1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Tài Chính Công - Đề Tài - Các Quan Điểm Về Cân Đối Ngân Sách, Nêu Và Nhược Điểm Của Các Quan Điểm Trên. Việt Nam Hiện Nay Đang Áp Dụng Những Quan Điểm Nào Lấy Số Liệu Minh Họa

29 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Quan Điểm Về Cân Đối Ngân Sách, Nêu Và Nhược Điểm Của Các Quan Điểm Trên. Việt Nam Hiện Nay Đang Áp Dụng Những Quan Điểm Nào Lấy Số Liệu Minh Họa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 88,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu Luận - Tài Chính Công - Đề Tài - Các Quan Điểm Về Cân Đối Ngân Sách, Nêu Và Nhược Điểm Của Các Quan Điểm Trên. Việt Nam Hiện Nay Đang Áp Dụng Những Quan Điểm Nào Lấy Số Liệu Minh Họa

Trang 1

Đề tài 1 : Các quan điểm về cân đối ngân sách, nêu và nhược điểm của các quan điểm trên Việt Nam hiện nay đang áp dụng những quan điểm nào lấy số liệu

minh họa

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NSNN VÀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2 1 Khái quát về ngân sách Nhà nước (NSNN) 2

1.1 Khái niệm NSNN 2

1.2 Đặc điểm của ngân sách Nhà nước (NSNN) 2

2 Khái quát về cân đối ngân sách Nhà nước 3

2.1 Khái niệm về cân đối NSNN 3

2.2 Đặc điểm của cân đối NSNN 4

2.3 Vai trò của cân đối NSNN 5

CHƯƠNG II : QUAN ĐIỂM VỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6

1 Quan điểm ngân sách cân bằng 6

1.1 Nội dung 6

1.2 Nhận xét ưu nhược điểm 7

2 Quan điểm về ngân sách chu kì 8

2.1 Nội dung 8

2.2 Nhận xét ưu nhược điểm 9

3 Quan điểm về ngân sách thâm hụt 10

3.1 Nội dung 10

3.2 Nhận xét ưu nhược điểm 10

4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách 11

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM 12

1 Quan điểm về cân đối NS ở Việt Nam hiện nay 12

1.1 Cân đối ngân sách một số nước trên thế giới 12

1.2 Cân đối NSNN Việt Nam 12

2 Thực trạng thu NSNN: 13

2.1 Thành tựu trong thu cân đối NSNN: 13

2.2 Hạn chế trong thu cân đối NSNN: 14

3 Thực trạng chi NSNN 15

3.1 Năm 2009 17

3.2 Năm 2010: 18

1

Trang 2

3.4 Năm 2011: 19

3.5 Năm 2012: 20

4 Thực trạng cân đối NSNN: 21

5 Ưu nhược điểm của cân đối NSNN Việt Nam 23

5.1 Ưu điểm 23

5.2 Nhược điểm 24

CHƯƠNG IV: BIỆN PHÁP 25

1 Bù đắp chi NSNN đảm bảo cân đối NSNN 25

1.1 Cụ thể việc giảm chi tiêu công: 25

1.2 Vay nợ nước ngoài: 25

1.3 Vay nợ trong nước 26

1.4 Sử dụng dự trữ ngoại tệ: 26

2 Hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo cân đối NSNN 26

3 Ngoài ra: 27

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NSNN VÀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC

1 Khái quát về ngân sách Nhà nước (NSNN)

1.1 Khái niệm NSNN

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo thực hiện các chứ năng, nhiệm vụ của Nhà nước

NSNN chính là một đạo luật tài chính do Quốc hội ban hành, dự toán về các khoản thu chi thực hiện trong một năm của một quốc gia, bên cạnh đó NSNN còn là một công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước thực hiện và điều tiết hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước

1.2 Đặc điểm của ngân sách Nhà nước (NSNN)

NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:

Trang 3

Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quĩ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của

Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tàichính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật

có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật doQuốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế -

xã hội có liên quan phải tuân thủ

Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích

công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN vàhoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khiNhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế -

xã hội, các tầng lớp dân cư

Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và

đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong nămtài khóa tiếp theo Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ Chính sáchnào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện Chính vì như vậy mà, việcthông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chínhsách của Nhà nước Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chínhphủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị

Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Hệ thống tài chính

quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cánhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốcgia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Tàichính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tàichính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy độngđược, Chính phủ sử dụng quĩ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chứckinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kì phong kiến, mô

hình ngân sách sơ khai và tuì tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nướcphong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầnglớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có) Quyền quyết định cáckhoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trongthời kì hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dự toán, được thảo luận

3

Trang 4

và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông quaQuốc hội NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soátbởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân.

