Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của quy phạm pháp luật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH VÀ SO
SÁNH VỚI TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Giảng viên: Nguyễn Hoàng Vân
Lớp học phần: Quản trị Kinh doanh Quốc tế CLC 64C
Thành viên: Nguyễn Khánh Huyền – 11222910
Phạm Ngọc Khánh – 11223074 Trần Huyền My – 11224402 Đào Thị Minh Ngọc – 11224649 Phạm Hồng Nhung – 11225040
Đỗ Thu Thủy – 11226197
HÀ NỘI, THÁNG 01/2023
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN I TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH 4
1 Khái niệm .
4
2 Đặc điểm .
5
3 Đối tượng bị áp dụng
7
3.1 Người dưới 14 tuổi .
7
3.2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
8
3.3 Người từ đủ 16 tuổi trở lên
9
4 Hệ thống chế tài .
11
5 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
12
6 Thủ tục áp dụng .
13
PHẦN II SO SÁNH TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ……… 14
Trang 3KẾT LUẬN ……… 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 18
3
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Trong xã hội tiến bộ ngày nay pháp luật không chỉ là công cụ để điều chỉnh hành vi của cá nhân mà còn thể hiện ý chí của nhân dân, đem lại sự an toàn và hạnh phúc đến cho người dân Chính vì vậy nên các quy định của pháp luật được đông đảo người dân ủng hộ và tự giác thực hiện nghiêm minh Nhất là trong thời buổi nước ta mở cửa giao lưu văn hoá với thế giới đã dẫn đến hiện tượng giới trẻ
du nhập những nguồn văn hoá một cách vô tội vạ, không có chọn lọc dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc đi ngược với quy định và gia tăng tình trạng vi phạm pháp luật phạm pháp luật là một hiện tượng tiêu cực không chỉ đi ngược lại với lợi ích quốc gia mà còn xâm hại đến các mối quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo
vệ Chính vì vậy, trong mọi thời điểm tình hình vi phạm pháp luật của tội phạm luôn là vấn đề được Nhà nước ta quan tâm theo dõi và ra sức đấu tranh phòng chống và ngăn chặn Trước hết chúng ta cần hiểu những trách nhiệm mà chúng ta phải chịu khi vi phạm luật, những hành vi như thế nào bị coi là vi phạm pháp luật, phổ biến hơn cả là trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự Điều này đòi hỏi chúng ta phải có đầy đủ hiểu biết về vi phạm pháp luật thông qua nghiên cứu
và thực tiễn Phục vụ cho mục đích trên, em đã lựa chọn đề tài “Phân tích trách nhiệm hành chính và so sánh với trách nhiệm hình sự” Trong quá trình nghiên
cứu và học hỏi tuy đã có nhiều cố gắng nhưng bọn em vẫn không thể tránh được sai xót, mong nhận được những đóng góp từ thầy cô và các bạn
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, đối tượng, chế tài và thẩm quyền của trách nhiệm hành chính cũng như so sánh với trách nhiệm hình sự Nghiên cứu một cách có hệ thống các khái niệm cũng như các vấn đề lý luận để tránh vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân để đảm bảo trật tự xã hội và cho ví dụ cụ thể Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần phải giải quyết được những nhiệm vụ cụ thể sau: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận như: Khái niệm, đặc điểm, đối tượng, chế tài và thẩm quyền của trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự
Trang 5PHẦN I TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH
1 Khái niệm:
Trong giao tiếp ngôn ngữ hằng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo lĩnh vực và ngữ cảnh cụ thể; như trong lĩnh vực chính trị đạo đức, “trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa vai trò, bổn phận, mang tính tích cực, xuất phát từ ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối
với xã hội và đối với mọi người Còn trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa:
• Trách nhiệm là nghĩa vụ (nghĩa tích cực)
• Trách nhiệm là phải chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật, đó
là sự phản ứng, lên án của Nhà nước và xã hội đối với những chủ đề vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội
Trách nhiệm hành chính mà chúng ta tìm hiểu có thể được hiểu theo nghĩa thứ hai Để có căn cứ xác định thế nào là trách nhiệm hành chính, trước tiên chúng
ta cần phải biết thế nào là trách nhiệm pháp lý, vì trách nhiệm hành chính là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý theo lý luận chung, đó là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh; trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật
Từ những căn cứ trên ta có thể kết luận: Trách nhiệm hành chính là một
dạng của trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt động quản lý, hoạt động hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật hành chính Đó là sự áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính mang tính chất xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại được quy định trong những chế tài của quy phạm pháp luật hành chính, bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đối với những chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính
Trách nhiệm hành chính thể hiện sự phản ứng tiêu cực của cơ quan nhà nước đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính Kết quả là chủ thể đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, bị thiệt hại về tinh thần hoặc vật chất
Ví dụ: Người nào đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau sẽ bị phạt tiền
500.000 đồng đến 1.000.000 đồng Đây là hành vi vi phạm quản lí hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội
5
Trang 62 Đặc điểm:
a) Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính:
Để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, tổ chức nào đó thì cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý để làm căn cứ cho việc truy cứu
Về cơ sở thực tiễn: trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra với những chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Về cơ sở pháp lý: đó là những quy định của pháp luật hiện hành có liên
quan đến vi phạm pháp luật đó về trình tự, thẩm quyền, thủ tục để giải quyết những vụ việc đó
Vì thế, cần phải xác định cụ thể họ có thực hiện việc vi phạm hành chính trên thực tế hay không để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, bản chất là việc áp dụng các biện pháp, hình thức xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức đó
Người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính sẽ ra quyết định buộc các chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính thực hiện các biện pháp chế tài hành chính, đó là những biện pháp bắt buộc những đối tượng bị truy cứu trách nhiệm hành chính phải chịu những hạn chế về quyền tự do hoặc tài sản của họ
Cá nhân, tổ chức chỉ bị truy cứu trách nhiệm hành chính khi có đầy đủ cơ sở
để chứng minh được họ đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính và biện pháp chế tài hành chính áp dụng đối với họ phải có mục đích phạt vi phạm.
Ta rút ra được vi phạm hành chính chỉ là cơ sở chung để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm Vấn đề là các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có bị truy cứu trách nhiệm hành chính trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào việc thực hiện nhiều quy định pháp luật khác có liên quan
Để phân biệt được trách nhiệm hành chính với trách nhiệm hình sự cần phải xác định cụ thể chủ thể vi phạm hành chính
b) Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước Nhà nước:
Đó là việc cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính đã xâm phạm đến trật tự quản
lý nhà nước do Nhà nước thiết lập Vì vậy, Nhà nước buộc các cá nhân, tổ chức đó phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật tự quản lý hành chính
Trang 7nhà nước đã thiết lập Việc thực hiện biện pháp chế tài của các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính là trách nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải trước các chủ thể khác
c) Việc truy cứu trách nhiệm hành chính phải được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính:
Pháp luật hành chính của Nhà nước ta đã quy định cụ thể những người có thẩm quyền thực hiện hoạt động truy cứu trách nhiệm hành chính đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Hiện nay, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính được trao cho nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau nhưng những người được trao thẩm quyền này trước hết và chủ yếu vẫn là những người có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt, thẩm quyền trên cũng được trao cho Thẩm phán Tòa án nhân dân và Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự Ngoài ra, quá trình truy cứu trách nhiệm hành chính phải đảm bảo lựa chọn và
áp dụng đúng các biện pháp chế tài hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
Truy cứu trách nhiệm hành chính phải được tiến hành theo thủ tục hành chính
do pháp luật hành chính quy định
Truy cứu trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm hành chính nói riêng đều tác động trực tiếp đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng
có liên quan Vì vậy, khi tiến hành việc truy cứu trách nhiệm hành chính, các chủ thể có thẩm quyền bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thủ tục do pháp luật đặt ra, chẳng hạn: Người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính phải thực hiện các công việc theo đúng trình tự về thời gian, không gian của sự việc,… Như vậy thì mới đảm bảo có đầy dủ căn cứ cần thiết để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính một cách nhanh chóng, kịp thời trong thời hạn pháp luật quy định nhưng vẫn đạt hiệu quả cao
Ví dụ: Khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định nguyên tắc xử phạt
bao gồm:
- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị
xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
7
Trang 8- Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả
vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
- Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần,Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó,Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị
xử phạt về từng hành vi vi phạm;
- Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân
3 Đối tượng bị áp dụng trong trách nhiệm hành chính:
Trách nhiệm hành chính chỉ đặt ra đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
3.1 Người dưới 14 tuổi:
Những người dưới 14 tuổi được xếp vào nhóm không có năng lực trách nhiệm hành chính, tuy nhiên nếu nhận thấy có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét để đưa ra hình phạt
Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như sau:
“Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự”
Như vậy người chưa đủ 14 tuổi trong trường hợp thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự thì những chủ thể đó sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính là chịu giáo dục, quản lý tại nơi cư trú Thời hạn áp dụng biện pháp này được quy định tại khoản 2 điều 89 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn là từ 03 tháng đến 06 tháng
Trang 9Ngoài ra, về chủ thể từ đủ 12 đến dưới 14 tuổi khi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình
sự thì các chủ thể này sẽ phải chịu biện pháp xử lý đưa vào trường giáo dưỡng Thời hạn áp dụng biện pháp này được quy định tại Khoản 3 Điều 91 Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 quy định về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là từ 06 tháng đến 12 tháng
3.2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi:
Những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là những người chưa thành niên, được xếp vào nhóm những người có năng lực trách nhiệm hành chính hạn chế Những chủ thể này sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi khi thực hiện những hành vi có tính chất cố ý Việc cố ý phạm lỗi được hiểu là chủ thể thực hiện hành vi vi phạm là người có năng lực điều khiển hành vi, nhận thức, nhận thấy hậu quả và mong muốn điều đó xảy ra
Về trách nhiệm hành chính mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải gánh chịu khi cố ý thực hiện những hành vi vi phạm hành chính cũng có một số biện pháp tương tự với xử lý người vi phạm từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi Ngoài ra với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi vi phạm hành chính có thể bị áp dụng xử lý những hình phạt chính được quy định trong Luật
xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cụ thể là biện pháp cảnh cáo Khi xử phạt theo hình thức cảnh cáo thì các cán bộ, công chức có thẩm quyền phải lập biên bản đi kèm
Lưu ý: Không áp dụng hình thức xử phạt tiền cho những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Việc này được quy định rõ ràng tại Khoản 3 Điều 134 Luật xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 đó là: “Trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến duới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền”.
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, như vậy khi xem xét mức độ vi phạm và căn cứ vào các biện pháp xử lý, áp dụng trách nhiệm hành chính theo quy định thì các cơ quan có thẩm quyền xét xử có thể áp dụng biện pháp thay thế xử lý bao gồm: Nhắc nhở; quản lý tại gia đình
Hai biện pháp này được quy định cụ thể tại Điều 139 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về nhắc nhở và Điều 140 luật này quy định về quản lý tại gia đình
9
Trang 103.3 Người từ đủ 16 tuổi trở lên:
Những người từ đủ 16 tuổi trở lên được xếp vào nhóm có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ Những chủ thể này sẽ phải gánh chịu trách nhiệm hành chính cho mọi hành vi vi phạm hành chính của mình mà không cần phải căn cứ vào ý chí chủ quan của người đó
Trong nhóm đối tượng này được chia làm hai nhóm, là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 18 tuổi trở lên
Với những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính nhẹ hơn những người từ đủ 18 tuổi trở lên, cụ thể căn cứ theo Khoản 3 Điều 134 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về nguyên tắc xử lý: “Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền không quá ½ mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên, trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay”
Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác:
a) Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đối tượng áp dụng:
- Người từ đủ 12 đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
- Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan,
tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự