ rất sớm Người ta coi những chế ước về nhịp thơ đối với si-jo là bất tiện nên đã tạo ra sa- seol-si-jo, thể thơ mà số nhịp của mỗi dòng thơ không cố định Ở pan-so-ri, không có cách luật nhất quán cho toàn tác phẩm, nhiều cách luật và nhiều hình thức biến hình của

nó được sử dụng tự do tùy theo sự đòi hỏi của tác phẩm.Thờ cận đại dường như đều là tho* tự do, theo tiền lệ của phương Tây được du nhập vào Hàn Quốc thông qua Nhật Bản, nhưng có không ít những tác phẩm kế thừa cách luật truyền thống đã được biến hình đi Khác với trường hợp của Nhật Bản, quy tắc về cách luật truyền thống rất

đ ' - ỏ :J dáiiii ũè biến hình, nên ngay khi phá

vừ uặi lự tin xuất hiện ngay sự mất trật tự trong cách luật, trong cách luật của thơ ca Hàn Quốc trật tự và mất trật tự vốn đã cùng tồn tại nên không có khó khăn gì đặc biệt khi tạo ra thể thơ tự do làm nổi bật mặt mất trật tự của cách luật Mặc dù vậy lý luận về cách luật chú ý đến số chữ được du nhập từ Nhật Bản vào đã gây nên sự xáo trộn trong sáng tác thơ của Hàn Quốc, ứng dụng luật về độ mạnh yếu giống như trong thơ Anh, luật về số âm tiết trong thơ Nhật

2 8 - C h o D o n g -il

Trang 27

Bản, cách luật của thơ ca Hàn Quốc đã bị hiểu lầm Luật về nhịp thơ mang tính đặc thù của Hàn Quốc mới chỉ được phát hiện ra gần đây.

Lý do cách luật không bị bó buộc vào quy tắc và có thể tự do biến hình là bởi suy nghĩ phải như thế mới đẹp

Có thể gọi đây là ý thức về cái đẹp, yêu chuộng sự biến hình Mặc dù chỉ mở rộng theo mặt phẳng nhưng hình đồ hoạ có góc cạnh theo quy tắc không được ưa chuộng mà phải là đường cong uốn lượn tự nhiên thoải mái mới được coi là đẹp Vẻ đẹp này không những được thể hiện rõ nét ở đường nét của mỹ thuật, giai điệu của âm nhạc mà còn là nguyên lý cơ bản của biểu hiện văn học Người ta cho rằng ngay cả ở văn học chữ Hán, bộ phận văn học có vẻ có khoảng cách khá xa với vẻ đẹp này, cũng cần phải bài bác

sự cách thức, sự gọt giũa cầu kỳ và diễn tả tâm hồn con người chân thật như nó vốn thế

Người ta tránh xa phong trào cố gắng gọt giũa trong khi sáng tác và tự hào về kỹ xảo của mình, coi trọng việc tái hiện lại nguyên vẹn lời nói tự nhiên trong sinh hoạt đời thường Việc kết hợp sử dụng những câu văn thâm thuý cùng với những lời nói thông thường, đông thời tạo ra cấu trúc phức hợp mà ở đó hình thức biểu hiện bề ngoài và ý nghĩa hàm ẩn bên trong khác nhau để nâng cao hiệu quả trào phúng là phương pháp biểu hiện được đánh giá cao nhất Việc đặc trưng này xuất hiện ở cả tiểu thuyết của Bak Ji-won (Phác Chỉ Nguyên), nhà trí thức tối cao, và cả múa mặt nạ của dân chúng tầng lớp dưới, thuộc về hai cực đối

GIỚI THIỆU CHUNG — - 29

Trang 28

lập nhau của thứ bậc đánh giá giá trị văn học là điêu rât đáng được chú ý.

