Ấn Độ là đất nước sở hữu một nên văn hóa lớn và đặc sắc của toàn nhân loại, nó có ảnh hưởng lớn không những trong khu vực mà còn trên cả thế giới Đông Nam Á .Chúng ta cùng tìm hiểu Văn học Ấn Độ......................................................................
Trang 1Khái quát văn học Ấn Độ
A MỞ ĐẦU
Đất nước Ấn Độ là đất nước sở hữu một nên văn hóa lớn và đặc sắc của toàn nhân loại, nó có ảnh hưởng lớn không những trong khu vực mà còn trên cả thế giới Đông Nam Á là nới tiếp thu được khá nhiều nét đặc sắc từ nền văn hóa Ấn
Độ, bên cạnh những nét đặc trung truyền thống Ấn Độ người dân Đông Nam Á tiếp thu chọn lọc thành những nên văn hóa riêng của khu vực
Ấn Độ là một đất nước có nhiều chủng tộc, mang nhiều ngôn ngữ khác nhau, ước tính có tới 1652 ngôn ngữ Ấn Độ là nước có nền văn minh rất sớm không kém Hi Lạp , La Mã, Ai Cập Những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học nổi tiếng đầu thế kỉ XX ở vùng Harappa và vùng Mônhengiô Đarô trên lưu vực sông Ấn chứng minh từ 3000 năm trước Công Nguyên đã xuất hiện một nền văn hóa khá rực rỡ của người Đraviđian Ấn Độ là một đất nước vô cùng phongphú đa dạng hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự nhiên Với lãnh thổ trải dài từ 7-32 độ vĩ bắc và 67 – 87 độ kinh đông, đó là một bán đảo hình tam giác tưởng chừng như một khối thống nhất đơn giản về địa hình khí hậu nhưng đi sâu vào
Trang 2trong đó mới có thể thấy được mọi thiên hình vạn trạng của đất nước này Với trí tưởng tượng phong phú của mình, người dân Ấn Độ hình dung đất nước họ như một nàng tiên cá xinh đẹp có mái tóc bạch kim dài tung bay trong mây trời Himalaya và có cái đuôi cá vẫy vùng trong Ấn Độ Dương xanh thẳm Còn dãy núi Himalaya bao la hùng vĩ là vận mệnh của Ấn Độ Nó gợi lên bao nỗi sợ hãi cho tất cả mọi người nơi đây Trong đó ẩn chứa biết bao câu chuyện huyền thọai linh thiêng gắn liền với đất nước con người Ấn Độ.
Ấn Độ cổ - một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Hồ Chí Minh cho rằng Ấn Độ là quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới Văn hóa, triết học, nghệ thuật của Ấn Độ đã phát triển rực rỡ và có những cống hiến to lớn cho loài người Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng Phật giáo, nghệ thuật, khoa học của Ấn Độ đã lan khắp thế giới Nền văn hóa
và đạo Phật của Ấn Độ đã truyền sang Việt Nam từ thời cổ
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo phật được truyền bá vào nước ta
khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam, bên cạnh đóđạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên chúa Tuỳ từng giai đoạn lịch sử dân tộc ta đều cómột học thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người
Từ đó học tập và nghiên cứu triết học Ấn Độ không chỉ trang bị cho chúng ta một cái phông kiến thức, văn hóa nói chung như triết học Hy Lạp – La Mã, mà
nó còn giúp chúng ta hiểu chúng ta hơn
B NỘI DUNG
I Đôi nét về đất nước Ấn Độ
1.1 Vị trí địa lý
Địa lý Ấn Độ
Trang 3Đường bờ biển 7.516,6 km (4.670,6 mi)
Biên giới Tổng biên giới đất liền:
15.106,70 km (9.386,87 mi)Bangladesh:
4.096,70 km (2.545,57 mi)Trung Quốc:
3.488 km (2.167 mi)Pakistan:
2.910 km (1.808 mi)Nepal:
1.751 km (1.088 mi)Myanmar:
1.643 km (1.021 mi)Bhutan:
Trang 4Sông Brahmaputra[cần dẫn nguồn]
Ấn Độ (tiếng Hindi: भभभभ, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chínhthức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भभभभ भभभभभभभ, chuyển tự Bhārat
Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á
Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, Ấn Độ có diện tích 3.287.263 km², xếp thứ 7 trên thế giới về diện tích, trong đó phần đất liền chiếm 90,44%, diện tích mặt nước chiếm 9,56% Ấn Độ có biên giới trên đất liền giáp
với Bangladesh (4.053 km), Bhutan (605 km), Myanma (1.463 km), Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (3.380 km), Nepal (1690 km) và Pakistan (2.912 km) Đỉnh núi cao nhất có độ cao 8.598 m, điểm thấp nhất là Kuttanad với độ cao -2,2 m Các sông dài nhất là sông Brahmaputra, sông Hằng Hồ lớn nhất là hồ Chilka Và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người
Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của
mình Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật
giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc
giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công
nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh
Quốc từ giữa thế kỷ XIX Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào
Trang 5năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.
Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP) Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh
dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng Ấn
Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và
Mumbai, trung tâm thương mại và giải trí bậc nhất Ấn Độ
Trang 6đa dân tộc Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực
được bảo vệ
Ấn Độ là một quốc gia Nam Á, chiếm hầu hết bán đảo Ấn Độ Ấn Độ có ranh
giới với Pakistan,Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan và
Afghanistan Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới, với dân số trên một
tỉ người, và đồng thời lớn thứ bảy về diện tích
Cộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế
giới vào ngày 15 tháng 8 năm 1947 Sự thiết
lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu
tranh của những người tại Nam Á để thoát khỏi
ách thống trị của Đế quốc Anh Ấn Độ có
nền văn minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ
cách đây 5 nghìn năm Ấn Độ là nơi sinh
trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế
giới: Ấn Độ giáo (Hindu), Phật giáo, đạo
Jaini và đạo Sikh
Đất nước Ấn Độ có một vị thế địa lý rất đặc biệt Đó là lưng dựa vào dãy Hy
Mã Lạp Sơn hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh
mông, lại còn có 2 con sông lớn là Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa tươi
nuôi một bình nguyên bao la và cũng là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp
Vị trí Ấn Độ (xanh lá) trên thế giới, bao gồm vùng Kashmir hiện đang tranh chấp với Trung Quốc và Pakistan (xanh nhạt)
Bản đồ Đồng bằng Ấn – Hằng
Trang 7định cư vào thời cổ đại.
Chính ở chốn địa linh nhân kiệt đó nhiều vĩ nhân ra đời như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Thánh Mahatma Gandhi, hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào
Rabindranath Tagore, v.v… và các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đờinhất thế giới được hình thành như Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Kỳ Na Giáo, Đạo Sikh, v.v…
Địa lý Ấn Độ đa dạng, bao gồm nhiều miền khí hậu khác biệt từ những dãy núi phủ tuyết cho đến các sa mạc, đồng bằng, rừng mưa nhiệt đới, đồi, và cao nguyên Ấn Độ bao gồm một phần lớn của tiểu lục địa Ấn Độ nằm trên mảng kiến tạo Ấn Độ, phần phía Bắc của mảng Ấn-Úc Ấn Độ có bờ biển dài
7.516 km, phần lớn Ấn Độ nằm ở bán đảo Nam Á vươn ra Ấn Độ Dương Ấn
Độ giáp Biển Ả Rập về phía Tây Nam và giáp Vịnh Bengal về phía
Đông và Đông Nam Vùng đồng bằng Ấn-Hằng phì nhiêu chiếm phần lớn
ở phía Bắc, miền Trung và Đông Ấn Độ Về phía Tây của quốc gia này là sa
Trang 8mạc Thar, một hoang mạc hỗn hợp đá và cát Biên giới phía Đông và Đông Bắccủa quốc gia này là dãy Himalayas Đỉnh cao nhất ở Ấn Độ là lãnh thổ tranh chấp với Pakistan; theo tuyên bố của Ấn Độ, đỉnh cao nhất (nằm ở khu vực Kashmir là K2, với độ cao 8.611 m Đỉnh cao nhất ở trong lãnh thổ không tranhchấp của Ấn Độ là Kangchenjunga, với độ cao 8.598 m Khí hậu Ấn Độ đa dạng từ khí hậu xích đạo ở cực Nam đến Alpine ở khu vực đỉnh Himalayas.