2 Khái quát về cân đối ngân sách Nhà nước.

2.1 Khái niệm về cân đối NSNN.

Cân đối NSNN là tổng hợp các khoản thu và chi của NSNN trong một thời kì (thường là một năm)

và nguồn bù đắp thiếu hụt hoặc sử dụng kết dư của NSNN Qua khái niệm nói trên, có thể hiểu cân

đối NSNN theo các nội dung cơ bản sau:

 Cân đối NSNN là cân đối về mặt giá trị, nó phản ánh nguồn lực tài chính được tập trung dưới

sự quản lý của Nhà nước và dùng để phân phối cho các nhu cầu chi tiêu theo những mục tiêunhất định

 Cân đối thu chi NSNN được xác định trên cơ sở thực thu, thực chi ngân sách; thu chi NSNNbao gồm những yếu tố nào, khoản mục nào, đối tượng phạm vi ra sao thì đối với mỗi quốc giacũng có sự khác biệt nhất định, song một nguyên tắc chung đó là trên cơ sở thực tế có phátsinh

 Các khoản thu chi phản ánh trong cân đối NSNN được thực hiện trong năm tài chính; dẫu rằng

có các khoản thu chi không thuộc thời kì này, nhưng thực tế có phát sinh trong nằm tài chínhđều được phản ánh vào cân đối năm đó

Cân đối thu chi NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa ương; phạm vi và mức độ ảnh hưởng của cân đối NSTW và ngân sách các cấp chính quyền địaphương cũng có sự khác nhau, tuì theo sự phân cấp quản lý kinh tế và phân cấp quản lý ngân sáchcủa mỗi nước

ph-2.2 Đặc điểm của cân đối NSNN.

Cân đối NSNN là một bộ phận của cân đối thu chi tài chính Đặc điểm này thể hiện qua các nộidung cơ bản sau:

 Cân đối thu chi tài chính là cân đối nguồn lực tài chính theo nghĩa rộng mang tính chất toàn xãhội, nó bao gồm thu chi trong và ngoài ngân sách, thu chi tín dụng và thu chi tiền tệ của cácthành phần kinh tế; còn cân đối NSNN phản ánh nguồn lực tài chính mà Nhà nước có thể chiphối trực tiếp

 Cân đối thu chi tài chính phản ánh sự tập trung và phân phối vốn tiền tệ toàn xã hội, là sự cânđối tổng hợp nguồn lực tài chính ở tầm vĩ mô; còn cân đối NSNN thể hiện nguồn lực tài chính

Trang 5

được tập trung vào NSNN thông qua thuế và các công cụ tài chính khác; đồng thời phản ánhkhâu then chốt của nền kinh tế có được cân đối về mặt tài chính hay không.

 Cân đối thu chi tài chính mang đặc tính của kế hoạch có tính chỉ đạo; phản ánh quan hệ cânđối, phân bổ nguồn lực tài chính toàn xã hội, chỉ đạo và điều hoà việc sử dụng phối hợp các loạivốn; còn cân đối NSNN về thực chất thể hiện sự cân đối thu chi tài chính trong khuôn khổ tàichính Nhà nước, có đặc tính của kế hoạch pháp lệnh

 Cân đối NSNN chiếm tỷ trọng khá lớn trong cân đối thu chi tài chính, đó là tụ điểm tài chính lớncủa nền kinh tế Cân đối thu chi NSNN có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của đấtnước

Thông qua cân đối Ngân sách Nhà nước, Nhà nước đưa ra các chính sách tài chính trong từngthời kì và sử dụng quyền lực tài chính của mình để điều tiết thu nhập xã hội, phục hưng và phát triểnkinh tế Đồng thời thông qua đó Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát các hoạt động kinh tế –

xã hội nhằm đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô

2.3 Vai trò của cân đối NSNN.

Cân đối ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp vào hoạt động kinhtế-xã hội của đất nước, với vai trò quyết định đó thì cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thịtrường có các vai trò sau:

 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhà nước thực hiện cân đối ngân sách nhà nước thông qua chính sách thuế, chính sách chi tiêuhàng năm và quyết định mức bội chi cụ thể nên có nhiều tác động đến hoạt động kinh tế cũng nhưcáncân thương mại quốc tế Từ đó góp phần ổn định việc thực các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ

mô như: Tăng trưởng mức thu nhập bình quân trong nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, lạm phátđược duy trì ở mức ổn định và có thể dự toán được, etc

