CUỘC ĐỜI: Sinh: 1808, 1809 (chưa xác định) Mất: 1855, chết trận ở Yên Sơn Tên tự: Chu Thần Hiệu: Cúc Đường Biệt hiệu: Mẫn Hiên Quê quán: làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, Có 1 vợ, 2 con trai (con gái chết) 14 tuổi thi hương ở Hà Nội 22 tuổi đậu cử nhân 3 lần hỏng thi hội
Trang 1CAO BÁ QUÁT
Trang 4 Biệt hiệu: Mẫn Hiên
Quê quán: làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội,
Có 1 vợ, 2 con trai (con gái chết)
14 tuổi thi hương ở Hà Nội
22 tuổi đậu cử nhân
3 lần hỏng thi hội
Trang 5 1840: được Thiệu Trị triệu vào kinh đô giữ chức hành tẩu bộ
Lễ (Thượng thư, Tham tri, Thị lang, Lang trung, Viên ngoại, Hành tẩu).
1841: làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên Ngày 7/9 âm lịch ông bị bắt giam vào ngục Trấn Phủ
17/10: tra khảo (đánh roi song)
21.1: đưa đến trại giam Thừa Thiên
Cuối năm 1842 đưa vào Đà Nẵng
1843: đi dương trình hiệu lực, sau bị thải về quê
1847: có chiếu triệu hồi, đi công cán ở miền Nam trung bộ, sau được bổ vào Viện Hàn Lâm (Huế)
1850 (Tự Đức) đi giáo thụ Quốc Oai
1853: xin nghỉ dạy học (chuẩn bị khởi nghĩa)
1854: khởi nghĩa ở Mỹ Lương
1855: chết trận ở Yên Sơn
Trang 6 * Tác phẩm:
một số bài thơ nôm ( ca trù)
- Chu Thần thi tập
Trang 7 II NỘI DUNG:
1 CBQ với chế độ phong kiến nhà Nguyễn
- Ngay từ khi còn là một nho sinh nghèo (tóc còn để trái đào) Cao Bá Quát đã có những ước mơ khác người:
“Bưng mắt trần toan đạp đổ phù đồ …
Giương tay tạo rấp xoay cơn khí số
“Bài Phú Dương Hùng dù nghiệm tá, thì xin quyết tống bần quỉ ra đến miền Đông Hải, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài.
Câu thơ Hàn Dũ phỏng thiêng chăng thì xin quyết tống cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để ta gánh vác việc giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú”
(Tài tử đa cùng)
Trang 8n Đó là ước mơ lớn, hoài bão lớn của Cao Bá Quát Bấy nhiêu đó thôi cũng đủ chứng tỏ
ông là một con người có năng lực và đầy đủ nhiệt tình, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp
chung của đất nước, cống hiến hết sức
mình cho non sông.
Trang 9n - Thế nhưng cái nhiệt tình và hoài bão ấy
không có cơ hội để phát triển Xã hội triều
Nguyễn không có đất để cho ông dụng võ, không có chỗ để cho ông thi thố tài năng Lý tưởng nhập thế tích cực của ông lúc nào
cũng thể hiện rõ, nhưng xã hội triều Nguyễn
là 1 xã hội cùng khổ, nhiều thiên tai, lắm
nhân họa, người dân phải sống trong cảnh đói khát phiêu dạt, xóm làng xơ xác, một xã hội mà có nhiều cảnh bất công, nhiều cuộc bắt bớ chém giết thảm thương, nhiều sự
đàn áp khốc liệt
Trang 10n Sách lịch sử văn học VN tập 3, NXB GD
1978 nhận định: “Họ Nguyễn dành được
ngôi vua và khôi phục chế độ phong kiến
không phải nhờ sự ủng hộ của quảng đại
nhân dân mà chủ yếu dựa vào thế lực nước ngoài khác với các triều đại phong kiến
trước kia, ngay từ đầu nhà Nguyễn đã không
có cơ sở xã hội và chính trị để đứng vững
Vì thế để bảo toàn được ngôi báu, nhà
Nguyễn ra sức kềm hãm, đè nén nhân dân, thi hành những chính sách phản động có
một không hai trong lịch sử nước ta” (tr.224).