Ấn Độ giáp Pakistan và Afghanistan về phía Tây Bắc Chính quyền Ấn Độ xemtoàn bộ bang Jammu và Kashmir là một phần của Ấn Độ Bang này giáp một phần của Afghanistan Trung Quốc, Bhutan và Nepal ở phía Bắc, Myanma về phía Đông và Bangladesh về phía Đông của Tây Bengal Sri Lanka được tách biệt khỏi Ấn Độ bằng một eo biển hẹp được tạo ra bởi Eo biển Palk và Vịnh Mannar Về mặt hành chính, Ấn Độ được chia thành 28 bang, và 7 lãnh thổ liênbang được chính quyền liên bang quản lý Các đơn vị hành chính này được phân chia chủ yếu theo biên giới dân tộc và ngôn ngữ hơn lý do địa lý
Ấn Độ nằm hoàn toàn trên mảng Ấn Độ, một mảng kiến tạo chính được hình thành khi nó tách ra từ lục địa cổ đại Gondwana (lục địa cổ xưa, bao gồm phần phía nam của siêu lục địa của Pangea) Mảng Ấn-Úc được chia thành các mảng
Ấn Độ và mảng Úc Khoảng 90 triệu năm trước, trong giai đoạn cuối kỷ Creta, mảng Ấn Độ bắt đầu di chuyển về phía bắc vào khoảng 15 cm / năm (6 in / năm) Khoảng 50 đến 55 triệu năm trước, trong thế Eocen của Đại Tân sinh, mảng va chạm với châu Á sau khi trải dài từ 2.000 đến 3.000 km (1.243 đến 1.864 mi), nó đã di chuyển nhanh hơn bất kỳ mảng nào đã biết Vào năm 2007, các nhà địa chất Đức đã xác định rằng mảng Ấn Độ có thể di chuyển rất nhanh
vì nó chỉ dày bằng một nửa so với các mảng khác trước đây đã hình thành Gondwana Sự va chạm với mảng Á - Âu dọc theo biên giới hiện tại giữa Ấn
Độ và Nepal đã hình thành nên vành đai kiến tạo sơn tạo ra cao nguyên Thanh Tạng và dãy Himalaya
Trang 9Tính đến năm 2009, mảng Ấn Độ đang di chuyển về phía đông bắc với tốc độ 5
cm / năm (2 in / năm), trong khi mảng Á - Âu đang di chuyển về phía bắc chỉ với 2 cm / năm (0,8 in / năm) Ấn Độ do đó được gọi là "lục địa nhanh
nhất" Điều này khiến mảng Á-Âu bị biến dạng và mảng Ấn Độ nén với tốc độ
4 cm / năm (1,6 in / năm)
Ấn Độ có thể được chia thành sáu vùng địa lý, đó là:
Dãy núi phía Bắc
Cao nguyên Deccan
Trang 10Nói chung đất đai, thiên nhiên và khí hậu Ấn Độ khá phức tạp và khắc nghiệt Giàu có về tài nguyên nhưng bị thiên tai tàn phá cho nên nền kinh tế Ấn Độ xưakia luôn luôn trong tình trạng trì trệ, đình đốn chậm phát triển Đặc điểm đó tạo cho con người Ấn Độ từ khi ra đời đã phải trải qua những cuộc đấu tranh, vật lộn với thiên nhiên vô cùng oanh liệt, điều đó đã phản ánh rất rõ trong những thần thoại đầy sức hấp dẫn và kì vĩ của họ.
Theo sử liệu, người Đraviđian là chủ nhân sớm nhất của đất nước Ấn Độ Banghìn năm trước công nguyên Người Đraviđian từng sinh sống dọc lưu vựcsông Ấn và sông Hằng Do đó đời sống văn hóa cao họ đã tạo dựng nên nền
Trang 11văn minh sông Ấn rực rỡ Người Đraviđian cao, da nâu sẫm, mũi thẳng, tóc đen
Còn giống người Arian, da trắng, gốc Ấn Âu, mũi thẳng, dáng cao Gốc gác từ miền Caxpiên thuộc ngữ hệ Ấn – Âu mà Ăngghen gọi là “ dân du mục tiên tiến” đi từ phía Nam núi Uran đến vùng Tuốckêxtan chia làm ba bộ phận Một
bộ phận gọi là Mitanix tới lập quốc ở thượng lưu sông Mêđôpôtami, một bộ phận khác gọi là Iranô – Arian qua Ápganixtan vượt núi Hymalaya vào định cư
ở vùng Pengiáp
Trang 12Lúc đầu cuộc xâm lược của người Arian chỉ có tính chất di cư hòa bình mang theo súc vật và dụng cụ gia đình để tìm kiếm đất đai cư trú, làm ăn Về sau, vì cuộc sống buộc họ phải vũ trang xung đột với các thổ dân ở đây Họ là giống người du mục chuyên chăn nuôi, thích nghề săn bắn, giỏi cung kiếm, khỏe mạnh, can trường, hung bạo cho nên đã gây chiến tranh và chiếm cứ đất đai củangười Đraviđian.
Sau khi người Đraviđian và các thổ dân khác bị chinh phục, có người trở thành
tù binh, rồi làm nô lệ cho người Arian có người phải chạy tản mát vào rừng sâu hoặc kéo nhau tràn xuống định cư ở phía Nam
Lúc đầu trình độ văn hóa của người Arian thấp hơn người Đraviđian, nhưng nhờ tiếp thu văn hóa của kẻ bị chinh phục, học tập được kỹ thuật làm ruộng, nhờ có đất đai màu mỡ mà người Arian chuyển sang đời sống định cư và bắt đầu canh tác nông nghiệp Từ đó chế độ công xã nông thôn người Arian hình thành và phát triển
Trang 13Do mâu thuẫn về quyền lợi đất đai và chiến lợi phẩm, mà nội bộ cộng đồng người Arian ngày càng chia rẽ và xung đột vũ trang lẫn nhau Sau những cuộc xung đột đó nhiều tiểu vương quốc ra đời Từ đó chế độ chiếm hữu nô lệ dần dần tan rã, chế độ phong kiến lần lượt ra đời.