 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả

Để đảm bảo được vai trò này ngay từ khi lập dự toán Nhà nước đã lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lýtrong phân bổ ngân sách nhà nước và sự gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế-xã hộivới công tác lập kế hoạch ngân sách Trong phân cấp quản lý ngân sách, nếu cân đối ngân sách nhànước phân định nguồn thu một cách hợp lý giữa trung ương với địa phương và giữa các địa phươngvới nhau thì sẽ đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra

 Cân đối ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo công bằng xã hội

5

Trang 6

Giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa các địa phương Nước ta với mỗi một vùng lại có một điều kiệnkinh tế-xã hội khác nhau, có những vùng điều kiện kinh tế-xã hội rất khó khăn làm ảnh hưởng đếnthu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân, có những vùng điều kiện kinh tế-xã hội thuận lợi,phát triển làm cho thu nhập và cuộc sống của người dân được nâng lên Vì vậy cân đối ngân sáchnhà nước sẽ đảm được sự công bằng, giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùngmiền Nhà nước có thể huy động nguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tếphát triển để hổ trợ, giúp đỡ những người nghèo có thu nhập thấpvà những vùng kinh tế kém pháttriển Bên cạnh đó, cân đối ngân sách nhà nước góp phần phát huy lợi thế của từng địa phương, tạonên thế mạnh kinh tế cho địa phương đó dựa trên tiềm năng có sẵn của địa phương

Tóm lại: Ngân sách nhà nước vừa là công cụ tài chính quan trọng, vừa là đạo luật của một quốc gia.

Nó được thiết lập và vận hành cùng với sự tồn tại và phát triển của quốc gia đó Đặc biệt trong thời kìchuyển đổi và hội nhập như hiện nay, ngân sách nhà nước và vấn đề cân đối ngân sách càng đóngvai trò quan trọng hơn vào sự phát triển đất nước, bình ổn xã hội Hiểu và vận dụng tốt các họcthuyết về cân đối ngân sách nhà nước sẽ giúp nước ta có thể giải quyết những vấn đề còn tồn đọng

về ngân sách nhà nước trong thời gian vừa qua Ngân sách nhà nước được cân đối, ổn định sẽ giúpNhà nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đối với toàn dân, toàn xã hội

CHƯƠNG II : QUAN ĐIỂM VỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1 Quan điểm ngân sách cân bằng.

1.1 Nội dung

Theo quan niệm cổ điển, nhà nước chỉ nên thực hiện những hoạt động như cảnh sát, tư pháp, đốingoại và quốc phòng, còn những hoạt động khác nên để cho khu vực tư nhân đảm nhận Nhất làtrong hoạt động kinh tế, Nhà nước không can thiệp mà phải để cho quy luật thị trường, sự tự do cạnhtranh và sáng kiến tư nhân cân đối Theo quan niệm đó thì nhà nước là bộ máy ăn bám, không cóđóng góp gì vào việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội Do vậy, Ngân sách nhà nước chỉ là công cụcung cấp cho nhà nước những nguồn tài chính cần thiết nhằm tài trợ những chi phí cho hoạt động tàichính, tư pháp, quốc phòng, nhà nước cũng chỉ cần huy động đủ nguồn lực cho những nhu cầu chitiêu hạn hẹp đó của mình mà thôi (nghĩa là chỉ cần duy trì ngân sách tiêu dùng, ngân sách thườngxuyên) Trong bối cảnh đó, cân đối Ngân sách nhà nước cần phải tuân thủ triệt để nguyên tắc “ Tổngthu thuế = Chi ngân sách nhà nước mỗi năm” Nguyên tổng thống Pháp, ông G.Doumergue, trongbài diễn văn đọc năm 1943, đã tóm tắt học thuyết cổ điểm về cân bằng ngân sách (Quan điểm về

Trang 7

ngân sách cân bằng) như sau: “ Người đàn bà nội trợ đi chợ không được tiêu quá số tiền có trongtúi, Nhà nước cũng trong tình trạng y hệt, không được chi tiêu quá số thu”.

Theo quan điểm này, Ngân sách nhà nước phải cân bằng hằng năm tức là tổng số chi không đượcvượt quá tổng số thu Nếu số chi vượt số thu, Nhà nước phải tăng thuế, vay nợ hoặc phát hành tiền

để bù đắp thiếu hụt dẫn đến nguy cơ tình trạng nợ chồng chất, rơi vào vòng luẩn quẩn của lạp phát

và suy thoái Hơn nữa, khi ngân sách đã thâm hụt thì cơ hội tăng thu của ngân sách kì sau để bù đắpthâm hụt của ngân sách kì trước là rất khó khăn vì vậy ngân sách thâm hụt ngày càng gia tăng Nếu

số thu vượt số chi, điều này chứng tỏ số tiền nhà nước thu về đang để một chỗ, số tiền này khôngsinh lời và như vậy không có khả năng khơi thông luồng tiền, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh

tế Mặt khác, khi thặng dư ngân sách sẽ tạo ra tâm lý quản lý ngân sách lỏng lẻo, gây ra sự lãng phítiền của xã hội dẫn đến sự bất bình đẳng của xã hội đối với Chính phủ