Ý chí coi hành vi sáng tác văn học là một trò chơi và muốn quay trở lại với sân chơi mà ở đó những người cùng chơi, bất kể là ai, đều có thể hợp lại cùng nhau nhảy múa với tư cách giống nhau, rất rõ ràng Thế nên đây không chỉ

là ý định đánh giá lại múa mặt nạ của dân chúng tầng lớp dưới Những người chủ xướng cuộc cách tân tư tưởng vừa múa hát vừa tuyên truyền rộng rãi những điều giác ngộ được nhàm gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người nghe Won Hyo (Nguyên Hiểu) đã đi khắp bốn phương vừa múa trò múa mặt nạ ba-ga-ji học được từ người thầy con hát vừa thức tỉnh những người nghèo khó bần tiện Yi Hwang (Lý Hoảng) cho rằng khi múa hát theo điệu nhạc sẽ sáng tác được bài hát có thể thanh lọc được tâm hồn con người Nhàm thay đổi thế giới bàng tư tưởng mới Choe Je-U (Thôi

Te Ngu) vừa cầm kiếm múa vừa sáng tác bài ca múa kiếm

và hát

Người ta r h o vnno việc hợp nhất hai mặt của văn học

ù là :rò chơi húiìg thú, dồng thời diễn tả được nỗi sầu não của con người, là sáng tạo đúng đắn Việc coi cảm xúc được tạo dựng trên nền tảng của nồi sầu não sâu sắc là cái hận và coi văn học Hàn Quốc là văn học của cái hận hoàn toàn thoả đáng Nhưng đồng thời cũng không được bỏ qua một mặt khác nữa là sự thưởng thức trò chơi hứng thú Hứng thú là cảm hứng đạt đến cao trào Hành vi sáng tác văn học hay nghệ thuật cũng đồng thời là hành vi giải toả

30 — Cho D o ttg -il

Trang 29

nỗi hận và sự hứng thú trong lòng Trong cái hận cũng xen lẫn cả sự hứng thú và trong sự hứng thú cũng xen lẫn cả cái hận nên rất khó phân biệt Khi hành vi sáng tác nghệ thuật đạt tới đỉnh cao thì cả cái hận và sự hứng thú đều được giải toả và do đó hai mặt này hợp lại với nhau làm một.

Khi giải toả cái hận bằng sự hứng thú thì sẽ vượt qua được khó khăn và những thử thách cam go Và như thế bi kịch bị phủ nhận Trong kịch truyền thống Hàn Quốc không có bi kịch mà chỉ có hài kịch Mặc dù chuyển sang lĩnh vực của kịch tính bi kịch cũng không được đánh giá cao Người ta luôn hướng tới việc giác ngộ chân lý sâu sắc thông qua tiếng cười Có nhiều truyện kể dân gian cho thấy hình mẫu về những cao tăng đã đạt đến đỉnh cao của giác ngộ nhưng vẫn có những hành động buồn cười và đả phá sự ràng buộc vô nghĩa của giáo lý cao siêu Việc coi thơ thiền, loại thơ khắc phục lý luận bằng ý tưởng siêu phàm, là lĩnh vực quan trọng nhất của văn học Phật giáo cũng xuât phát từ một nguyên lý chung Mặc dù Bak Ji- won (Phác Chỉ Nguyên) nói rằng mình chơi trò chơi bằng văn bản ngôn từ nhưng ông đã để lại thành quả cao nhất trong cuộc cách tân tư tưởng Giống như Chae Man-sik (Thái Vạn Thực), Kim Yu-jeong (Kim Dụ Trinh) đã cho thấy hình mâu tôt, những tác phẩm mà ý thức về xã hội đạt tới đỉnh cao trong văn học cận đại cũng lợi dụng tích cực hiệu quả của tiếng cười

Việc những tác phẩm văn học tự sự của Hàn Quốc kết thúc có hậu cũng là một đặc trưng có thể khảo sát cùng với