1.3 Lịch sử
1.3.1 Ấn Độ cổ đại
Người hiện đại về phương diện giải phẫu được cho là đến Nam Á từ 73.000 – 55.000 năm trở lại đây, song các hài cốt được xác nhận của giống người này chỉ
có niên đại sớm nhất là từ 30.000 năm trước Tại nhiều nơi trên tiểu lục địa Ấn
Độ, người ta phát hiện được các di chỉ nghệ thuật trên đá gần cùng thời với thờiđại đồ đá giữa, bao gồm các chỗ ở hang đá Bhimbetka tại Madhya
Pradesh Khoảng năm 7000 TCN, các khu định cư thời đại đồ đá mới đầu tiên được biết đến đã xuất hiện trên tiểu lục địa, tại Mehrgarh và các di chỉ khác ở đông bộ Pakistan Chúng dần phát triển thành văn minh thung lũng sông Ấn, là nền văn hóa đô thị đầu tiên tại Nam Á; và phát triển hưng thịnh trong khoảng thời gian 2500–1900 TCN tại Pakistan và tây bộ Ấn Độ Nền văn minh này tập trung quanh các thành thị như Mohenjo-daro, Harappa, Dholavira,
và Kalibangan, và dựa trên các hình thức sinh kế đa dạng, nền văn minh này có hoạt động sản xuất thủ công nghiệp mạnh cùng với mậu dịch trên phạm vi rộng.Trong giai đoạn 2000–500 TCN, xét theo khía cạnh văn hóa, nhiều khu vực tại tiểu lục địa chuyển đổi từ thời đại đồ đồng đá sang thời đại đồ sắt Vệ-đà là những thánh kinh cổ nhất của Ấn Độ giáo, chúng được soạn trong giai đoạn này, và các nhà sử học phân tích chúng để thừa nhận về một nền văn hóa Vệ-
đà ở vùng Punjab và phần thượng của đồng bằng sông Hằng Hầu hết các sử giacũng nhận định trong giai đoạn này có một vài làn sóng người Ấn-Arya nhập
cư đến tiểu lục địa từ phía tây-bắc Chế độ đẳng cấp xuất hiện trong giai đoạn này, tạo nên một hệ thống thứ bậc gồm các tăng lữ, quân nhân, nông dân tự do, tuy nhiên loại trừ người dân bản địa bằng cách gán cho công việc của họ là thứ
ô uế Trên cao nguyên Deccan, bằng chứng khảo cổ từ thời kỳ này khẳng định
sự tồn tại của tổ chức chính trị ở một giai đoạn tù bang Tại nam bộ Ấn Độ, mộtlượng lớn các bia kỷ niệm cự thạch có niên đại từ thời kỳ này cho thấy có một
sự tiến triển lên cuộc sống định cư, ngoài ra còn có các dấu vết về nông nghiệp,
bể tưới tiêu, và thủ công truyền thống nằm không xa đó
Trang 14Bức họa tại Các hang Ajanta, Aurangabad, bang tây bộ MaharashtraVào cuối giai đoạn Vệ-đà, khoảng thế kỷ V TCN, các tù bang nhỏ ở đồng bằng sông Hằng và tây-bắc thống nhất thành 16 quả đầu quốc và quân chủ quốc lớn,
chúng được gọi là các mahajanapada Đô thị hóa nổi lên và các tính chất chính
thống trong thời kỳ này cũng hình thành nên các phong trào tôn giáo không chính thống, hai trong số đó trở thành các tôn giáo độc lập Phật giáo dựa trên lời dạy của Tất-đạt-đa Cồ-đàm, thu hút các môn đồ từ tất cả các tầng lớp xã hội trừ tầng lớp trung lưu; ghi chép biên niên sử về cuộc đời của Phật là trung tâm trong việc khởi đầu lịch sử thành văn tại Ấn Độ Đạo Jaina nổi lên trong thời kỳcủa người mô phạm của nó là Mahavira Tại một thời kỳ mà đô thị thêm phần thịnh vương, cả hai tôn giáo đều duy trì sự từ bỏ như một tư tưởng, và cả hai đều hình thành các truyền thống tu viện lâu dài Về mặt chính trị, vào thế kỷ III TCN, Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) sáp nhập hoặc chinh phục các quốc gia khác để rồi nổi lên thành Đế quốc Maurya (Khổng Tước) Đế quốc Maurya từng kiểm soát hầu hết tiểu lục địa ngoại trừ vùng viễn nam, song các khu vực lõi của nó nay bị phân ly bởi các khu vực tự trị lớn Các quốc vương của
Maurya được biết đến nhiều với việc xây dựng đế quốc và quản lý sinh hoạt công cộng một cách quả quyết, như Ashoka từ bỏ chủ nghĩa quân phiệt và ủng
Trang 15Độ giáo hồi phục dựa trên cơ sở lòng sùng đạo thay vì quản lý lễ nghi và bắt đầu khẳng định được mình Sự phục hồi của Ấn Độ giáo thể hiện qua việc nở rộcác công trình điêu khắc và kiến trúc, những thứ trở nên quen thuộc trong một giới tinh hoa đô thị Văn học tiếng Phạn cổ điển cũng nở rộ, và khoa học, thiên văn học, y học, toán học Ấn Độ cũng phát triển
1.3.2 Ấn Độ trung đại
Thời kỳ Ấn Độ trung đại đầu kéo dài từ năm 600 đến năm 1200, có đặc điểm làcác vương quốc mang tính khu vực và đa dạng văn hóa Khi người cai trị phần lớn đồng bằng Ấn-Hằng từ 606 đến 647 là Hoàng đế Harsha cố gắng khuếch trương về phía nam, ông chiến bại trước quân chủ của triều Chalukya ngự trị tạiDeccan Khi người thừa tự của Harsha nỗ lực khuếch trương về phía đông, ông
ta chiến bại trước quân chủ của Pala ngự trị tại Bengal Khi triều Chalukya nỗ lực khuếch trương về phía nam, họ chiến bại trước triều Pallava ở xa hơn về phía nam, triều Pallava lại đối đầu với triều Pandya và triều Chola ở xa hơn nữa
về phía nam Không quân chủ nào trong giai đoạn này có thể thiết lập nên một
đế quốc và kiểm soát liên tục các vùng đất nằm xa vùng lãnh thổ lõi của
mình Trong thời kỳ này, các mục dân có đất đai bị phát quang để phát triển kinh tế nông nghiệp được thu nhận vào trong xã hội đẳng cấp, trở thành tầng lớp thống trị phi truyền thống mới Hệ thống đẳng cấp do đó bắt đầu thể hiện những khác biệt giữa các vùng
Trong thế kỷ VI và VII, các bài thánh ca cầu nguyện đầu tiên được sáng tác bằng tiếng Tamil Toàn Ấn Độ mô phỏng theo điều đó và khiến cho Ấn Độ giáotái khởi, và toàn bộ các ngôn ngữ hiện đại trên tiểu lục địa có sự phát triển Các vương thất lớn nhỏ tại Ấn Độ cùng các đền thờ mà họ bảo trợ thu hút một lượng rất lớn các thần dân đến kinh thành, các kinh thành cũng trở thành nhữngtrung tâm kinh tế Các đô thị thánh đường với kính cỡ khác nhau bắt đầu xuất hiện khắp nơi khi Ấn Độ trải qua một quá trình đô thị hóa nữa Đến thế kỷ VIII
và IX, các ảnh hưởng của Ấn Độ được nhận thấy tại Đông Nam Á, khi mà văn hóa và hệ thống chính trị Nam Á được truyền bá ra các vùng đất mà nay là một phần của Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia,
và Java Các thương nhân, học giả, và đôi khi là quân nhân Ấn Độ tham gia vào
sự truyền bá này; người Đông Nam Á cũng có sự chủ động, nhiều người lưu lạimột thời gian trong các trường dòng Ấn Độ và dịch các văn bản Phật giáo và
Ấn Độ giáo sang ngôn ngữ của họ
Các thị tộc du cư Trung Á sử dụng kỵ binh và có các đội quân đông đảo được thống nhất nhờ dân tộc và tôn giáo, sau thế kỷ X họ liên tiếp tràn qua các đồng bằng ở tây-bắc của Nam Á, cuối cùng hình thành nên Vương quốc Hồi giáo Delhi vào năm 1206 Vương quốc này kiểm soát phần lớn bắc bộ Ấn Độ, tiến
Trang 16hành nhiều hoạt động đánh phá xuống nam bộ Ấn Độ Mặc dù chính quyền Hồigiáo ban đầu phá vỡ giới tinh hoa Ấn Độ, song các thần dân phi Hồi giáo của vương quốc này phần lớn vẫn duy trì được luật lệ và phong tục riêng của
họ Vương quốc Hồi giáo Delhi nhiều lần đẩy lui quân Mông Cổ trong thế kỷ XIII, cứu nguy Ấn Độ khỏi cảnh tàn phá giống như ở Trung và Tây Á Vương quốc trở thành nơi định cư của những quân nhân bỏ trốn, người có học, pháp