Tóm lại: theo lý thuyết này, nội dung của cân bằng ngân sách rất đơn giản: “Mỗi năm số thu

phải ngang bằng với số chi” Quan điểm này bao gồm hai nguyên tắc cơ bản sau: Một là, tổng số

những khoản chi không được quá tổng số những khoản thu Hai là, tổng số những khoản thu của

ngân sách không bao giờ được lớn hơn tổng số những khoản chi của ngân sách Tức là ngân sáchnhà nước phải được cân bằng tuyệt đối, bội chi hay bội thu ngân sách đều biểu hiện sự lãng phí vềnguồn lực trong nhân dân Ngoài ra, thuyết này còn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải cân bằng ngay

cả khi lập dự toán và trong quá trình thực hiện Nếu Ngân sách nhà nước chỉ cân bằng khi lập dựtoán còn trong quá trình thực hiện lại không cân bằng thì không thể coi là cân bằng thực sự “Sựthăng bằng ngân sách phải có thực, nghĩa là ngân sách sau khi thực hiện sẽ thăng bằng Phải cốtránh những ngân sách chỉ thăng bằng trên giấy tờ chưa được đem thực hiện Phải chờ khi thực hiệnxong rồi mới rõ được ngân sách có thăng bằng hay không”

1.2 Nhận xét ưu nhược điểm.

- Là thuyết học cổ điển

nhưng đã nêu ra được quan

điểm về sự cần thiếu phải

cân đối thu chi trong Ngân

sách nhà nước

- Cân bằng ngân sách giúp

- Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, quan điểm

về ngân sách cân bằng không còn phù hợp vì mangtính quá tuyệt đối, không đảm bảo cho sự phát triểnkinh tế trong thời kì hiện đại

- Chỉ đúng trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa còn

sơ khai, hoặc trong điều kiện nền kinh tế rất giàu có,

7

Trang 8

duy trì tình thế ổn định của

nền kinh tế

ngân sách có đủ nguồn tài chính đảm bảo cho nhucầu chi tiêu hằng năm của nhà nước hoặc trong môitrường kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, không bị giới hạnbởi bất kì yếu tố nào như biên giới, hàng rào bảo hộ

- Quan điểm này khẳng định:Tổng số chi luôn phảibằng tổng số thu Tuy nhiên trong một số trường hợp,Thâm hụt hay Bội chi ngân sách là tốt Ví dụ: Thôngqua việc chi tiêu công, chính phủ có thể tạo ảnhhưởng lên tổng mức cầu và công ăn việc làm

- Việc cân bằng Ngân sách cả trong khâu lập dự toánlẫn trong khâu thực hiện là rất khó khăn

- Việc đảm bảo tổng số thu bằng tổng số chi trong cả

1 năm tài chính là việc hết sức khó khăn vì thu chiNgân sách nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau như: tình hình kinh tế, chính trị xã hội củamỗi quốc gia Do đó khó có thể đảm bảo được nộidung này

- Nhà nước không có vai trò thực sự trong việc đảmbảo cân đối thu chi của Ngân sách nhà nước, bởi vìNhà nước chỉ cần huy động đủ nguồn lực cho nhữngchi tiêu hạn hẹp của mình như hành chính, tư pháp,quốc phòng

- Khi nền kinh tế suy thoái, nếu muốn thực hiện chínhsách cân bằng tuyệt đối, nhà nước phải tăng thuhoặc giảm chi Tuy nhiên cả hai phương pháp trênđều kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và cànglàm cho nền kinh tế khó thoát khỏi suy thoái hơn