Trang 11 “Triều Nguyễn đã giữ kỷ lục về khởi nghĩa nông dân và từ lúc ra đời cho đến lúc bại vong không có năm nào là không có nông dân vùng lên chống đối chính quyền phản động ấy” (tr.226)
đều vấp phải sự chống đối, nhạo báng,
khinh rẻ của quần chúng nhân dân.
aa
Trang 12 Cùng một lúc với bao bất công xảy ra hàng ngày:
(Nguyễn Văn Thành tổng trấn Bắc thành bị bức chết )
Sự nghi kỵ, dèm pha, luồn cúi trước bã lợi danh (giết chóc hãm hại tôi thần nhà Lê, nhà Tây sơn, ngay cả những công thần bậc nhất của nhà
Nguyễn cũng bị biếm truất)
“Ơn vua mưa nhuần kèm theo sấm sét”
- Cảnh hoang tàn đổ nát, người người li tán tha hương
“Thôn hoang tiếng cuốc ba canh ai oán
Đường cái lớn suốt ngày cầy cáo tung hoành”
Trang 13 “Đường rậm tường xiêu, cảnh sắc thôn trông rất xấu
Đồng rộng khói thưa chỉ có cỏ là béo tốt”
(Vọng Khoái Châu hữu cảm)
- Thiên tai nặng nề phá hoại đời sống của người dân giai cấp thống trị chưa quan tâm đến nhân dân
“Nạn rét nạn lụt cứ phát sinh liên tiếp
Lại còn cảnh dân đen bị tai nạn chưa hồi phục
được”
Trang 14 - Trước hiện thực xã hội đen tối như vậy, Cao Bá Quát hằng ao ước thay đổi nó:
“Tấc lòng chỉ lo đời đục
Mỏi mắt trông đợi sông trong”
“Mười năm cầm bút phí cả thời giờ
Chỉ ôm ấp hoài tấm lòng “lo trước vui sau”
Muốn thử khơi cả trăm hộc nước dòng sông Tô lại
Để rửa cho người đời sạch hết bụng dơ dáy”
(Du mỗ cố trạch, dạ thính đàn tranh) 246
Trang 15 Không phải ngay một lúc CBQ nhận thấy được
nguồn gốc và bản chất thối nát của triều Nguyễn
mà phải qua thực tế mấy mươi năm cuộc đời ông, ông mới nhận chân ra sự thật Vậy muốn xây dựng
xã hội mới tốt đẹp, trước hết phải đánh đổ triều đại cũ
Hiện thực xã hội thì đen tối như vậy, ước mơ thì to lớn như vậy nhưng hiện tại bản thân họ Cao không
có cơ hội để giúp đời Một chức quan nhỏ trông coi việc giấy tờ thì có thể làm được gì Công việc nhỏ
bé ấy mà suýt nữa bị rơi đầu, thì làm sao có thể
làm được những việc lớn hơn không thực hiện được hiện được ước mơ sinh ra bất đắc chí buồn
Trang 16 Không có mưu lược gì làm cho đời được thái bình
Thẹn mình là một nhà nho mà tầm thường đến thế
(Độc dạ) 265
Người buồn vẫn thích ngồi khuya
Nhìn trăng cả hai đều không nói
Nhân lúc đêm thanh nhấp qua chén rượu
Để an ủi cái tâm hồn bị trói buộc của mình
(Thu dạ độc tọa tức sự) 213
Nép mình giữa khoảng trời đất thương cho bàn tay
lẻ loi của mình vỗ không thành tiếng
Ngoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vẫy vùng
(Bệnh trung) 101
Trang 17 Hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ một
mình mình biết
Hoa dương liễu yếu ớt vì ai mà cứ tất tả bay
Du mỗ cố trạch, dạ thính đàn tranh) 246
lại cuộc sống như những nhà thơ trước:
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hành, Phạm Thái hoặc nhà thơ cùng thời là ông Nguyễn Công Trứ: chán đời rồi lao vào cảnh hưởng
lạc, ca tụng cảnh ăn chơi đàng điếm
Trang 18 CBQ khác xa Nguyễn Công Trứ, tuy cái
buồn có lúc làm cho ông héo hắt
hàng nước mắt” (Thuật hoài) 278
như vậy Ông để nhiều tâm huyết vào sự
nghiệp văn chương thì rồi chính ông lại thất vọng vì thấy nó không được tích sự gì.
mức, vì nghèo lại rẻ thêm” (Tiểu ẩm hý bút)
137
Trang 19 - Nhưng dù thế nào Cao Bá Quát không dễ dàng buông
xuôi theo thực tại Thơ của ông nói như Nguyễn Lộc: “bên
một tiếng thở dài là một hành động cố gắng mạnh mẽ, bên một câu thơ có phần chán nản trầm ngâm lại có một câu thơ khác khẳng khái khí phách”
“Trượng phu 30 tuổi chẳng nên danh gì
Dạo khắp đất trời khí bất bình chưa dịu
Thân thế mù mịt chỉ biết trừng mắt trông đời” 222 (Du
đằng giang dữ hữu nhân….)
Ai chẳng là sống ở đất vua, làm tôi nhà vua
Một chiếc nón nghênh ngang giữa trần thế
Thảnh thơi vừa đi vừa hát bài giang ngoai xuân
Có lẽ đâu chui vào mái nhà thấp cúi ngửa theo ý người
Trang 20 Và nhất quyết không đi vào con đường trốn tránh trách nhiệm với đời:
Trời cho ta có hạn, biết phận sớm để nghỉ ngơi
Đời ta sống không bờ trải đời lâu mà than thở
Vườn rừng của người xử sĩ
Hang núi của bậc u nhân
Ta trót thờ ơ Người cũng đừng giận.
Trang 21 - Không những thế lúc nào và bất cứ ở đâu Cao Bá Quát đều quan tâm đến đời sống xã hội Bất bình với qui chế
khắc nghiệt của trường thi Điều mà chính bản thân ông và bao nhiêu người khác phải ôm tài nuốt hận Phí cả sức lực mình đồng thời không thể giúp dân giúp nước.
Vì lưu luyến mãi thời sáng sủa nên học làm quan
Một chút danh mà lận đận mãi chưa nhàn được
(Đình thi hậu trình chư hữu)
Tìm điều nhân chưa được đã mang tai họa đến
Cùng cảnh thương nhau lại làm lụy cho người
(Cửu nguyệt sơ thất nhật dĩ trường sự hạ trấn phủ ngục)
Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt dũa câu văn
Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ
Có khác chi con sâu đo muốn đo cả đất trời.
(Đề sát viên Bùi Công “Yên đài anh ngữ” khúc hậu) 166
Trang 22 - Cao Bá Quát phê phán cả sự xa hoa lãng phí của bọn vua chúa,: những hành cung nguy nga tráng lệ mọc lên khắp
nơi, nổi bật trên những xóm làng xơ xác, tiêu điều vì đói
khổ.
Nghe đồn gần đây xe sáu rồng vừa qua chơi
Ngoài hành cung Mỹ xuyên lại có hành cung mới nữa
- Đả kích bọn quan lại cường hào bòn rút của cải của nhân dân qua hình tượng con chuột:
Biết bao nhiêu đau khổ cay đắng ta mới dựng nên cửa nhà
Bao nhiêu vật dụng sắm sửa được sao không tiếc
… Ta cảnh cáo bọn chuột chớ ăn vụng bừa bãi
Vì ham lợi quá không phải là chước lâu dài (Phủ hạ thử)
Trang 23 - Nói về nỗi khổ của người dân trước nạn sưu thuế, lùng bắt dân phu của bọn quan lại cường hào
Từ năm ngoái đến năm nay thóc lúa mất cả
Bỏ đây mà đi cũng chẳng biết nương tựa vào đâu !
Nhà xóm đông nằm đấy chịu đói, nhà xóm tây dời
đi nơi khác
+ Ông già Phúc Lâm đã kể về việc tăng thuế
Năm tôi 55 tuổi đã tăng một suất rồi
Năm tôi 60 tuổi lại tăng thêm một suất rồi
Huống chi ngoài số thuế ra, còn các khoản khác cứ tăng mãi
Tăng đến kỳ này thì sang năm đào đâu ra
Trang 24 + Mắng thẳng vào mặt bọn quan lại
Quan huyện là cha mẹ dân đã chẳng xét cho
Nha lại còn đánh đập dân như chém tre
Tôi thấy các đời vua trước
Lấy của dân chỉ theo lệ thường
Quan lại không phiền đến dân
Làng xóm không ai lưu tán cả
Dân không lo sợ quan cũng vui
Nhưng than ôi ! Tôi già rồi (vừa chỉ tay vào bức tường đổ)
Trang 25 Cao Bá Quát lí giải nguyên nhân sự đau khổ của nhân dân là tại vì quan không thương
yêu dân, chăm sóc cho đời sống của họ.