sư, thương gia, nghệ sĩ, thợ thủ công từ khu vực Trung và Tây Á, tạo nên một nền văn hóa Ấn-Hồi hổ lốn ở bắc bộ Ấn Độ Các cuộc đột kích của Vương quốc Hồi giáo Delhi và sự suy yếu của các vương quốc khu vực ở nam bộ Ấn
Độ tạo điều kiện cho Đế quốc Vijayanagara bản địa hình thành Đế quốc
phương nam này theo một truyền thống Shiva giáo mạnh mẽ và xây dựng nên
kỹ thuật quân sự vượt lên trên Vương quốc Hồi giáo Delhi, kiểm soát được phần nhiều Ấn Độ Bán đảo, và có ảnh hưởng đến xã hội nam bộ Ấn Độ trong một thời gian dài sau đó
1.3.3 Ấn Độ cận đại
Đầu thế kỷ XVI, bắc bộ Ấn Độ khi đó nằm dưới quyền cai trị của các quân chủ
mà phần lớn theo Hồi giáo, song một lần nữa lại sụp đổ trước tính linh động và hỏa lực vượt trội của một thế hệ các chiến binh Trung Á mới Đế quốc
Mogul ra đời song không nghiền nát các xã hội địa phương, mà thay vào đó là cân bằng và bình định họ thông qua các thủ tục quản trị mới cùng giới tinh hoa cầm quyền vốn có đặc điểm đa dạng và bao dung, tạo ra một nền cai trị có hệ thống hơn, tập trung hóa và thống nhất Nhằm tránh xiềng xích bộ lạc và bản sắc Hồi giáo, đặc biệt là dưới thời Akbar, người Mogul đoàn kết đế chế rộng lớn của họ thông qua lòng trung thành đối với một hoàng đế có địa vị gần như thần thánh, biểu đạt một nền văn hóa Ba Tư hóa Các chính sách kinh tế quốc gia của Mogul, vốn có phần lớn nguồn thu đến từ nông nghiệp và yêu cầu các khoản thuế phải trả theo tiền bạc được quản lý chặt, khiến cho các nông dân và thợ thủ công tiến vào những thị trường lớn hơn Đế quốc giữ được tình hình tương đối hòa bình trong phần lớn thế kỷ XVII, và đây là một yếu tố giúp mở rộng kinh tế Ấn Độ, kết quả là sự bảo trợ lớn hơn đối với hội họa, các loại hình văn chương, dệt, và kiến trúc Các nhóm xã hội mới kết hợp tại bắc bộ và tây
bộ Ấn Độ, như Maratha, Rajput, và Sikh, giành được tham vọng về quân sự và quản trị dưới chế độ Mogul, và thông qua cộng tác hoặc tai họa, họ thu được cả
sự công nhận và kinh nghiệm quân sự Sự mở rộng thương mại dưới chế độ Mogul giúp cho giới tinh hoa thương mại và chính trị Ấn Độ mới dọc theo các
bờ biển nam bộ và đông bộ nổi bật lên Khi đế quốc tan rã, nhiều người trong giới tinh hoa này có thể theo đuổi và kiểm soát được công việc của họ
Trang 17Đầu thế kỷ XVIII, khi mà ranh giới giữa thống trị thương mại và chính trị ngày càng bị lu mờ, một số công ty mậu dịch phương Tây, bao gồm Công ty Đông
Ấn Anh, thiết lập nên các tiền đồn ven biển Công ty Đông Ấn Anh có quyền kiểm soát đối với các vùng biển, tiềm lực lớn hơn, có khả năng huấn luyện quân sự cùng công nghệ tiến bộ hơn, do vậy thu hút một bộ phận giới tinh hoa
Ấn Độ Nhờ đó, Công ty Đông Ấn Anh gặp thuận lợi trong việc giành quyền kiểm soát đối với vùng Bengal vào năm 1765 và gạt các công ty châu Âu khác
ra ngoài lề Công ty Đông Ấn Anh tiếp tục tiếp cận được sự giàu có của Bengal,
và sau khi tăng cường sức mạng và quy mô quân đội thì Công ty có năng lực thôn tính hoặc khuất phục hầu hết Ấn Độ vào thập niên 1820 Ấn Độ sau đó không còn là nhà xuất khẩu hàng hóa chế tạo như một thời gian dài trước đó,
mà trở thành một nơi cung cấp nguyên liệu cho Đế quốc Anh, và nhiều sử gia xem đây là lúc thời kỳ thực dân tại Ấn Độ bắt đầu Đương thời, do quyền lực kinh tế bị Nghị viện Anh Quốc tước bỏ một cách nghiêm trọng và do bản thân trên thực tế là một cánh tay nối dài của chính phủ Anh Quốc, Công ty Đông Ấn Anh bắt đầu có ý thức hơn trong việc tiến vào các hoạt động phi kinh tế như giáo dục, cải cách xã hội, và văn hóa
1.3.4 Ấn Độ hiện đại
Các sử gia xem thời kỳ hiện đại của Ấn Độ bắt đầu từ giai đoạn 1848–1885 Việc bổ nhiệm James Broun-Ramsay làm Toàn quyền của Công ty Đông Ấn Anh vào năm 1848 chuẩn bị cho những thay đổi cốt yếu đối với một quốc gia hiện đại Chúng bao gồm củng cố và phân ranh giới chủ quyền, sự giám sát của người dân, và giáo dục cho công dân Các biến đổi về công nghệ như đường sắt, kênh đào, và điện báo được đưa đến Ấn Độ không lâu sau khi chúng được giới thiệu tại châu Âu Tuy nhiên, sự bất mãn đối với Công ty cũng tăng lên trong thời kỳ này, và Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 bùng nổ Cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ những oán giận và nhận thức đa dạng, bao gồm cải cách xã hội kiểu Anh, thuế đất khắc nghiệt, và đối đãi tồi của một số địa chủ giàu có và phiên vương, nó làm rung chuyển nhiều khu vực ở bắc bộ và trung bộ Ấn Độ và làm lung lay nền móng của Công ty Đông Ấn Anh Mặc dù cuộc khởi nghĩa bị đàn
áp vào năm 1858, song nó khiến cho Công ty Đông Ấn Anh giải thể và Chính phủ Anh Quốc từ đó trực tiếp quản lý Ấn Độ Những người cai trị mới công bố một nhà nước nhất thể và một hệ thống nghị viện từng bước theo kiểu Anh song
có hạn chế, nhưng họ cũng bảo hộ các phó vương và quý tộc địa chủ nhằm tạo
ra một thế lực hộ vệ phong kiến để chống lại bất ổn trong tương lai Trong các thập niên sau đó, hoạt động quần chúng dần nổi lên trên khắp Ấn Độ, cuối cùngdẫn đến việc thành lập Đảng Quốc đại Ấn Độ vào năm 1885
Trang 18Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật cùng với thương mại hóa nông nghiệp trong nửa sau thế kỷ XIX gây nên các khó khăn kinh tế: nhiều nông dân nhỏ trởnên phụ thuộc vào các nhu cầu của các thị trường xa xôi Số lượng nạn đói quy
mô lớn gia tăng, và có ít công việc công nghiệp được trao cho người Ấn
Độ Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tích cực: trồng trọt mang tính
thương mại, đặc biệt là ở vùng Punjab mới được khơi kênh, khiến sản lượng lương thực dành cho tiêu dùng nội địa gia tăng Hệ thống đường sắt giúp cung cấp đồ cứu tế đến những nơi bị nạn đói nguy cấp, giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa, và giúp ích cho ngành công nghiệp non trẻ của Ấn Độ Có khoảng một triệu người Ấn Độ phục vụ cho Anh Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và sau cuộc chiến này là một thời kỳ mới Thời kỳ này mang dấu
ấn với các cải cách của Anh Quốc song cũng có các áp chế về luật pháp, với việc người Ấn Độ mãnh liệt hơn trong việc yêu cầu quyền tự trị, và với việc bắtđầu một phong trào bất bạo động bất hợp tác - trong đó Mohandas KaramchandGandhi trở thành lãnh tụ và biểu tượng Trong thập niên 1930, Anh Quốc ban hành các cải cách lập pháp một cách chậm chạp; Đảng Quốc đại Ấn Độ giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử Thập niên tiếp theo chìm trong các cuộc khủng hoảng: Ấn Độ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Quốc đại kiên quyết bất hợp tác, và một đợt bột phát chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo Tất cả đều bị ngăn lại với việc Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, song bị kiềmchế do thuộc địa này phân chia thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pakistan