2 Quan điểm về ngân sách chu kì

2.1.Nội dung

Trang 9

Nền kinh tế trải qua một chuỗi dài các chu kì, mỗi chu kì gồm có 3 giai đoạn: phồn khủng hoảng- suy thoái Sự vận động có tính chu kì tự phát theo các quy luật kinh tế khách quan củathị trường là một biểu hiện bản chất của nền kinh tế thị trường Sự can thiệp của nhà nước chỉ có thểgiúp cho nền kinh tế không rơi vào trạng thái quá “ nóng” hoặc quá “ nguội” trong chu kì phát triểncủa nó, chứ không thể loại trừ hoàn toàn tính chu kì đó Bởi vậy, thu – chi Ngân sách nhà nước cũng

thịnh-có tính chu kì

Khi nền kinh tế ở giai đoạn phồn thịnh, của cải vật chất được tạo ra nhiều, năng suất lao động

xã hội cao, thất nghiệp ít Do vậy Ngân sách nhà nước có cơ sở để có thể huy động được số thuthuế lớn hơn so với nhu cầu chi tiêu Mặt khác, trong giai đoạn này cũng nên tăng thuế suất, giảm chitiêu, đầu tư vào những hoạt động không khủng hoảng Ngược lại, khi khủng hoảng xảy ra, nền kinh

tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất tạo ra giảm, năng suất lao động xã hội thấp, thấtnghiệp gia tăng… Thu Ngân sách nhà nước trong giai đoạn này sẽ khó khăn hơn Mặt khác, để kíchthích phục hồi kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội thì nhà nước cần phải giảm thuế và tăng chitiêu Kết quả, Ngân sách nhà nước sẽ bội chi Nếu vì ngại bội chi Ngân sách nhà nước, cố giữ cânđối ngân sách theo quan điểm cổ điển trên cơ sở hạn chế chi tiêu thì sẽ làm cho nền kinh tế khóvượt qua suy thoái hơn

Tóm lại : theo thuyết này sự cân bằng ngân sách nhà nước sẽ không duy trì được trong khuôn

khổ một năm mà sẽ duy trì trong khuôn khổ một chu kì kinh tế Nghĩa là, nguyên tắc cân đối giữa thu

và chi ngân sách nhà nước vẫn được tôn trọng nhưng sự cân bằng ngân sách nhà nước phải thựchiện trong một thời kì gồm nhiều tài khóa liên tục ứng với từng chu kì phát triển kinh tế Khi đó tìnhtrạng bội thu hay bội chi Ngân sách nhà nước trong từng tài khóa không hẳn là mất cân đối, chúng

có thể bù trừ cho nhau trong cả chu kì Tuy nhiên, mức bội thu hay bội chi, đặc biệt là bội chi, phảiđược khống chế trong một giới hạn nhất định mà Chính phủ có thể kiểm soát được Thực hiện cânbằng ngân sách nhà nước theo chu kì sẽ giúp nhà nước thực hiện được các chính sách kinh tế phùhợp với từng giai đoạn Theo quan điểm này, các nhà kinh tế đưa ra các phương pháp sau:

 Tạo lập quĩ dự trữ khi nền kinh tế đang phồn thịnh nhằm dự phòng cho những năm thiếu hụtcủa thời kì suy thoái, với điều kiện quĩ này phải sinh lời và không được chi tiêu khi không cầnthiết

 Khi nền kinh tế suy thoái, Nhà nước nên thực hiện chính sách thâm hụt để kích thích cho nềnkinh tế phục hồi và phát triển Khoản thâm hụt này sẽ được bù đắp lại bằng những khoản thặng

dư của thời kì phồn thịnh

2.2.Nhận xét ưu nhược điểm.

9

Trang 10

Ưu điểm Nhược điểm

- Giúp nhà nước thực hiện được các chính

sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn

- Vẫn tuân thủ nguyên tắc cân đối giữa số

thu và số chi trong Ngân sách nhà nước

- Ở giai đoạn phồn thịnh của nền kinh tế,

của cải vật chất tạo ra nhiều, nguồn thu vào

ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn nhu cầu chi

tiêu và ngân sách nhà nước thường ở tình

trạng bội thu Xem xét ngân sách nhà nước

theo chu kì giúp Nhà nước hạn chế việc sử

dụng số bội thu này chi tiêu vào những việc

không cần thiết

- Tạo lập quĩ dự trữ trong giai đoạn phồn

thịnh để dự phòng cho những năm thiếu hụt

của thời kì suy thoái

- Thực hiện thâm hụt ngân sách để kích

thích nền kinh tế phục hồi và phát triển

Khoản thâm hụt này được bù đắp lại bằng

những khoản thặng dư của thời kì phồn

thịnh

- Việc cân đối thu chi theo chu kìvẫn còn gặp nhiều khó khăn đểthực hiện

- Thực hiện cân bằng ngân sáchgiúp tình hình kinh tế ổn địnhnhưng sẽ làm cho nền kinh tế pháttriển chậm lại

- Muốn cho nền kinh tế phát triểnđạt mức tiên tiến của thế giới cầnphải biết chấp nhận thâm hụt ngânsách

3 Quan điểm về ngân sách thâm hụt.

3.1.Nội dung.

Vấn đền cân bằng ngân sách phải được giải quyết tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và sựảnh hưởng của chính sách thu, chi tài chính công tới nền kinh tế Theo quan điểm này, thì thâm hụtngân sách, tức số chi vượt số thu ngân sách trong năm tài chính, sẽ được thực hiện nhằm thúc đẩyhoạt động kinh tế đang trong tình trạng trì trệ Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách cố ý sẽ có thể mang lại

hậu quả nguy hại là gây ra lạm phát Nhưng những người ủng hộ thuyết này cho rằng “sự phục hồi

kinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát”.

3.2.Nhận xét ưu nhược điểm.

Trang 11

- Thúc đẩy hoạt động kinh tế đang trì

trệ sẽ làm nhẹ gánh nặng của ngân

sách

- Áp dụng phù hợp trong giai đoạn

kinh tế đang suy thoái , biện pháp tài

trợ thâm hụt ngân sách phù hợp :

giảm chi tiêu công, vay nợ ( vay nợ

nước ngoài ) , phát hành tiền

- Làm nhẹ gánh nặng NSNN đối với

khoản chi trợ cấp thất nghiệp

- Chính sách cố ý tạo ra sự mấy cân

đối của NSNN xét cho cùng chỉ là

một việc làm trước hạn, căn cứ vào

những việc chắc chắn sẽ xảy ra

trong tương lai Nhờ chính sách kích

cầu hiệu quả, kinh tế sẽ dần dần hồi

phục và khi đó nhà nước sẽ dần dần

cắt giảm chi tiêu Mặt khác , khi nên

kinh tế bước sang giai đoạn hưng

thịnh , thuế sẽ đánh một cách lũy

tiến Kết quả là tránh được nạn lạm

phát và NSNN sẽ cân bằng

- Hậu quả có thể gây ra lạm phát

- Vay nợ trong giai đoạn này chỉ nên vay

nợ nước ngoài còn việc vay nợ trongnước thực sự là không thích hợp (bởi vìnếu chính phủ huy động được nhiều tiềntrong dan thì đương nhiên phần tiền cònlại dành cho đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh của khu vực ngoài quốc doanh

sẽ giảm đi )

- Xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực cácdoanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi mộtnguồn vốn tương ứng có khả năng dànhcho đầu tư phát triển kinh tế Nếu các biệnpháp thu hút tiền vay của chính phủ vàngân hàng càng có lãi suất cao thì càngtạo ra luồn tiền vốn dịch chuyển từ cáckhu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệthông tài chính ngân mà không chảy vàosản xuất kinh doanh Do vậy vay trongnước để bù đắp thâm hụt ngân sách luônchứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của nền kinh tế

Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủthông qua con đường phát hành tráiphiếu, tín phiếu … bị chính bản thân giảipháp này cản trở ngay từ nguồn gốc

- Có thể gây tác động tiêu cực đến mọimặt đời sống chính trị, kinh tế và xã hội

4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách.

Nội dung : Các nhà kinh tế học cổ điển rất tôn trọng nguyên tắc một ngân sách duy nhất để

thuận tiện cho việc thiết lập, thi hành và kiểm soát ngân sách về sau

11

Trang 12

Trong khi đó, các nhà kinh tế học hiện đại lại cho rằng nên thực hiện hai ngân sách, có nghĩa làNSNN nên chia thành 2 bộ phân : ngân sách điều hành để đảm bảo hoạt động của guồng máy nhànước và ngân sách đầu tư để tham gia vào lĩnh vực sản xuất đặc biệt của nhà nước Ngân sách điềuhành sẽ thực hiện theo nguyên tắc “nhất niên” , còn ngân sách đầu tư có thể thực hiện theo nguyêntắc “đa niên”.

Về nguồn tài trợ, vì ngân sách điều hành không tạo ra thu nhập nên phải tài trợ bằng các khoản thukhông hoàn lại Trong khi ngân sách đầu tư có tạo ra thu nhập thì nên có thể được tài trợ bằngkhoản vay trong hay ngoài nước

Tóm lại: Nhận xét về chung về các quan điểm cân đối NSNN

Mỗi quan điểm về cân đối ngân sách có những khía cạnh, góc độ và thời điểm khác nhaunhưng đều cùng hướng tới vấn đề là làm sao cho ngân sách được cân bằng và được quản lý mộtcách hiệu quả

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì thuyết cổ điển về ngân sách cân bằng không cònphù hợp nữa vì quá tuyệt đối, chỉ đúng trong bối cảnh nền kinh tế hàng hóa còn sơ khai, hoặc trongđiều kiện nền kinh tế phải rất giàu có, ngân sách có đủ nguồn tài chính đảm bảo cho nhu cầu chi tiêuhàng năm của nhà nước hoặc trong môi trường kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, không bị giới hạn bởibất kì yếu tố nào như biên giới, hàng rào bảo hộ… Tuy nhiên, hiện nay thế giới vẫn chưa đạt tớicạnh tranh tự do hoàn hảo và bội chi ngân sách vẫn đang tồn tại như một hiện tượng bình thường ởnhiều nước trên thế giới Các thuyết hiện đại thì đưa ra những biện pháp mạnh hơn để đảm bảo cânđối ngân sách nhà nước

Trong điều kiện chuyển đổi và hội nhập như Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải lựa chọn

và vận dụng hợp lý các lý thuyết đó để đưa đất nước phát triển Đối với nền kinh tế đi lên từ nghèonàn lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu thốn, trình độ kĩ thuật công nghệ còn thấp kém thì đòihỏi nhà nước phải đứng ra cấp vốn quan trọng cho các chương trình đầu tư cấu thành sự nghiệpcông nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Điều này đồng nghĩa với việc triển khai chi tiêu nhiều hơnkhả năng thu từ nội bộ nền kinh tế và thâm hụt ngân sách là điều khó tránh khỏi Do đó, việc ưu tiênchiến lược là tất yếu Hoặc là, nhà nước chọn giảm thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát là mụctiêu chiến lược bao trùm tất cả các mục tiêu khác, tiến tới cân bằng ngân sách thì sẽ duy trì được thế

ổn định của nền tài chính nhưng con đường phát triển kinh tế bị chậm lại Hoặc là, lấy công nghiệphóa- hiện đại hóa làm mục tiêu trọng yếu để phát triển kinh tế, thì mục tiêu kiềm chế thâm hụt ngânsách phải đặt xuống hàng thứ yếu cho đến khi năng suất lao động xã hội tăng lên đạt tới mức tiếntiến của thế giới thì phải chấp nhận quan điểm thâm hụt ngân sách

Trang 13

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM

1 Quan điểm về cân đối NS ở Việt Nam hiện nay

1.1 Cân đối ngân sách một số nước trên thế giới

 Mĩ: từ khủng hoảng kinh tế (1929-1933) đến cuối những năm 60, kinh tế Mĩ phát triểm nhanh

chóng, Mĩ đã vận dụng học thuyết Keynes để phục hồi kinh tế, kiểm soát thu chi ngân sách mộtcách triệt để với việc tăng chỉ tiêu công cộng và đầu tư cho kinh tế phát triển bằng nguồn NSNN.Đến những năm 70-80 nền kinh tế Mĩ rơi vào tình trạng suy thoái, chính phủ Mĩ đã tiến hànhnhiều biện pháp như : cải cách thuế để đảm bảo nguồn thu ngân sách, cải cách chi tiêu NS phùhợp với điều kiệu KT-XH Nhưng khi Mĩ chi quá nhiều cho hậu quả của cuộc khủng bố 9/2001NSNN rơi vào tình trạng thâm hụt, và chi nhiều cho cuộc chiến tranh, kinh tế Mĩ thâm hụt kéo dài.Khi tổng thống Obama lên nắm quyền, Mĩ đã thực hiện một số biện pháp như : cắt giả chi phíchiến tranh bằng việc rút bớt quân từ Irap, chấm dứt chính sách miễn thuế tạm thời đối với người

có thu nhập trên 250.000 USD/ năm Với những biện pháp trên, NS Mĩ khắc phục được tìnhtrạng thâm hụt và trở về cân đối

 Nhật Bản: sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách để khôi phục

kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh Nhật Bản gia tăng tiết kiệm trong tiêu dùng, đầu tư pháttriển và giảm chi phí cho quân sự về sau chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp như : pháthành trái phiếu, tăng chi đầu tư, cắt giảm thuế để kích cầu…

 Trung Quốc : chính phủ cực kì chú trọng đến vấn đề cân đối NS trong phân cấp giữa chính

quyền TW và ĐP NSĐP thực hiện nguyên tắc lường thu để chi, cân đối thu chi, không có bội chi

NS, ĐP không được tiến hành phát hành trái phiếu, không chiếm dụng hoặc giữ lại vốn của NScấp trên

1.2 Cân đối NSNN Việt Nam

Chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế xã hội đã có những chuyểnbiến rõ rệt : tăng cường sự viện trợ nước ngoài, thu hút nhà đầu tư nước ngoài, khơi dậy sự năngđộng và tiềm lực kinh tế của Việt Nam, phát triển khoa học, kĩ thuật, công nghệ,… đã tác độngmạnh mẽ tới cân đối NS ở nước ta Tạo tính ổn định trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế

ở trạng thái cân bằng, ổn định

Tuy nhiên : những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu từ năm 2007, đã tác động

mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam, gây bất ổn cho nền tài chính đất nước,các nguồn viện trợ cũng

bị cắt giảm như ODA, thuế xuất nhập khẩu có thể bị thất thu vì vậu khi áp dụng quan điểm về NSthâm hụt Việt Nam vẫn gặp khó khăn nhất định

2 Thực trạng thu NSNN:

13

Trang 14

Nguồn thu của NSNN hiện nay chủ yếu trên 4 nội dung chính là: nguồn thu từ nội đị, thu từ hàngxuất nhập khẩu,thu viện trợ và thu từ dầu thô.