GIỚI THIỆU CHƯNG 31

Trang 30

điều này.(I) Trong "cuộc đời của người anh hùng" được hình thành từ thần thoại dựng nước cổ đại, mô-típ người anh hùng khắc phục khó khăn bằng đấu tranh và trở thành người chiến thắng, được coi là kết thúc được công thức hoá Khi đã giành được thắng lợi thì chắc chắn sẽ nhận được sự chúc phúc của trời chứ không hề xảy ra vấn đề quyêt đấu giữa trời và đất, giữa con người và thần linh Thế nên việc chủ nghĩa hiện thực căn cứ vào thuyết nhất nguyên luận thể hiện rõ ràng được tính kế thừa và nhân vật chính của tiểu thuyết kết thúc có hậu được coi là lẽ đương nhiên Điểm này có thể mang đến kết quả trái ngược nhau Hoặc là do kết thúc có hậu đã được dự định sẵn nên việc triên khai tác phâm trở nên thoải mái nhẹ nhàng, hoặc là do phải đi tới chỗ khắc phục bi kịch nên cuộc đấu trí trở nên

vô cùng cam go Việc triển khai tác phẩm theo hướng nào phụ thuộc vào từng tác phẩm cụ thể

<u về đặc trưng của văn học Hàn Quốc là kết thúc có hậu, tham

khảo thêm Seo Dae Seok, Kết thúc có hậu của tiểu thuyết cô điên và

ý thức của người Hàn, Nghiên cứu ngữ văn Gwan-ak 3, Seoul, Hội

nghiên cứu ngữ văn trường Đại học quốc gia Seoul, 1979 ; Kim Byeong-guk, Văn học cỗ điển Hàn Quốc và thế giới quan, Hiện

tượng và ý thức quyển 7 sổ 1, Seoul, Viện Khoa học xã hội nhân văn Hàn Quốc, 1983.

32 — Cho D o n g -iỉ

Trang 31

4 Lịch sử và thành quả nghiên cứu văn học Hàn Quốc

Nỗ lực tìm hiểu và chỉnh lý văn học Hàn Quốc đã có từ

rất sớm Bắt đầu từ Phá nhàn tập của Yi In-lo (Lý Nhân

Lão) được biên soạn vào thế kỷ 13 thành quả phê bình luận bàn về tác phẩm thơ chữ Hán và phương pháp sáng tác đã được tích luỹ rất phong phú, đa dạng Đen đầu thế kỷ 18 Hong Man-song (Hồng Mãn Tổng) tập hợp những phàn đặc

biệt cần thiết trong các sách phê bình kim cổ soạn ra Thi thoại tùng lâm Trong những tuyển tập văn học chữ Hán được biên soạn nhiều lần, Đông văn tuyển được biên soạn

vào thế kỷ 15 là bộ sách đồ sộ nhất gồm một trăm ba mươi quyển và có hai mươi ba quyển tục biên Việc biên soạn tài liệu của văn học quốc ngữ được bắt đầu từ việc Kim Cheon-taek (Kim Thiên Thạch) tập hợp những tác phẩm

si-jo theo lịch đại soạn ra Thanh Khâu vĩnh ngôn vào thế

kỷ 18

Những nghiên cứu mang tính cận đại về văn học Hàn Quốc được bắt đầu vào thập niên của thế kỷ 20 Những nhà quốc ngữ học thời kỳ này đã liên kết giáo dục truyền thống với ý thức tự giác cận đại với ý đồ nghiên cứu toàn bộ văn hóa Hàn Quốc trên diện rộng để cổ xuý ý thức dân tộc chống lại sự thống trị thực dân của Nhật Bản Trong số này

An Gwak (An Khuếch) là người đạt được những thành quả

đặc biệt nổi trội Triều Tiên văn học sử của An Gwak (An

Khuếch) ra đời năm 1922 tuy chưa hệ thống được toàn vẹn

sự kiện của lịch sử văn học Hàn Quốc nhưng có ý nghĩa

GIỚI THIỆU CHUNG — - 33

Trang 32

đóng góp to lớn vào việc tiếp nhận văn hóa ngoại lai một cách có chọn lọc để làm rõ quá trình phát triển của văn hóa dân tộc.