Tứ dân hằng ngày theo đuổi
Ai ai cũng lo đến việc cơm áo
Lòng mong muốn đó nếu được toại nguyện
Thì đâu đến nỗi người xưa phải có những
mối lo cũ
Trang 26 -tổng kết có tính chất lí luận, nêu thành quan điểm:
Sao không tích đức chỉ tích của
Ra đời lẽ nào không có bộ mặt thật
Mà vào cuộc vui để cười đùa với những bộ áo mũ xưa (Dạ quan thanh
nhân diễn kịch trường) 135
- Mong muốn xóa bỏ những tập tục hủ lậu trong thôn xóm
Muốn thử khơi cả trăm hộc nước dòng sông Tô lại
Để rửa cho người đời sạch hết bụng dơ dáy
(Du mỗ cố trạch, dạ thính đàn tranh) 246
Trang 27 - Ông mỉa mai Tiên, Phật, đả kích những mê tín dị đoan:
Ai bảo thần phật là thân kim cương không nát
Ta xem vẫn có Phật gãy tay
Thân mình chẳng độ còn độ được ai
(Trào chiết tý Phật) 196
hoặc: Đâu có chuyện cuộc đời lại hư không như Phật
Làm thế nào lòng người lại thanh tĩnh như nhà sư
- Cũng không phải Cao Bá Quát một sớm một chiều nhận ra ngay, hiểu được ngay bản chất xấu xa tàn tệ của giai cấp thống trị, mà phải thông qua hành trang cả đời mình, những người quanh mình và cả một xã hội áp bức nghèo đói cho nên đến lúc gần cuối đời ông mới có
hành động thực tế là đánh đổ triều Nguyễn.
Trang 28 Sau bao suy tính đắn đo dằn vặt:
Hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt, chỉ một mình mình biết
Hoa dương liễu yếu ớt vì ai cứ tất tả bay
(Du mỗ cố trạch dạ thính đàn tranh) 246
Tiếng chim hót trên cành cây nghe đã thấy khác
Cây tùng ở trước sân lạnh lẽo trông vẻ muốn vươn lên
Muôn việc từ nay sẽ đổi mới cho tốt (Nguyên nhật) 22
Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây?
Bước đường bằng phẳng mờ mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều
Hãy nghe ta hát khúc ca đường cùng
Anh còn đứng làm chi trên bãi cát?(Sa hành đoản ca)71
Mặt trời đỏ lẫn đi đằng nào
Để dân đen than thở mãi (Đối vũ) 205
Nào ai biết ngày mai nóng hay rét
Sao cứ ngồi mãi đây cho lòng xót xa (Kim nhật hành) 214
Trang 32 Thơ ca của ông lúc này đã mang tính chất thôi thúc, nôn
nóng một hành động, 1 cuộc đổi đời
Tài trai sống ở đời phải làm được việc phơi gan bẻ gãy chấn song, giữ vững cương thường
Lại nhìn bọn lang sói nghênh ngang
Đến lúc tuổi già thì mặc áo gấm ban ngày về bôi nhọ quê hương
Cũng không làm nổi việc mài mực ở mũi lá mộc, truyền hịch định bốn phương
Chỉ cúi đầu dưới mái nhà thấp nhục cả khí phách
Trang 41 * Ý kiến sai lệch của các nhà nghiên cứu phê bình miền Nam
“Một người tài cao chí lớn như Cao Bá Quát mà không có chỗ
để thi thố tài năng của mình thì biểu sao không phẫn uất Ngạo cốt đã sẵn mà còn bị đời bạc đãi, thì để vơi bớt lòng phẫn nộ phải phát tiết tâm sự bằng những cử chỉ, những hành động
Trang 42 Cao Bá Quát là 1 người có tài nhưng sinh không gặp thời, người đời không biết trọng dụng tài hoa của ông, ông trở nên kiêu căng ngạo mạn, kết quả ai ai cũng ghét, họ luôn luôn tìm cách hãm hại ông làm cho ông trót đời công không thành, danh không đạt Vì thế Cao Bá Quát trở nên căm
hờn những kẻ có chức trọng quyền cao đã đàn áp ông Nỗi căm hờn ngậm cháy trong lòng ông chỉ cần 1 cái khêu nhẹ
là nó vọt toé ra ngoài.
Sở dĩ cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát ít được người tán thành giúp sức vì nó không phải nguyện vọng chung của toàn dân mà đó chỉ là sở thích điên cuồng của 1 nhóm
người không tên tuổi.
(Bài viết “Thử xét lại trường hợp cách mạng của Cao Bá Quát” của Nguyễn Bá Tùng – Tạp chí Lành Mạnh số 63
năm 1961, tr.4)
Trang 43 “Trong 1 buổi diễn thuyết về Cao Bá Quát tại hội quán Trí Tri Hà Nội (1934) Nguyễn Văn
Tố đã tóm tắt sự nghiệp của thi sĩ họ Cao
trong 1 câu: “Xưa nay bậc văn hào không
những đã làm được những việc phi thường
mà lại còn làm những điều phi pháp nữa, ấy
là trường hợp Cao Bá Quát”.
Nguyễn Tường Phượng, Tư liệu giáo khoa –
Hà Nội 1953, tr.125)
Trang 44 … Hấp thụ một nho phong, Cao Bá Quát đã ấp ủ một nỗi niềm thờ vua cứu nước nhưng rút cục chí không thành,
danh không đạt ông đành ngã gục ở pháp trường sau một thời gian vẫy vùng phản động với hoàn cảnh …
… Bị bỏ rơi, sinh bất mãn Bất mãn rồi vì bất lực sinh ra bất đắc chí Tâm trạng thông thường của hạng cuồng sĩ là hay làm một việc vượt ra ngoài khuôn khổ để gây lấy một tiếng vang Càng bị khinh miệt ông lại càng ngang tàng hơn …
… Muốn tiến thân, bị hắt hủi, muốn tự cứu lại vô phương, thôi thì còn một con đường là nối chí các vị anh hùng
Lương Sơn Bạc …
… Quan niệm của Cao Bá Quát không có gì là siêu việt mà chỉ là kết quả tất nhiên của một sự va chạm giữa cá nhân với hoàn cảnh, giữa tác giả với cuộc đời mà thôi.
(Việt văn khảo luận – Lữ Hồ Thứ lâm ấn quán, tr 25-32)
Trang 45 “Cả cuộc đời ngang tàng ấy, sống kiêu hùng, chết
uy nghi, cả sự nghiệp văn chương ấy nhất thiết
đều do một ý chí kết thành: ý chí đế vương …
… Một khi Cao Bá Quát đã nuôi chí đế vương rồi thì dầu vua là Tự Đức, là Lý Thái Tổ, hoặc Tuấn
Nghiêu đi nữa, Cao Bá Quát vẫn phất cờ cách
mạng như thường Làm cách mạng đối với thi sĩ là giải thoát một sự dồn ép, là giải quyết một bài toán tâm lý vậy”
(Bài viết “Sự lập chí của Cao Bá Quát” của Nguyễn Đức Tiến Tạp chí Bách Khoa số 143 năm 1062,
tr.16)
Trang 46 2 Cao Bá Quát – một tấm lòng nhân hậu thủy chung:
Ngược lại với những nhận định của các nhà
nghiên cứu phê bình miền Nam cho rằng CBQ là 1
kẻ kiêu ngạo ngông cuồng, 1 tên cuồng sĩ…
Cao Bá Nhạ trong Tự tình khúc và Trần tình văn
cũng đã nói xấu chú mình với hy vọng được triều Nguyễn xá tội
Rất may không chỉ có hành động mà còn có thơ
văn mà thơ văn ông là một minh chứng hùng hồn rằng: nhà thơ là một con người hết sức nhân hậu,
có tấm lòng ưu ái đối với con người, cuộc đời cũng như đối với quê hương xứ sở Một con người rất tình cảm
Trang 47n - Tình cảm trong thơ Cao Bá Quát là tình cảm lớn, có tính chất nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc không phải thứ tình cảm đóng khung trong lễ giáo phong kiến, không bó hẹp trong quan niệm nhân ái của đạo
Khổng, không phải thứ tình cảm của kẻ bề trên xuống ban ơn cho kẻ dưới.
Trang 48 Đối với người nông dân:
Chia sẻ niềm vui với người nông dân khi họ được mùa
“Chiều vác bừa về say nghiêng ngửa
Vợ cầm giò lợn, con mang rượu
Vừa uống vừa ca, bừa vẫn kéo
Nón nghiêng ướt thấm có bao lần
Vui chuyện ruộng đồng nói líu ríu
Sửa soạn nhiều thêm vạn bịch bồ
Gió hòa mưa thuận được mùa to”
(Các thí nông phu lạc tuế hành)