2.1 Thành tựu trong thu cân đối NSNN:

Theo đó tổng nguồn thu ngân sách của Nhà Nước có xu hướng tăng lên do Chính Phủ đã banhành và thực hiện nghị quyết 11 về việc chi tiêu công ngoài ra việc hạn chế các mặt hàng không cầnthiết.các mặt hàng xa xỉ bằng cách tăng thuế suất giúp cho nguồn thu NSNN tăng rõ rệt Cụ thể:

 Nguồn thu từ xuất khẩu và nhập khẩu đã có bước nhảy vọt từ mức 88.200 tỷ VNĐ trong năm

2009 đã ngày càng tăng trong các năm tiếp theo và lên mức 153.900 tỷ VNĐ trong năm 2012

 Không những nguồn thu từ xuất nhập khẩu tăng mạnh,nguồn thu nội địa cũng ngày càng tăngqua các năm.Từ mức 236.435 tỷ VNĐ,bộ phận này đã tăng tới 101,8% lên mức 477.106 tỷ VNĐtrong năm 2012 Xét về cơ cấu thu ngân sách, thu nội địa chiếm tỷ trọng cao trong tổng thuNSNN và có xu hướng tăng Thu NSNN từ các sắc thuế gắn trực tiếp với sản xuất, kinh doanhtrong nước như thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế giátrị gia tăng(GTGT) trong tổng thu NSNN ngày càng tăng Nhờ đó, thu nội địa (không kể dầu thô)trong tổng thu NSNN đã tăng từ 50,7% năm 2001 lên 61,5% năm 2011, ước đạt 62,9% năm

2012 và 66,3% năm 2013 Điều này cho thấy tác động hiệu quả của chính sách thu đến tháo gỡkhó khăn cho DN.Cụ thể:

- Thuế suất xuất khẩu tăng và mở rộng phạm vi thu đặc biết với các mặt hàng xa xỉ vàkhông cần thiết,đã góp phần làm hạn chế nguồn chi và tăng thêm nguồn thu từ hoạt độngxuát nhập khẩu

- Đối với thuế TNDN,thuế được áp dụng công bằng với doanh nghiệp trong nước và ngoàinước với mức thuế suất 22% cùng với các mức thuế suất ưu đãi khác như 10%,15% đãkhuyến khích tăng đầu tư trong nước và tăng nguồn thu từ thuế trong nội địa

- Thuế tiêu dùng (thuế GTGT) cũng được mở rộng về phạm vi thu thuế,áp dụng các mứcthuế suất 0%,5% và 10% ngoài ra qui định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào cũng nhưđiều kiện về khấu trừ đầu vào cxung được qui định chặt chẽ hơn giúp giảm hiện tượngcác công ty ma,khai không thuế GTGT đầu vào để hưởng hoàn thuế của NhàNước.Không những tăng nguồn thu của NSNN thông qua việc giảm tình trạng tránh,trốnthuế mà còn tránh tình trạng lợi dụng luật để hưởng lợi và bào mòn NSNN

 Chi tiêu công được cắt giảm cùng với việc tăng thu đã giúp giảm tỷ lệ bội chi của NSNN so vớiGDP,cụ thể là từ mức 6,9% trong năm 2009 chỉ còn ở mức 4,4% trong năm 2011.Tuy năm 2012con số này ở mức khá cao là 5,36% tuy nhiên vẫn là mức chấp nhận được do tình hình lạmphát và các tác đọng từ khủng hoảng kinh tế thế giới mang lại

Ngày đăng: 31/10/2023, 00:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÂN ĐỐI DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ NĂM 2009-2012 - Tiểu Luận - Tài Chính Công - Đề Tài - Các Quan Điểm Về Cân Đối Ngân Sách, Nêu Và Nhược Điểm Của Các Quan Điểm Trên. Việt Nam Hiện Nay Đang Áp Dụng Những Quan Điểm Nào Lấy Số Liệu Minh Họa
2009 2012 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w