Tuy được Anh trao trả độc lập trong hòa bình, nhưng mâu thuẫn nội bộ tại Ấn
Độ khiến đổ máu vẫn xảy ra Tiếp theo và trước khi có sự chia cắt các tỉnh Punjab và Bengal, bạo động giữa người Sikh, Hindu và Hồi giáo đã bùng nổ ở một vài nơi, bao gồm Punjab, Bengal và Delhi, làm 500.000 người thiệt
mạng Ngày 30 tháng 1 năm 1948, trên đường đến một nơi thờ tụng, Mahatma Gandhi, người lãnh đạo phong trào giành độc lập, bị bắn chết bởi một môn đồ
Ấn giáo cực đoan
Để khẳng định hình ảnh là một quốc gia độc lập, hiến pháp Ấn Độ được hoàn thành vào năm 1950, xác định Ấn Độ là một nền cộng hòa thế tục và dân
chủ Trong 60 năm kể từ đó, Ấn Độ trải qua cả những thành công và thất
bại Đất nước này vẫn duy trì một chế độ dân chủ với các quyền tự do dân sự, một Tòa án tối cao hoạt động tích cực, và một nền báo chí độc lập ở mức độ lớn Tự do hóa kinh tế bắt đầu từ thập niên 1990, và tạo ra một tầng lớp trung lưu thành thị có quy mô lớn, biến Ấn Độ thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới, và tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình Phim, âm nhạc, và giảng đạo của Ấn Độ đóng một vai trò ngày càng lớn trong văn hóa toàn cầu Tuy nhiên, Ấn Độ phải đương đầu với các vấn đề như tình trạng nghèo nàn phổ biến ở cả thành thị lẫn nông thôn, các xung đột liên quan
Trang 19đến tôn giáo và đẳng cấp, từ quân nổi dậy Naxalite được truyền cảm hứng từ tư tưởng Mao Trạch Đông, từ chủ nghĩa ly khai tại Jammu và Kashmir và tại Đông Bắc Có các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết với Trung Quốc, từng leo thang thành Chiến tranh Trung-Ấn vào năm 1962 (Ấn Độ thua trận và mất một số lãnh thổ); và các cuộc chiến tranh biên giới với Pakistan bùng phát vào các năm 1947, 1965, 1971, và 1999 Sự đối đầu hạt nhân Ấn Độ–Pakistan lên đến đỉnh vào năm 1998
II Ấn Độ cái nôi văn hóa lịch sử của Phương Đông
Ấn Độ là một quốc gia nhưng cũng là cả một lục địa, có quan hệ với
Việt Nam không chỉ về chính trị, kinh tế mà còn mật thiết hơn về văn hóa Không chỉ cho Đông Dương một nửa cái tên Indo-china, trong quan niệm truyền thống, Ấn Độ còn được coi là một cội nguồn của văn hóa Đông Dương!
2.1 Tôn giáo
2.1.1 Ấn Độ giáo ( Hindu giáo)
Trước sự thắng thế của đạo Phật, đạo Bàlamôn phải cải cách biến thể thành đạo Hindu, tiếp thu một phần giáo lí và đạo đức của Phật, tin vào luật nhân quả và luân hồi Đạo Hindu cho rằng con người và vũ trụ trải qua ba giai đoạn sinh trưởng – diệt Nhất thể hóa ba vị thần tượng Brahma – Visnu – Siva, có 3 chức năng quan trọng như nhau Brahma là thần sáng tạo, Visnu là thần bảo vệ còn Siva là thần hủy diệt
Trang 20Thần Brahma
Ba chức năng đó có mối quan hệ biện chứng và đồng nhất với nhau Trong ba
vị thần trên đây, đạo Hindu đề cao thần Vinus, coi thần Vinus là vị thần đạo đứcgiáng thế làm con người thiện lí tưởng để cứu nhân độ thế Cứu nhân loại ra
Trang 21khỏi vòng trầm luân tội lỗi.
Thần Vinus
Ấn Độ giáo đã được truyền bá sang Đông Nam Á vào đầu công nguyên và đã đóng một vai trò quan trọng trong sự hình tha hf các nà nước sớm ở khi vực này Các thủ lĩnh, thị tộc trong khu vực tiếp nhận mô hình tổ chức vương
quyền, tổ chức xã hội của Ấn Độ giáo đem ứng dụng trong lãnh địa của mình Dân chúng cũng dễ dàng chấp nhận những vị thần thiên nhiên của Ấn Độ giáo với tâm niệm được ban phát ấm no và có một cuộc sống sung túc đầy đủ
Vào những buổi đầu các thầy Bà La Môn của Ấn Độ giáo và những người đứngđầu các thị tộc đã đóng một vai trò rất lớn trong việc thể chế hóa tín ngưỡng và
tổ chức nhà nước xã hội ở khu vực Đông Nam Á, nhiều tu sỹ Bà La Môn khi sang Đông Nam Á đã nhanh chóng trở thành các thầy tư tế hoàng gia ở nhiều
Trang 22tiểu quốc Đông Nam Á Trước hết để biết ơn cho sự ưu đãi đó, các thầy Bà La Môn đã ban phước lành cho các vua bản địa trở thành dòng dõi của các triều đại mặt trăng, mặt trời bên Ấn Độ hoặc dòng dõi của những bậc thánh hiền có liên quan đến các thần, điều đó có thể thấy rõ trên bia ký Mỹ Sơn ở quốc gia Champa cổ: “ Kundian, vị Bà La Môn vĩ đại nhất đã cắm xuống đây ngọn lao
mà thầy đã nhận từ As vathaman con của Dronan” ( một anh hùng trong sử thi Mahabharata) để đánh dấu kinh đô được dựng lên Các thầy Bà La Môn đã tiến hành nghi thức Ấn Độ giáo để tôn phong các nhà vua bản địa, dựng lên các tượng thần, sửa lại các điều phá bảo của các thần linh theo mẫu Ấn Độ giáo và giúp các vua trị vì dựng lên một cung đình theo kiểu Ấn
Thần trời nguyên thủy của bản địa Ấn Độ giáo hóa thành Siva Hình tượng thầnmặt trời ở Phù Nam được ghi chép trong Lương thư có hai amwtj bốn tay hoặc bốn mặt tám tay, ôm đứa bé, con chim động vật 4 chân và người ta nhận định rằng có lẽ đây là tượng Siva
Ở nhiều nơi trên Đông Nam Á, nhất là vùng hải đảo, dân chúng có tục trồng cột
đá ở mộ người chết sẽ làm nơi trú ngụ cho linh hồn tổ tiên Khi Ấn Độ giáo vào, các trụ đá đó biến thành Linga, nơi hiện xuống của Siva Người Java phân biệt linh hồn tổ tiên thành hai loại: Pirata và Pirata, Pitara là linh hồn đã được giải thoát khỏi thân xác, còn Pirata là linh hồn chưa được giải thoát nghĩa là chưa được hỏa thiêu hoàn toàn Tục hỏa thiêu vốn có từ rất lâu của Ấn Độ giáo
và được tiến hành với nhiều nghi thức, người chết được đem chôn sau một năm mới đem hỏa táng, lúc đó linh hồn mới được giải thoát Cho nên nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Đông Nam Á cho rằng tục hỏa thiêu là chịu ảnh hưởng từ
Ấn Độ giáo Ấn Độ giáo khi vào Đông Nam Á đã được tiếp thu và bản địa hóa cho phù hợp với điều kiện của mình trên cơ sở sẵn có của mình Có thể nói đóng góp quan trọng nhất của Ấn Độ giáo vào xã hội Đông Nam Á là đã giúp cho người bản địa thể chế hóa quy tắc hóa các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị của mình, đặc biệt là về mặt tinh thần, tâm linh
2.1.2 Phật giáo
Sau nhiều năm đi tìm chân lí, Xítđácta đã ngộ đạo dưới cây bồ đề Bồ đề có nghĩa là giác ngộ Do đó phật được mệnh danh là người giác ngộ chân lí, người thông thái Sau đó phật truyền đạo khắp nơi trong vòng 45 năm
Trang 23Giáo lí Phật cho rằng tội ác trong xã hội là do dục vọng của con người sinh ra Dục vọng thì vô hạn, tội lỗi và khổ đau của con người không bao giờ rửa sạch được Cuộc đời là bể khổ, con người bị kiếp luân hồi và nhân quả chi phối cho nên phải tu hành để giải thoát Phải tiêu diệt hết dục vọng, xóa tội lỗi để kiếp sau được lên chốn niết bàn, chốn cực lạc.