Đen thập niên 30 đã xuất hiện thế hệ những người được tiếp nhận nền giáo dục mới và chuyên về văn học Hàn Quốc ở đại học Do đó nghiên cứu về văn học Hàn Quốc được chuyên môn hóa và được hệ thống hoá Trong Triều Tiên tiểu thuyết sử Kim Tae-jun (Kim Thai Tuấn) lần đầu tiên đã cho thấy sự quan tâm nghiêm túc về tiểu thuyết, hệ thống và đánh giá hành trình rũ bỏ sự câu thuộc vào tư tưởng Nho giáo của văn học để tiểu thuyết ra đời, phát triển và cuối cùng đã đạt đến tiểu thuyết cận đại Jo Yun-je (Triệu Nhuận Tể) trong Triều Tiên thi ca sử cương đã khảo sát quá trình biến thiên của thơ ca quốc ngữ, đồng thời xác lập ra phương pháp khảo chửng tài liệu chi tiết tỉ

mỉ Tiến thêm một bước nữa, ông muốn thiết lập ra quan điểm nhìn nhận lịch sử dân tộc để tìm hiểu xem tính chính thể của tinh thần dân tộc đã được thể hiện như thế nào

ưong van học va coị dó !à no uyên lý của việc giải phóng và thống nhất dân tộc Sau giải phóng năm 1949, ông đã cho xuất bản Quốc văn học sử, cuốn sách được viết trên quan điểm này

Sau năm 1945 thế hệ những người chuyên về văn học Hàn Quốc ở đại học tốt nghiệp và trở thành những giảng viên văn học Hàn Quốc đã ưu tiên dồn sức vào việc xác định rõ lĩnh vực chuyên môn, hệ thống lại tài liệu một cách cẩn thận, không bỏ sót tài liệu nào, tìm ra sự thật văn học

34 — Cho D o n g -ỉl

Trang 33

như nó vốn có và đã mở ra những lĩnh vực nghiên cứu mới chưa từng thấy trước đó Thành quả nghiên cứu văn học chữ Hán của Yi Ga-won (Lý Gia Nguyên), si-jo của Jeong Byeong-uk (Trịnh Bỉnh Dục) và Sim Jae-hwan (Trầm Tái Hoàn), tiểu thuyết của Kim Gi-dong (Kim Khởi Đông), truyện kể dân gian của Jang Deok-sun (Trương Đức Thuận), pan-so-ri của Kim Dong-uk (Kim Đông Húc), kịch của Yi Do-hyeon (Lý Đỗ Huyễn), tiểu thuyết cận đại của Jeong Gwang-yong (Toàn Quang Dong), đã chiếm được vị trí đặc biệt và gây được ảnh hưởng rộng rãi Trong Lịch đại thòi điệu toàn thư, Sim Jae-hwan đã hệ thống nguồn tài liệu của si-jo và làm rõ sự khác biệt theo từng dị bản một cách tỉ mỉ chi tiết Trong Nghiên cứu tiểu thuyết cổ điển Hàn Quốc, Kim Gi-dong đã tìm đọc và giới thiệu ngắn gọn tiểu thuyết Hàn Quốc trên diện rộng.

Thể hệ tiếp theo ra đời sau thập niên 60 của thế kỷ 20 coi trọng lý luận và phương pháp nghiên cứu, đồng thời tiến hành cải cách phương pháp nghiên cứu Một mặt, họ tiếp nhận phương pháp nghiên cứu của phương Tây để thực hiện những thử nghiệm đa dạng nhằm mở ra hướng nghiên cứu có ý nghĩa cao hơn việc hệ thông lại một cách đơn thuần những sự thật văn học Mặt khác, họ cổ gắng kế thừa

có sáng tạo truyền thống nghiên cứu văn học Hàn Quốc Kim Yeol-gyu (Kim Liệt Khuê) và Hwang Pae-gang (Hoàng Phối Giang) là những người đi đầu trong việc chuyển đổi phương hướng nghiên cứu Hai ông đã thử ứng dụng phương pháp phê bình nguyên hình để làm rõ nền

GIỚI THIỆU CHUNG - - 3 5

Trang 34

tảng cơ bản của văn học Hàn Quốc Kim Yong-jik (Kim Dong Tắc) và Kim Hak-dong (Kim Học Đông) đã chính thức ứng dụng phương pháp của văn học so sánh vào nghiên cứu văn học cận đại Yi Jae-seon (Lý Tại Tiển) và Kim Yun-sik (Kim Doãn Thực) đã tiến hành những kiểm chứng đa dạng phong phú trên nhiều góc độ của văn học cận đại Học giả Cho Dong-il (Triệu Đông Nhất) đã viết

H àn Quốc văn học thông sử toàn tập 5 quyển và đang thử nghiệm công trình nghiên cứu trên diện rộng nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn học và triết học, văn học Hàn Quốc và văn học thế giới

Thành quả nghiên cứu văn học Hàn Quốc tại Bắc Hàn được tập hợp trong Triều Tiên văn học thông sử quyển thượng và quyển hạ, xuất bản năm 1959 và Triều Tiên văn học sử toàn tập 5 quyển được xuất bản từ năm 1977 đến năm 1981 Cả hai công trình nghiên cửu văn học này của Bắc Hàn đều do Viện Khoa học xã hội thực hiện và là thành quả của việc ứne dụne tư tưởng mang tính chính

rpóng v;jo việc vịèỊ Ịịeh sư văn học Tư tưỏng mang tính chính thống đã đặt ra vấn đề là hai cách nhìn cơ bản, chủ nghĩa lịch sử và chủ nghĩa yêu nước có liên quan với nhau như thế nào và đóng vai trò ra sao trong việc làm sáng tỏ thực trạng của lịch sử văn học Những sách nghiên cứu ra đời sau năm 1986 cho thấy việc nghiên cứu văn học đã uyển chuyển hơn trước và làm cho người ta quan tâm chú ý đến phương hướng nghiên cứu văn học trong tương lai của Bắc Hàn Trong lĩnh vực hệ thống và biên dịch, hiện đại

36 Cho Dong-iỉ

Trang 35

hóa và xuất bản di sản văn học Bắc Hàn đã thu được những thành quả có giá trị.

Công việc hệ thống biên soạn tài liệu của Nam Hàn rất

đa dạng và không có tính nhất quán Cùng với việc phổ cập

kỹ thuật sao chép và xuất bản tài liệu, những văn tập của văn học chữ Hán, tiểu thuyết quốc ngữ và ak-jang, tác phẩm văn học cận đại cùng những tài liệu liên quan được xuất bản với khối lượng lớn Tại một số cơ quan như Hội Phát triển văn hóa Hàn Quốc tiếp tục cho ra đời những tổng tập biên dịch các tài liệu chữ Hán ra chữ quốc ngữ Viện Nghiên cứu văn hóa tinh thần Hàn Quốc đã cho ra công trình Hàn Quốc khẩu bi văn học đại hệ toàn tập tám mươi hai quyển là kết quả điều tra văn học dân gian trên toàn quốc Hàn Quốc văn học toàn tập hay những sách có tên gọi tương tự đã được xuất bản nhiều lần, nhưng nó cũng chỉ dừng lại ở việc tuyển tập những tài liệu của vãn học cận đại Công việc tập hợp tài liệu văn học cô điển cho ra toàn tập mà ai cũng có thể đọc dễ dàng được vẫn chưa được tiến hành chu đáo Hiện Trung tâm Nghiên cứu văn hóa dân tộc của trường Đại học Koryo đang xúc tiến công trình này với quy mô lớn

Việc nghiên cứu văn học Hàn Quốc ở nước ngoài vẫn chưa có thành quả gì đáng kể So với việc nghiên cứu văn học Trung Quốc hay văn học Nhật Bản thì việc nghiên cứu văn học Hàn Quốc bị thua kém rõ ràng cả về lượng và về chất Do đó, cần phải tích cực quan tâm phát triển lĩnh vực này Không chỉ những nghiên cứu độc lập của cá nhân

GIỚI THIỆU CHUNG - - 3 7

Trang 36

không được tiến hành chu đáo mà ngay cả những nỗ lực tiếp nhận và giới thiệu những nghiên cứu về văn học Hàn Quốc được thực hiện tại Hàn Quốc cũng còn rất hạn chế Mới chỉ có vài học giả nước ngoài chuyên về văn học Hàn Quốc Những học giả Hàn Quốc đang giảng dạy về văn học Hàn Quốc ở nước ngoài hầu như không có kiến thức chuyên môn nên không thể đóng góp tích cực vào việc phát triển sự nghiệp nghiên cứu văn học Hàn Quốc ở nước ngoài.