Trước khi phật giáo ra đời, xã hội Ấn Độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng
về mọi mặt của đời sống xã hội Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh Còn giai cấp Ksatriya thống trị quốcgia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động đòi quyền tự do bình đẳng Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện: “ Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh
Trang 24thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đua khổ thực tế củanhân dân Ấn Độ; một mặt nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại
sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của Kinh Veda và đạo Bà La Môn, bác bỏ uy quyền thần thahs, xây dựng niềm tin vào chính con người
Phật giáo vào Đông Nam Á khá sớm Nó thâm nhập vào từng quốc gia trong những thời gian không như nhau, bằng những con đường khác nhau và ảnh hưởng của nó cũng không đều nhau Với đặc điểm là dễ thích nghi với các môi trường khác nhau mà nó xâm nhập vào và có khả năng tự điều chỉnh cho thích hợp với điều kiện mới Đó là biểu hiện của sự bao dung đặc thù của đạo Phật và
nó ảnh hưởng rất lướn đến tâm thức con người các quốc gia Đông Nam Á theo phật giáo
Việt Nam: Phật giáo du nhập bào khoảng những năm 194-195 và trung tâm Phật giáo lớn nhất thời đó là Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)
Inđônêxia: Phật giáo Đại thừa có mặt từ rất sớm, khoảng thế kỷ II Phật giáo phát triển rực rỡ thời kỳ quốc gia Srivijaya và ngôi chùa Borobudur là biểu tượng của kiến trúc Phật giáo nổi tiếng của cả khu vực thười đó Đến thế kỷ XIII, Phật giáo Tiểu thừa xuất hiện thay thế Phật giáo Đại thừa
Thái Lan là quốc gia Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á, Phật giáo Tiểu thừa có mặt khoảng thế kỷ I sau công nguyên
Ở Campuchia khoảng thế kỷ V và Lào chậm hơn khoảng thế kỷ VII và chính thức Phật giáo có ảnh hưởng rộng lớn từ giữa thế kỷ XIV
Phật giáo trở thành tư tưởng chính thống của nhiều quốc gia và là quốc giáo ở một số nước Đông Nam Á
Phật giáo giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Đông Nam Á Ở một số nước như Lào, Campuchia, Myanma, người ta đều khẳng định Phật giáo đã có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng một nền văn hóa thống nhất, trong nền văn hóa dân tộc đều mang màu sắc Phật giáo, Phật giáo gắn liền với tổ quốc và dân tộc
Trang 252.2 Triết học
Triết học Ấn Độ ra đời và phát triển rất sớm Thời kì cổ đại đã có rất nhiều mônphái triết học Tư tưởng triết học duy vật ra đời khá sớm nhưng giai cấp thống trị lại nhanh chống tìm cách thủ tiêu nó Cho nên ngày nay ít thấy có một tác phẩm nào để lại Người ta chỉ tìm thấy tư tưởng đó được phản ánh trong các kinh Vê đa, Upanxixát, trong luật Manu, trong sách đạo đức học Arthasatra, Triết học duy vật cổ đại có nhiều trường phái trong đó có ba trường phái chính còn để lại nhiều ảnh hưởng như phái Yadushaisđa, phái Svabatavađa, phái Prôtôsankya
Quan niệm triết học của mỗi tường phái về thế giới, về vũ trụ có chỗ khác nhau,nói chung đều phủ nhận thượng đế, thần thánh sáng tạo ra vũ trụ
Đối lập với trường phái duy vật là sáu hệ thống triết học chính thống gọi là Đacsana Hệ thống gồm có triết hệ Vêđanta, Purva Mimansa, Sankhya, Yôga, Nyaya và Vaisesika Học thuyết của sáu hệ thống triết học này có chỗ lập luận khác nhau, nhưng đều thống nhất thừa nhận uy quyền của các bộ kinh Vêđa
2.3 Chữ viết
Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ
mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những
ký hiệu đồ họa
Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng
đá có khắc loại chữ này Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanskrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam
Á sau này Đó là chữ Đêvaganari kiểu chữ mà người Ấn Độ sử dụng ngày nay.
Trang 26Chữ Đêvaganari – chữ viết được người Ấn Độ sử dụng đến ngày nay
Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana
Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata Bản trường ca này có thể coi
là một bộ "bách khoa toàn thư" phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó
Ramayana là một bộ sử thi dài 48.000 câu thơ, mô tả một cuộc tnh giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Xita(con của nữ thần mẹ đất) Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á Riêmkê
ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu
Tiếng Sanskrit đã đóng một vai trò chuyển tải quan trọng của Ấn Độ giáo vào Đông Nam Á Rồi từ đó người bản địa đã phát triển lên thành muôn vàn biểu hiện độc đáo, đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật như tháp – tượng Champa, khu
Trang 27đền Angco, Ấn Độ giáo đã được gieo xuống một vùng phì nhiêu màu mỡ và
đã đâm chồi nảy lộc, kết quả muôn hương muôn vị
Khác với văn học các khu vực khác, văn học Đông Nam Á được hòa tan trong văn hóa, đan xen và liên kết với các loại hình nghệ thuật khác để thể hiện cảm xúc tình cảm tư tưởng con người và xã hội Đông Nam Á nằm giữa hai nền văn hóa lâu đời là Ấn Độ và Trung Quốc cho nên trong một chừng mực nào đó văn hoch trong dòng chảy văn hóa Đông Nam Á sẽ chịu những ảnh hưởng nhất định từ văn học – văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc
Điểm nổi bật của văn hóa Đông Nam Á là sự phát triển xa xưa của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, đây là nền tảng, là cơ sở quy định sự phát triển vănhóa tinh thần, văn hóa vật chất, cơ cấu xã hội và đời sống tâm linh, tư duy triết
lí của con người Đông Nam Á trong suốt quá trình vận động của xã hội Đông Nam Á từ xưa cho đến nay, trên cơ sở đó văn học dân gian nảy nở và phát triển
Từ đầu công nguyên cho đến nay, Đông Nam Á là nơi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, Ba Tư, Tây
Âu Người Ấn Độ đã thâm nhập vào Đông Nam Á đem tới đây các tôn giáo và các loại hình văn hóa Ấn Độ, trong đó có văn học Các dân tộc Đông Nam Á đãtiếp thu một cách đầy sáng tạo các cốt cách đề tài, các phong cách nghệ thuật
Ấn Độ và nhào luyện cùng với vốn văn hóa của mình rồi tạo nên những công trình kiến trúc đồ sộ như Borobudu, Angkor Vat, những áng văn học đậm đà tính chất dân gian lấy từ Jataka, Panchatantra, Ramayana, Mahabharata, những tác phẩm văn học cổ đại Ấn Độ khi vào Đông Nam Á gặp ngay đời sốngdân gian vô cùng sống động ở vùng này nên chúng được dân gian hóa, được tái sinh trong dân gian, chúng làm giàu thêm cho kho tàng văn hóa vùng này
2.4 Nghệ thuật kiến trúc
2.4.1 Kiến trúc Ấn Độ giáo
Kiến trúc Ấn Độ giáo bắt nguồn từ lịch sử, văn hóa và tôn giáo của chính mình.Trải qua hàng nghìn năm, nó đã phát triển và đóng góp những thành tựu kiến trúc Ấn Độ giáo có giá trị về nghệ thuật cho Ấn Độ cũng như toàn thế giới
Ấn Độ là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời nằm ở phía Nam châu Á và phát triển rực rỡ bậc nhất Vì sự đa dạng của các dân tộc nơi đây là mảnh đất màu
Trang 28mỡ cho các loại tôn giáo du nhập và ảnh hưởng đến nghệ thuật kiến trúc
Những kiến trúc Ấn Độ giáo luôn mang đầy tính sáng tạo và sống động, là một biểu tượng hùng hồn trong lịch sử Ấn Độ
Cụm thánh tích Mahabalipuram
Cụm thánh tích Mahabalipuram xây dựng vào khoảng những năm 630 và 715 Đây là một cụm kiến trúc vô cùng độc đáo với nhiều ngôi đền to nhỏ khác nhau, được tách trực tiếp vào những tảng đá liền khối như các Catha (thiên xa)
và đền thờ thần Siva Các ngôi đền được tạc lên các tảng đá lớn liền khối
Trang 29Trong số tám thiên xa thì năm ratha nổi bật đứng cạnh nhau tượng trưng cho người anh em nhà Pandava trong sử thi Mahabharata Hai tầng mái phía dưới bao quanh bởi hành lang và được tô điểm bằng các tháp nhỏ, tầng trên cùng là
cả một khối vòm tròn lớn, gây được ấn tượng hoành tráng mạnh mẽ
Chùa hang Ajanta
Chùa Ajanta nằm ở miền Trung Ấn, gồm 30 chùa Hang bố trí theo hình móng ngựa, khoét sâu vào trong vách núi đá thẳng đứng cao 76m Bên trong hang co bàn thờ phật, đại sảnh để làm lễ Phía ngoài có khoảng 20 hàng cột đá đục liền, trang trí công phu
Trang 30Bảo tháp Sanchi
Bảo tháp Stupa Sanchi xây dựng từ thế kỉ thứ III trước CN bằng gạch nung, cao15m, đường kính 35m
Trang 31Lăng mộ Humayun
Lăng mộ của Hoàng đế Humayun, vương triều Mughal được xây dựng bởi hoàng hậu của ngài vào năm 1562 sau công nguyên Tọa lạc tại Delhi, lăng mộ cao 47m được truyền cảm hứng từ kiến trúc Ba Tư với hình bát giác, hai tầng, các phòng nhỏ đặt chéo nhau
Đây là một trong những lăng mộ đầu tiên của Ấn Độ có kiến trúc hai mái vòm Chúng không có là hình bán nguyệt như hiện nay và được bao phủ bằng cẩm thạch Điểm trên mái vòm tạo với đưởng thẳng của cấu trúc chính toát lên sức mạnh, sự bèn vững khi thiết kế Đây là công trình kiến trúc bị ảnh hưởng bởi hồi giáo, tuy nhiên vẫn phảng phất bóng dáng nghệ thuật Ấn Độ
2.4.2 Kiến trúc Bà La Môn và Kiến trúc Hồi giáo
Từ thế kỉ X trở đi, kiến trúc tôn giáo của Bà La Môn và Hồi giáo phát triển mạnh, còn kiến trúc Phật giáo giảm dần đi Ớ các tỉnh phía bắc, các đền thờ Bà
La Môn thường có mặt bằng hình vuông, khối xây vươn cao gấp đôi cạnh của mặt bằng và cong khum lại
cũng có một hình tròn giống một cái chum đất bẹt, sau này gọi là cái chum bất
tử “Kalasa” Ở Bhuvanexva bang Oritxa, năm 900 xây dựng đền Mutexvara (hình 2) và năm 1000 xây dựng đền Lingaragia có dạng gần giống nhau Năm
1000 ở Chagiuraho xây dựng đền Kanđariya rất lộng lẫy
Trang 32Ớ các tỉnh phía Nam, đền Bà La Môn có dạng Kim tự tháp dốc dật cấp và bẹt đầu Nhìn mặt đứng nó có dạng một hình thang cân Trên các tầng dật cấp, điêu khắc vô cùng phong phú với nhiều tượng tròn và phù điêu Thực ra Kim tự thápnày chỉ là lối vào đền gọi là “gôpura” Nổi tiếng nhất là đển Tiruvanamalai ở Myxo xây dựng khoảng giữa các năm 1100 đến 1350 và Đền Lớn ở Madura (thế kỉ XVII) Đền này là điển hình cho các đền miền Nam Ân Độ, đó là một đôthành của các thần, có mặt bằng trên những nét lớn giống các thành phố cổ của người Ariăng.
Kiến trúc Hồi giáo
Trang 33Nổi bật nhất trong các công trình Hồi giáo là các lăng của triều đại Mogon, đó
là lăng Humayun (1560) và Tagiơ Mahan (1632 – 1653) Cả hai đều có mặt bằng giống nhau, bốn mặt có bốn cửa cuốn nhọn đầu nằm giữa bức tường chữ nhật, một chỏm cầu khổng lồ ngự trên gian chính nơi để quan tài Lăng
Humayun làm bằng đá có hai sắc độ và không có các tháp Còn Tagiơ Mahan làm bằng đá hoa cương rực rỡ, chung quanh có bốn tháp đặt ở bốn góc bệ cồng trình Trong và ngoài lăng được chạm trổ tinh vi, gắn nhiều kim cương và đá quý Các trang trí này rất tế nhị, không hề che lấp đường nét kiến trúc Tagiơ Mahan là lăng mộ đẹp đẽ do vua Sagiahan làm cho người vợ yêu quý đã qua đời ở tuổi thanh xuân, nó tượng trưng cho tình yêu chung thủy Khu đất xây dựng lăng hình chữ nhật, rộng khoảng 17ha, chia làm ba khu vực khu cổng vào,khu vườn và khu lăng mộ Tòa lăng đặt trên một bệ hình vuông cao 5,4m, cạnh 95m Mặt bằng công trình hình vuông có cạnh 56,70m, trên gian chính có chỏmcầu đường kính 17,70m Tagiơ Mahan là biểu hiện cao nhất của tài nãng nghệ thuật kiến trúc của nhân dân An Độ
Kiến trúc Hồi giáo ở Ân Độ còn có một công trình đặc sắc nữa là bảo tháp Cutbơ Mina xây dựng bằng đá đỏ Bảo tháp có nãm tầng, ba tầng dưới có dáng một bó thân cây ghép sát nhau, trên đó trang trí bằng kiểu chữ cổ
Trang 34Taj Mahal ở Agra
Trang 35Lăng Humayun
2.4.3 Kiến trúc dân dụng
Ngoài những công trình tôn giáo trên, các lâu đài của phong kiến cũng không kém đặc sắc Hầu hết những công trình đó được xây dựng bằng sa thạch màu hồng với các trang trí theo dạng hoa văn chạm khắc rất tinh vi và đều đặn, thường không có tượng tròn hay phù điêu hình người và các con vật như trong kiến trúc tôn giáo Các lâu đài và biệt thự này chứng minh tài nãng sáng tạo một nền kiến trúc thích nghi với khí hậu nóng khô bằng những mái hắt rộng, các cửa thông gió Trong những thành tựu này phải kể đến lâu đài Giai Xanmo (thế kỉ XII – XIV), láu đài Giehangia Manan (thế kỉ XVI), lâu đài Pancho Mahan ở Phatepua Xinkri ở thế kỉ XVI, lâu đài Rudabainivap ở thế kỷ XV v.v…
Nhà của nhân dân trong thành phố cũng có dạng mái bằng và mái ngói, thường
là hai tầng và có nhiều trang trí bằng hoa văn chạm khắc ở ban công hay tường hoa chắn mái
Trang 36Cùng với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ cũng có ảnh hưởng rất lớn tại Đông Nam Á như: tôn giáo, lễ hội, ẩm thực, bên cạnh đó nghệ thuật kiến trúc
là mảng có arh hưởng rất nhiều từ Ấn Độ Sự ảnh hưởng này được thể hiện rất