Cũng có vài cuốn lịch sử văn học Hàn Quốc được xuất bản tại nước ngoài nhưng nội dung không được trung thực

Cuốn Lịch sử văn học Hàn Quốc (Geschichte der

Koreanishen Literatur) của Andre Eckardt, xuất bản năm

1968, viết theo ý hiểu của cá nhân nên có nhiều điều sai với

sự thực Vài cuốn lịch sử văn học khác mà phải kể đến

trước tiên là cuốn Triều Tiên văn học sử của Wi Uk-seong

(Vi Húc Thăng) đã có tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của Hàn Quốc nhưng cũng chưa được hoàn hảo

Yiộc coi nũc các lỉnh vực văn học chữ Hán và đặc biệt nâu nhu không có người chuyên về văn học cổ điển là một vấn đề lớn Tại Mỹ, khoa học xã hội mà trước tiên là chính trị học, tại Nhật Bản, lịch sử học và ngôn ngữ học là những lĩnh vực quan trọng nhất trong những lĩnh vực nghiên cứu

vê Hàn Quốc học, còn văn học thì được đề cập đến rất hời hợt Trong những hiệp hội nghiên cứu Hàn Quốc học tại nước ngoài thì Hiệp hội Hàn Quốc học châu Âu có tên gọi tăt là AKSE (Association for Korean Studies in Europe)

38 Cho Dong-il

Trang 37

quan tâm nhiều đến văn học và vẫn tiếp tục cho công bố những nghiên cứu về văn học, quả là| một điều may mắn Nghiên cứu của Daniel Bouchez đạt đen tiêu chuẩn đặc biệt cao và đã gây được ảnh hưởng lớn trong giới nghiên cứu trong nước.

5 Bố cục và nội dung của sách

Căn cứ vào sự phân chia lĩnh vực của văn học Hàn Quốc, sách này được chia thành các phần như sau :

Văn học Hàn Quốc

Văn học quốc ngữ

Văn học cồ điển Văn học cận đại

Thơ ca cổ điển Văn xuôi cổ điển Thơ ca cận đại Văn xuôi cận đại

Giống như những điều đã trình bày trên, văn học dân gian là văn học được sáng tác bằng lời, văn học chữ Hán là văn học được sáng tác bàng chừ Hán, văn học quốc ngữ là văn học được sáng tác bằng chữ quốc ngữ, văn tự của tiếng Hàn Những tác phẩm của văn học dân gian được ghi lại bằng chữ Hán mang hình thức cổ định được đưa vào bộ

Văn học dân gian Văn học chữ Hán

GIỚI THIỆU CHUNG — - 39

Trang 38

phận văn học chữ Hán Văn học hyang-chal (hương-sát) mượn âm và nghĩa của chữ Hán để ghi tiếng Hàn là văn học quốc ngữ Những tác phẩm có cả bản chữ Hán và bản chữ quốc ngữ nhưng không biết bản nào có trước được đưa

vào trình bày ở bộ phận văn học quốc ngữ v ề tiêu chí phan

biệt văn học cổ điển và văn học cận đại có rất nhiều ý kiến,

nhưng ở sách này quy định coi văn học dân gian và văn học

chữ Hán đều là văn học cổ điển Đối với văn học quốc ngữ, văn học của thời kỳ từ sau cuộc cải cách Giáp Ngọ Canh Trường năm 1894 được quy định là văn học cận đại Văn học cận đại không phân biệt với văn học hiện đại Hai thuật ngữ này được coi là những thuật ngữ trùng hợp nhau Thuật ngữ thơ ca được dùng để gọi chung cho thơ và những bài

ca không được chấp nhận là thơ Ở văn xuôi chủ yếu có tiểu thuyết, thực lục (sil-gi, thực ký), tùy bút và phê bình.Văn học dân gian, văn học chữ Hán, thơ ca cổ điển, văn xuôi cổ điển, thơ ca cận đại, văn xuôi cận đại được nhận định là có ý nghĩa ngang bằng nhau nên đều được

trình hry vá” ' _ luyliü ¿mung nhau Trong suốt một thời

gian uủi các chuyên gia của sáu bộ phận văn học này đã sử dụng những thuật ngữ thông dụng khác nhau trong khi triển khai những bàn luận về nó Ở trong sách này chúng tôi cố găng phản ánh thành quả nghiên cứu của từng lĩnh vực, đồng thời đưa ra quan điểm chung có thể liên kết các lĩnh vực này với nhau để hiểu toàn bộ nền văn học Hàn Quốc