rõ trong các công trình có tính chất tôn giáo Có thể nói hầu hết các công trình
ở Đông Nam Á không làm theo kiến trúc, thì cũng là để thờ một vị thần nào đó của Ấn Độ Các motif điêu khắc, trang trí kiến trúc, chủ đề của các mảng phù điêu, nó được thể hiện nơi các công trình Borubudur, Ăngkor Vat, Pagan, Tuy nhiên không thể nói công trình kiến trúc Đông Nam Á đều sao chép hoàn toàn của kiến trúc Ấn Độ, nhưng kiến trúc Ấn Độ đã được đồng hóa và biến thành tài sản riêng của Đông Nam Á Nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng
người Nga thế kỷ XIX – P.I.Busleev nói: “ Tính dân tộc của mỗi dân tộc là một
tương lai vĩ đại đã định sẵn cho họ rồi, thì bằng một sức mạnh đặc biệt, nó có thể đồng hóa tất cả những gì bên ngoài vào thành sở hữu của chính mình”
2.4.4 Ảnh hưởng của Ấn Độ trên kiến trúc Đông Nam Á
a, Kiến trúc đền – núi:
Đây là kiểu kiến trúc rất đặc biệt ở Đông Nam Á, nó gồm một ngôi đền xây theo kiểu hình ngọn núi Meru, núi thiên ở Ấn Độ thời cổ trung đại Các công trình kiến trúc xây theo kiểu này có: đền Angkor Wat, Angkor Thom ở
Trang 37Campuchia; đền Borobudur ở Indonesia, quần thể đền núi Lara Jonggran ở Indonesia…
Đầu tiên là đền Angkor Wat Angkor Wat là một đền – núi lớn, do vua
Suryavarman II (1113 – 1150) xây dựng, là một trong những kỳ quan kiến trúc của Campuchia nói riêng và vùng châu Á nói chung
Đền Angkor Wat ở Campuchia
Từ “Angkor Wat” dịch là Kinh đô Chùa (Angkor: gốc từ tiếng Phạn negara nghĩa là kinh đô; Wat là đền thờ, chùa) Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km vàdiện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp có độ cao 65,5 m Angkor Wat là địa điểm duy nhất có lối ra vào là hướng Tây, tức hướng Mặt Trời lặn Khu đền tháp (khu trung tâm) có 4 tầng nền (tầng đầu là 3,5 m, tầng hai: 7 m; tầng ba: 13 m và tháp trung tâm: 42 m[27]), cao lên cao thì càng thu nhỏ như
mô hình núi vũ trụ Meru thu nhỏ của người Ấn Độ Quanh khu trung tâm có các hồi lang kín bằng đá và ở các hồi lang này đều có các tháp ở góc và các cổng phòng ở giữa bốn mặt; đồng thời ở các hồi lang này thì người ta đếm được
398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can… Bên dưới các tòa tháp lớn là các đường hành lang dài hun hút, mát lạng với các phù điêu sống động, nhưng không làm mất vẻ linh thiên của nó Lúc đầu nó thờ Vishnu, sau thì thờ Phật Sau khi Angkor bị Xiêm đánh bại phải
Trang 38lui về Phnom Pênh (1434), Angkor Wat bị lãng quên và cuối cùng, nó đã sống lại sau phát hiện của Henri Mouhot (Pháp) vào năm 1860.
Kiến trúc thứ hai mà ta có thể kể đến là Angkor Thom Angkor Thom là một đền núi lớn, được Jayavarman VII (1181 – 1218) xây dựng để làm kinh đô quốcgia, đồng thời khẳng định Phật giáo là quốc giáo của đế quốc Angkor
Angkor Thom
Nằm cách Angkor Wat 2 km về phía Bắc, Angkor Thom là tổng thể kiến trúc đôthành và tôn giáo rộng lớn: Angkor Thom xây trên bình đồ hình vuông với diện tích 16 km2, cạnh đáy dài hơn 3 km, tường thành cao 6 m và hào nước rộng
200 m bao quanh và có 4 đường trục vuông mở ra 4 phía Trong Angkor Thom
có nhiều đền đài như: đền Bayon, đền Baphuon, Sân Voi, Sân Vua Cùi, đền
Trang 39Phimeanakas, đền Khleang, Preah Palilay…, trong đó nổi bật nhất là đền
Bayon Đây là đền tháp 3 tầng, có 4 tháp mặt người quay ra 4 hướng Tháp chính Bayon cao 23 m với 52 tháp phụ hình mặt người cười tạo thành khối tháp– nhìn giống như ngọn núi Meru hùng vĩ của Ấn Độ cổ Trên một cây cầu lớn dẫn vào đền, người ta chạm khắc được các dãy gồm 54 tượng thể hiện thần – quỷ ôm rắn Naga khuấy biển sữa để lấy thuốc trường sinh
Kiến trúc đền – núi thứ ba có thể kể tới nữa là đền – núi Borobudur ở
Trang 40viên đá lớn và không có nội thất bên trong Có 5 hồi lang vuông kế tiếp nhau theo chiều cao của tầng dưới và 3 hồi lang tròn đồng tâm ở phía trên (co 72 tháp nhỏ bao quanh tháp lớn), thể hiện quan điểm trời tròn đất vuông của ngườiphương Đông cổ Toàn bộ tháp được trang trí bằng 1506 phù điêu, 1212 hình điêu khắc mang tính trang trí và 504 tượng Phật (trong có 72 tượng Phật ở 3 hồilang tròn trên cùng) Nếu nhìn dưới góc độ Phật giáo thì khu đền này là một vũ trụ thu nhỏ Các bậc thềm từ tầng một đến tầng chín đều được phủ kín bởi những phù điêu kể về chuyện Phật như Phật truyện, Nguồn gốc loài người, Tranh 53 điều… nói về cuộc đời Đức Phật, bồ tát và các anh hùng giác ngộ Phật pháp… Ba tầng trên cùng bằng phẳng, có trổ ra 72 tháp chuông bên trong chứa 72 tượng Phật ngồi Đó thực sự là tác phẩm điêu khắc Phật giáo – một khotàng nghệ thuật điêu khắc bậc nhất thế giới, được gọi là sử thi trên đá.
Tháp cũng là kiểu đền – núi như các đền – núi khác ở Campuchia, Indonesia Trong thời kỳ phát triển của vương quốc Champa thì có khoảng 70 tháp (tập trung nhiều nhất ở thánh địa Mỹ Sơn), nhưng cho đến năm 1994 thì Ngô Văn Doanh thống kê được chỉ còn 19 khu tháp, 40 kiến trúc nhỏ mà thôi
Về hình dáng, các tháp Chăm có cấu trúc như kiểu đền – núi của người Ấn Độ gọi là Shikara (shikara là đỉnh núi nhọn), trên các tầng tháp có các tháp nhỏ ở các góc Tuy hình núi non có gốc là Ấn nhưng với người Chăm, nó là hình tượng của núi cao trùng điệp và sinh thực khí nam; mái của tháp cong hình thuyền – đặc trưng của kiến trúc nhà ở ở Đông Nam Á (Phù Nam, Đông Sơn) Người Chăm tiếp thu và hòa quyện, đồng thời sáng tạo ra những công trình mặt
dù mang dấu ấn Ấn Độ nhưng tính bản địa hóa ngày càng ăn sâu bền chặt và người Chăm gọi là kalan (lăng mộ) Các kalan có chức năng là thờ Vua, thờ Thần, thánh đường thờ các vị thần bảo trợ cho nhà vua Trong các đền tháp Chăm, vị thần thờ là Shiva và linh vật để thờ là linga – giống như thờ sinh thực khí nam và Shiva + linga xem như là một Linga có nhiều loại: linga một thành phần, linga hai thành phần, linga ba thành phần, linga hình mặt người…
Các tháp Chăm tiêu biểu: Tháp Poklong Giarai, tháp Po Rome, tháp Mẫm, tháp Bánh Ít, tháp Ba Tháp… Trong xây dựng các tháp Chăm, tháp Khmer thì
nguyên vật liệu và cách xây dựng có phần khác nhau, nhưng nó đều giống một điểm là các công trình này đều xây bằng gạch nung đỏ và không vữa, các viên gạch đặt rất khít nhau đến nỗi một lưỡi dao mới lách qua nổi mà thôi Ta có thể