Đe làm được điều đó các lĩnh vực được trình bày với bố cục gần giống nhau

40 — Cho D o n g -il

Trang 39

Ở phần Giói thiệu chung khái quát toàn bộ lĩnh vực

sẽ trình bày, ở phàn Két luận tổng kết lại đặc trưng của văn học Hàn Quốc và phương thức suy nghĩ của người Hàn thể hiện trong lĩnh vực đã được trình bày Ở phần triển khai nội dung, chúng tôi chọn phương thức khảo sát sự biến thiên của các lĩnh vực cụ thể thuộc lĩnh vực lớn đang được trình bày cũng như sự biến thiên của các thể loại văn học theo thời đại, đồng thời chọn ra khoảng năm tác phẩm được nhận định là có thể đại diện cho văn học Hàn Quốc ở mỗi một lĩnh vực và trình bày chi tiết về những tác phẩm đó Cuối cùng, sau khi lựa chọn cẩn thận từ trong những tuyển tập tài liệu và sách nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra theo trật

tự ưu tiên mục lục sách tham khảo cơ bản được nghĩ là cần thiết đối với độc giả

Văn học dân gian do Seo Dae Seok, Văn học chữ Hán do Lee Hai-soon, Thơ ca cổ điển do Kim Dae Haeng, Văn xuôi cổ điển do Park Hee-byoung, Thơ ca cận đại do

Oh Sae-young, Văn xuôi cận đại do Cho Nam Hyon đảm nhận khảo sát Sáu người này đều là những học giả dày dạn kinh nghiệm, tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu của lĩnh vực mình đảm nhận và tiểp tục cho ra đời những công trình nghiên cứu được đánh giá cao Họ đã viết một cách quân bình thoả đáng, đồng thời đưa ra những kiến giải của mình và bàn luận thích đáng về những thành quả nghiên cứu gần đây và những điểm vấn đề mới liên quan đến lĩnh vực mình đảm nhận Cho Dong-il cùng tham gia kiểm thảo và hoạch định kể hoạch chấp bút Sau khi hoàn

GIỚI THIỆU CHUNG -— 41

Trang 40

thành xong, bản thảo được truyên nhau đọc, góp ý và chỉnh sửa lại cho nên có được sự thống nhất về hệ thống và sự quán triệt về nặìững kiến giải được trình bày trong đó.

TÀI LIỆU TH A M KHẢO

1 Hội Nghiên cứu văn học quốc ngữ, 4ữ năm văn học quốc ngữ, Jip-mun-dang, Seoul, 1993

2 Kim Su-yeop, Thể loại và nguồn mạch của văn học Bal-hae, Tham-gu-dang, Seoul, 1992

3 Kim Heung-gyu, Tìm hiểu văn học Hàn Quốc, Min- eum-sa, Seoul, 1986

4 Min Byeong-su chủ biên, Lịch sử nghiên cứu văn học quốc ngữ, U-seok, Seoul, 1985

5 Jang Deok-sun, Điểm tranh luận trong lịch sử văn học Hàn Quốc, Jip-mun-dang, Seoul, 1986

6 Cho Dong-il Hàn Quốc văn học thông sử, Ji-sik-san- eon Seoul, ben in lẩn thứ nhất năm 1988, lần thứ 3 năm 1994

7 Cho Dong-il, Lý luận về thể loại của văn học Hàn Quốc, Ji-sik-san-eop, Seoul, 1992

8 Hwang Pae-gang chủ biên, Nhập môn nghiên cứu văn học Hàn Quốc, Ji-sik-san-eop, Seoul, 1982

9 Hwang Pea-gang chủ biên, Luận bàn về tác gia văn học Hàn Quốc, Hyeon-dae-mun-hak-sa, 1991

42 — Cho D o n g -ỉl

Ngày đăng: 02/11/2023, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w